Thử nhận xét về An Nam Đại quốc họa đồ

(ĐCSVN)  Tác giả Nguyễn Đình Đầu là nhà sưu tầm và nghiên cứu bản đồ có tiếng ở Việt Nam. Bài viết này của ông được in trên tạp chí Xưa và Nay số 339 (9-2009) với lời tòa soạn cho biết: Tên bản đồ này được ghi trang trọng bằng chữ Hán, bằng chữ Quốc ngữ như nêu trên và dịch ra tiếng Latinh Tabula Geographica imperii Anamitici. Nguyên bản họa đồ khá lớn, ngang 40cm, dọc 80cm, ấn hành theo cuốn Nam Việt dương hiệp tự vị (Dictionarium Anamitico – Latinum) mà tác giả là Giám mục Teberd, xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) năm 1838. Khi đăng lại, chúng tôi lược bỏ một số đoạn.

Đại Nam nhất thống toàn đồ (1840)*

Bản đồ An Nam Đại quốc họa đồ (ANĐQHĐ) là một công trình đặc sắc của Taberd. Tới thời gian xuất bản năm 1838, nước ta chưa từng có một bản đồ lớn rộng và ghi chép khá đầy đủ địa danh như họa đồ này. Ta hãy phân tích và so sánh với bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (ĐNNTTĐ) (1840), một bản đồ chính thức của triều Minh Mạng. Nói chung, đường nét bờ bể biển Đông và biên giới phía tây cận kề sông Mêkông, thì ĐNNTTĐ chính xác hơn ANĐQHĐ tuy chưa có căn cứ vào kinh tuyến và vĩ tuyến. Có lẽ ĐNNTTĐ đã tham khảo nhiều bản đồ khác nhau của các nhà hàng hải và địa lý Âu tây. Địa danh của ĐNNTTĐ đều ghi bằng Hán văn, còn ANĐQHĐ thì ghi bằng Quốc ngữ Latinh, cả địa danh hành chính và tục danh, lại thêm những địa danh do ngoại quốc đặt ra. Thí dụ: Núi Thạch Bi (Hán văn) có tục danh là Mũi Nại (Nôm) và Tây phương là Cap Varella. Bản đồ ĐNNTTĐ ghi các địa danh đã cập nhật đương thời: 29 tên tỉnh, 47 tên hải môn hải đảo, 25 địa danh vương quốc và vùng phụ thuộc. Tổng cộng khoảng 92 địa danh. Riêng hình vẽ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Vạn lý Trường Sa thì vẽ giống hệt các bản đồ Tây phương và đặt sát bờ bể Quảng Nam – Khánh Hòa hơn. Trên điểm địa lý này, ta thấy trong 4 thế kỷ XVI – XVII – XVIII – XIX các bản đồ thế giới Tây phươngđều ghi vẽ quần đảo Paracel hay Pracel (Hoàng Sa và Trường Sa) ở giữa Biển Đông và bờ biển Paracel (Costa da Paracel) luôn đặt ở bờ biển Quảng Nam – Khánh Hòa. Chúng ta chưa hề thấy một bản đồ thế giới nào ghi bờ biển Paracel là ở nam Trung Hoa, ở Phi Luật Tân hay ở Mã Lai. Bản đồ chính thức của Việt Nam ĐNNTTĐ hoàn toàn thống nhất với các bản đồ thế giới trong suốt 5 thế kỷ qua, chủ yếu về địa lý Hoàng Sa – Trường Sa.

Bản đồ ANĐQHĐ – thường gọi là Bản đồ Taberd 1838 – ghi tới khoảng 505 địa danh bằng Quốc ngữ Latinh hoặc tiếng Latinh. Như chính giữa bản đồ Taberd ghi chữ lớn: An Nam quốc seu (hay là) Imperium Anamiticum. Cả Việt Nam khi ấy chia ra: Gia Định Phủ (sau là Nam kỳ), Cocincina interior seu (hay là) An Nam Đàng Trong, Cocincina exterior seu (hay là) Đàng Ngoài hoặc Tunquinum. Các tiểu vương quốc phụ thuộc phía tây thì có: Nam Vang trấn, Miền Lào seu (hay là) Regio Laocesis, Vạn Tượng quốc, Viên Chăn, Mường Long Pha Ban. Theo bản giải lược (Legenda) dịch từ tiếng Việt sang Latinh, Pháp, Anh, ta thấy Taberd ghi trên bản đồ khá nhiều loại địa danh. Trên thềm lục địa và biển Đông tập trung nhiều địa danh nhất: tên các cửa biển, mũi, vũng, cù lao, hòn, rất phong phú và chính xác. Danh mục ghi từ Bắc vào Nam.

