Sai lầm của Trung Quốc trong tranh chấp ở Biển Đông

Những hoạt động quân sự thường xuyên của Trung Quốc đặc biệt tại các khu vực ở Biển Đông đã gây nên những lo lắng cho các quốc gia Đông Nam Á. Điều này dẫn đến việc các quốc gia có tranh chấp đối thoại trực tiếp với Trung Quốc đi đến hợp tác với nhau để đối phó với các chiến lược của Bắc Kinh.

Các quốc gia ASEAN vừa đón tiếp Trung Quốc vừa e dè quốc gia láng giềng này. In-đô-nê-xi-a lần đầu tiên (ngày 8/7/2010) đã gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc phản đối “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đưa ra dù rằng nước này không hề có liên quan đến tranh chấp các đảo ở Hoàng Sa hay Trường Sa.

Theo Reuters, năm 2011, Trung Quốc tăng ngân sách quân sự 12,7% lên 91,5 tỷ USD, gấp 7 lần so với năm 1999 và gần bằng Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) của Việt Nam. Ngoài việc tăng chi phí quân sự, các đơn vị dân sự liên quan đến biển cũng được tăng cường và có tầm hoạt động ngày càng xa bờ. Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đã sẵn sàng chi nhiều tỷ USD cho chiến lược biển và sẵn sàng duy trì lực lượng quân sự lớn phục vụ chiến lược này.

Trong tất cả các mục tiêu khi đề ra chiến lược tại Biển Đông, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đều nhận định khu vực này như là một Vịnh Arập thứ hai với trữ lượng dầu mỏ hàng chục tỉ tấn. Vì vậy Trung Quốc không thể đứng ngoài cuộc. Trung Quốc dựa trên khái niệm mơ hồ về “vùng nước lịch sử” mà đưa ra bản đồ đường lưỡi bò khoanh vùng biển mà Trung Quốc cho là của nước này, phớt lờ Công ước về Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc.

Nhưng những tính toán mang tính chiến lược đó liệu có thực sự hiệu quả trên thực tế? Đầu tiên có thể thấy khu vực có dầu khí chủ yếu nằm ở phía nam và rìa của đường lưỡi bò. Các khu vực này rất gần đất liền của các quốc gia Đông Nam Á nên có thể thấy việc duy trì lực lượng bảo vệ ở đây với các quốc gia này là khá dễ dàng. Ví dụ điển hình khi các tàu Trung Quốc có hoạt động tại khu vực gần bờ biển Philíppin thì ngay lập tức lực lượng không quân nước này sẵn sàng bảo vệ để tàu nghiên cứu của mình tiếp tục hoạt động.

Trong khi đó, Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân và không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực xa hơn nằm ở phía Nam Biển Đông. Theo tính chất địa chất khu vực này, vùng phía Bắc của Biển Đông do sụt lún trong Kỷ Đệ Tứ quá nhanh nên không thể hình thành được dầu khí.

Khu vực phía Nam lý tưởng hơn với các nguồn dầu khí chủ yếu nằm trong các khối đá gốc granit với tầng chắn là trầm tích Oligocene và Miocene. Các dạng dầu khí này cũng thuộc dạng rất khó khai thác và nhiều công ty dầu khí đã phải rút lui, nhất là với các lô dầu khí nằm ở phía Bắc của khu vực này. Không chỉ có vậy mà theo các nghiên cứu của các quốc gia trong khu vực thì trữ lượng dầu khí tại khu vực này đang có dấu hiệu sụt giảm. Các công ty dầu khí lớn của các quốc gia này đã bắt đầu phải tìm kiếm nguồn dầu khí mới tại các quốc gia xa xôi như châu Phi hay châu Mỹ để đáp ứng nhu cầu tăng cao của nền kinh tế. Do đó, có thể nói chiến lược độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc vì dầu khí là hoàn toàn vô căn cứ và không hề có triển vọng thật sự. Không những Trung Quốc không có được nguồn lợi này mà còn càng trở nên khó khăn khi tiếp cận các nguồn tài nguyên của các quốc gia trong khu vực như trường hợp Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc bị từ chối đầu tư khai thác tại đây.