An Nam Đại quốc họa đồ

Các (cửa biển) (hải khẩu): Úc, Thái Bình, Hộ, Trà Lý, Lân, Biện, Xiên, Thước, Lác, Triều, Hòn Nê, Bích, Bằng, Hàn Hồn, Thai, Tro, Gianh, Đồng Hới, Tùng, Đại Quảng Ngãi, Sa Huỳnh, Kim Bồng, Tà Phú, Chợ Giả, Giã, Mái Nhà, Đà Rằn, Bàn Thạch, Hòn Khoe, Cam Ranh, Ô Trạm, Lấp, Cần Giờ, Đồng Tranh, Soi Rạp, Tiểu, Đại, Băng Côn, Cổ Chiên, Vàm Rây, Chà Vang, Ba Thắc, Mỹ Thanh, Gành Hàu, Bồ Đề, Lớn, Ông Đốc, Cây Quao, Rạch Giá, Cần Vọt (nay thuộc Campuchia). Cộng là 57 cửa biển.

Mũi đất nhô ra biển thì có: Con Hùm, Lâm Châm, Thống Bình, Sa Kỳ, Sung, Nại (Varella), Cây Sung, Đá Vách, Din, La Gan, Vi Nê, Kê Gà, Bà Kéc, Thùy Vân, Vũng Tàu, Ông Đốc (Cà Mau). Cộng 16 mũi.

Các vũng (vịnh) có: vịnh Vạn Ninh, vũng Đam, vũng Nước Ngọt, vũng Nha Ru, vũng Phan Rí. Cộng là 5 vũng và vịnh.

Có các cù lao: Tin Cậy, Chăm, Ré (Pulo Canton), Xanh (Cambir), Cau (Pulo Cecir Terrae), Thu (Pulo Cecir Maris), Côn Nôn (Pulo Condor), Phú Quốc. Cộng 8 cù lao.

Các hòn nhỏ hơn cù lao có: Ngũ, Hội Thông, An Đâu, Cỏ, Hành, Sơn Chà, Nan, Bàn Than, Lang (Bulati), Đá Khoan, Đồi Mồi, Khói, Tre (Khánh Hòa), Nồi, Tranh, Bà, Khoai (Pulo Ubi), Thổ Châu (Pulo Panjang), Cổ Lôn, Con Ráy, Đất, Tre (Kiên Giang). Cộng 12 hòn. Còn nhiều hòn chưa ghi tên ta như: Insula Piraturium, I.Margaritarum, Septentrionisvia, Luzcinia, Sovel, Auztri Vigilia, Holland Arenaria, Brittos Arenaria, G.Catwich, Pulo, Sâpto, Fratres.

Bản đồ Velho (1580)**

Tóm lại, sau khi phân tích một số địa danh tiêu biểu, ta có thể nhận định về ANĐQHĐ trên mấy đặc điểm dưới đây:

1) Taberd ghi chép địa lý lịch sử Đàng Trong kĩ hơn Đàng Ngoài (số lượng địa danh Đàng Trong phong phú hơn Đàng Ngoài). Địa danh phủ Gia Định bao hàm toàn địa bàn Nam bộ, đã chuyển đổi thành trấn Gia Định từ năm 1802, nhưng Taberd vẫn ghi dạng hành chính cũ. Long Xuyên đạo (Cà Mau) đổi thành Long Xuyên huyện năm 1808, nhưng Taberd không cập nhật và còn ghi nhầm tên một con sông lớn là sông Xuyên Đạo.

2) Taberd ghi chép địa danh và địa bàn 28 trấn theo sự phân bố của thời Gia long. Năm 1832, Minh Mạng đổi 28 trấn cũ thành 29 tỉnh mới. Một số tỉnh được đổi cả danh xưng. Thí dụ: trấn Vĩnh Thanh chia thành 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang. – về hải khẩu Taberd ghi đến 54 tên cửa biển. Những tên này đều nằm trong danh sách 143 hải khẩu của Duyên hải lục do Gia Long thống kê năm 1817.

3) Về dạng thức bản đồ, Taberd vẽ theo các bản đồ Tây phương cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến. Nhưng khi ghi địa danh, Taberd sử dụng chính thức tài liệu của Việt Nam. Hầu như ông chỉ phiên âm từ Hán Nôm sang Quốc ngữ Latinh của những bản đồ do Quốc sử quán đương thời cung cấp. Ông cũng ghi thêm địa danh mà người nước ngoài đặt để trước khi biết đến địa danh thực tế của ta. Xin lấy thí dụ: Pulo Panjang seu (hay là) Thổ Châu – Pulo Ubi – Hòn Khoai. – Pulo condor seu (hay là) Côn Nôn – Tức Khmàu seu (hay là) Cà Mau – Mũi Vịnh Tàu seu (hay là) S.Jacobi prom. –Cù lao Xanh seu (hay là) Cambir. – Hòn Lang seu (hay là) Bubati Insula. – Cù lao Ré (hay là) Pulo Canton.v.v.. – Ở ngoài khơi Biển Đông gần vĩ tuyến 16 và kinh tuyến 112 có ghi Parêcl seu (hay là) Cát Vàng. – Gần Cửa Tùng có ghi Hòn Cỏ – Tigris insula. – Còn một số địa danh theo tiến Tây phương chưa tìm ra địa danh tiếng Việt, như đã nói ở trên. Cách ghi chú địa danh trong và ngoài nước của Taberd giúp việc nghiên cứu những bản đồ cổ xưa Tây phương tìm hiểu đất nước Việt Nam.

4) Đại danh của ta thường có hai hình thức: địa danh hành chính và tục danh. Thí dụ: Biên Hòa là địa danh hành chính có tục danh là Đồng Nai; Gia Định là địa danh hành chính có tục danh là Sài Gòn; đảo Lý Sơn là địa danh hành chính có tục danh là Cù lao Ré…Taberd đã ghi những địa danh hành chính cho các trấn và các đơn vị hành chính lớnđể tránh sự nhầm lẫn, nhưng đã ghi rất nhiều tục danh nôm na cho gần bàn dân thiên hạ, như Cái Mơn, Cái Nhum, Nhà bè, Đất Đỏ, Vườn Tràm, Lái Thiêu, Hòn Nổi, Hòn Tre, Vũng Gù…Đặc biệt với quần đảo giữa Biển Đông có địa danh hành chính là Hoàng sa (chữ Hán), Taberd đã ghi tục danh là Cát Vàng (Nôm) mà người Tây phương gọi là Paracel. Địa danh Cát Vàng là tiếng Việt chỉ có ở Đại Việt xưa và Việt Nam nay, không thể ở đâu khác.

Tóm lại, mặc dầu việc ghi địa danh có vài lỗi nhỏ như Long Xuên đạo thành Sông Xuyên đạo hay Xương Tinh (Nước Stiêng) thành Tinh Xương, ANĐQHĐ của Giám mục Taberd đích thực là một giá trị lịch sử mà không một đồ bản đương thời nào sánh kịp./..

__________________

*Đã bỏ lối vẽ truyền thống Á đông xưa, mà theo phương pháp đồ bản Tây phương khoa học hơn. Nhìn chung, bờ biển hình cong như chữ S, giống hệt như bản đồ hiện đại vẽ trên các đường kinh tuyến và vĩ tuyến. Đặc biệt trên Biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Vạn Lý Trường Sa, vẽ thành một khối dài gồm nhiều đảo nhỏ. Hình dáng khối đảo này cũng giống hình dáng quần đảo Paracel mà các bản đồ Tây phương từ thế kỷ thứ XVI ghi chép về Biển Đông và đất nước Việt Nam. Như vậy, Đại Nam nhất thống toàn đồ rất ứng hợp với các bản đồ thế giới suốt bốn thế kỷ.( Chú thích dưới bản đồ)

**Trích Bản đồ vô danh thế giới (1560) theo Bartholomeu Velho, riêng phần biển Đông và đất nước Việt Nam – khi ấy được ghi là Quachym tức Giao Chỉ. Các bản đồ Tây phương đương thời cho tới thế kỷ XVII thậm chí thế kỷ XVIII mới vẽ đúng bờ biển từ Mũi Cà Mau tới Cù Lao Chàm mà thôi. Hầu hết các bản đồ Tây phương đều ghi vẽ khối quần đảo Paracel hay Pracel (Hoàng Sa) kéo dài xuống Nam gồm cả quần đảo Vạn Lý Trường Sa. Bản đồ này ghi rõ bờ biển Hoàng Sa( Costa da Pracel) là ở Việt Nam.(Chú thích dưới bản đồ).

***Bản điện tử của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

(Theo Tạp chí “Xưa và Nay”)
cpv.org.vn

Advertisements