Chính sách ngoại giao Trung Quốc luôn được nhắc đến với cụm từ “phát triển hòa bình” với chia sẻ Trung Quốc từng là nạn nhân của đế quốc. Nhưng dường như các quốc gia lân cận đặc biệt như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á đang càng ngày càng cảm thấy quan ngại trước sự đầu tư lớn của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự. Cùng với nhiều tuyên bố và hành động, người ta đang thấy hình ảnh của một đế quốc đang hình thành bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và đang chuyển sang lĩnh vực quân sự.

Các quốc gia có vốn đầu tư trực tiếp (FDI) của Trung Quốc như các quốc gia Đông Nam Á và châu Phi bắt đầu dè dặt hơn với các khoản đầu tư bắt nguồn từ Trung Quốc với lo ngại tham vọng chính trị của các khoản tiền này.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm nhận định rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá bất chấp các lời lẽ mềm dẻo từ phía giới ngoại giao trong chính quyền Bắc Kinh. Cùng với việc bắt tay chặt chẽ với Pakixtan, một lần nữa Trung Quốc lại đẩy Ấn Độ vào thế phải phòng ngừa và không loại trừ khả năng Ấn Độ sẽ đẩy mạnh việc ủng hộ các lực lượng ly khai tại Tây Tạng và nhích lại gần hơn với Mỹ.

Như vậy, với quyết định tăng cường sức mạnh quân sự và đe dọa các quốc gia lân cận, chắc chắn hình ảnh “phát triển hòa bình” của Trung Quốc sẽ được thay bằng hình ảnh một đế quốc mới muốn thể hiện sức mạnh của mình. Điều này chưa chắc đã có lợi cho sự phát triển trung và dài hạn của Trung Quốc.

Với yêu sách ngày càng lớn, Trung Quốc đang khiến các quốc gia Đông Nam Á càng ngày càng nỗ lực trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông. Việt Nam và Ma-lai-xi-a đã đưa ra kiến nghị chung về đường cơ sở năm 2009 và Philíppin cũng phản đối đường lưỡi bò của Trung Quốc lên Liên Hiệp Quốc năm 2011.

Theo xu thế này, các quốc gia Đông Nam Á với tinh thần xây dựng một cộng đồng chung sẽ có thể nhanh chóng đề xuất và đạt được thỏa thuận về vùng biển chung cho khu vực Đông Nam Á. Nếu đề xuất này thành hiện thực, Trung Quốc thực sự sẽ bị cô lập trong vấn đề Biển Đông và thường xuyên phải đối phó với lực lượng tuần tra chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo kịch bản này, nếu các tàu của Trung Quốc gặp khó khăn khi hoạt động tại khu vực có giao thương bậc nhất này thì không những Trung Quốc không có được nguồn dầu khí tại đây mà ngay cả đường nhập khẩu dầu mỏ chủ yếu vốn phải đi qua khu vực này cũng có khả năng bị gián đoạn, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của chính quốc gia này.

Sai lầm này gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của khu vực và của chính bản thân Trung Quốc. Rất đáng tiếc là chiến lược này vẫn đang tiếp tục được thi hành với mức độ ngày càng gắt gao. Nhưng các nước trong vòng tranh chấp không dễ chấp nhận khuất phục Trung Quốc.

Như vậy, có thể nói, mong muốn lớn nhất về dầu khí của Trung Quốc chắc chắn sẽ khó đạt được. Ngoài ra khoản tiền đầu tư khổng lồ cho chiến lược biển cùng với chi phí duy trì lực lượng hải quân nhằm kiểm soát các khu vực quá xa căn cứ sẽ là gánh nặng khổng lồ cho ngân sách Trung Quốc. Không những thế, Trung Quốc tự đánh mất hình ảnh “phát triển hòa bình” đã xây dựng trong nhiều năm qua bằng những yêu sách phi lý dựa trên các chứng cứ không được công nhận và thái độ gây căng thẳng cùng với ngân sách quốc phòng tăng cao. Sự thay đổi này có thể sẽ khiến các quốc gia lân cận quan ngại, và đặc biệt các nước Đông Nam Á sẽ nhanh chóng tập hợp thành một khối nhằm đối phó với Trung Quốc.

Theo BBC

Hương Trà (gt)
nghiencuubiendong.vn

Advertisements