Trung Quốc – Tham vọng bá quyền Biển Đông: Bài 2: Lộ rõ âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới

Lịch sử Trung Quốc và thế giới minh chứng rõ ràng lãnh thổ của Trung Quốc về phía Nam chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam là hết. Thế nhưng, với tham vọng bá quyền độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc đã không ngần ngại tiến hành những bước đi hết sức phi lý mang tính hệ thống – hòng đạt mục tiêu xâm lấn bành trướng lãnh thổ. Mục tiêu phi pháp và trái đạo lý ấy của Trung Quốc dĩ nhiên phải gắn liền với âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới, xâm phạm chủ quyền hợp pháp của các quốc gia khác trong khu vực.

Tàu của cảnh sát biển Việt Nam

Bất chấp luật pháp quốc tế, bôi xóa lịch sử

Cho đến gần đây, Trung Quốc bắt đầu tuyên bố yêu sách chủ quyền vô lý đối với gần như toàn bộ Biển Đông và liên tục có những hành động gây hấn sai trái. Tình hình bất thường đó khiến không ít tổ chức, cá nhân kể cả phía Trung Quốc và cộng đồng thế giới lo ngại. Đã có nhiều sự quan tâm ở khắp nơi, tìm hiểu, nghiên cứu, đưa ra những sự thật lịch sử cho thấy sự phủ nhận hòan tòan yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc, đồng thời khẳng định chủ quyền hợp pháp không thể chối cãi của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự thật lịch sử chỉ có một, mọi ngụy biện của Trung Quốc không thể bôi xóa, xuyên tạc hay bóp méo vì mục đích bành trướng lãnh thổ hiện nay.

Sự thật là hàng trăm bản đồ cổ của Trung Quốc và bản đồ quốc tế đều cùng chỉ rõ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Cho đến tận năm 1904, bản đồ “Hoàng Triều Trực Tỉnh Địa Dư Toàn Đồ” thời nhà Thanh vẫn còn ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Nhiều tài liệu lịch sử của Trung Quốc, trong đó có cả bản đồ Trung Hoa Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ phát hành vào năm 1894 và quyển “Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư” (trang 241) phát hành năm 1906, tất cả đều khẳng định  lãnh thổ Trung Quốc phía Nam chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Bởi vậy, ngày 28-3-2014, tại Berlin, Thủ tướng Cộng hòa Liên bang Đức Angela Merkel đã công khai tặng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tấm bản đồ China Proper (Trung Quốc đích thực) do nhà bản đồ học người Pháp Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ dựa trên các cuộc khảo sát địa lý mà các nhà truyền giáo Dòng Tên thực hiện trước đó, được một nhà xuất bản ở Đức xuất bản năm 1735.  Trên tấm bản đồ này cho thấy rõ lãnh thổ Trung Quốc không hề có Hoàng Sa và Trường Sa, vì hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đó là một trong rất nhiều dẫn chứng thể hiện rằng lịch sử thế giới luôn ghi nhận đúng sự thật Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, hai quần đảo này không liên quan gì đến chủ quyền của Trung Quốc. Và mới đây nhất, lại vừa thêm một bằng chứng lịch sử đặc biệt có giá trị pháp lý được công bố, tố cáo yêu sách chủ quyền bất chấp lịch sử của Trung Quốc. Ngày 13-5-2014, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam vừa tiếp nhận bản đồ Atlas Thế giới xuất bản năm 1827 khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Là một quốc gia đã tham gia ký kết, công nhận Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, Trung Quốc thừa hiểu rằng theo luật pháp quốc tế, một quốc gia muốn xác lập chủ quyền lãnh thổ trên biển và hải đảo phải hội đủ 3 điều kiện, đó là: phải có sự thực thi chủ quyền của Nhà nước; thực thi chủ quyền một cách liên tục, lâu dài, hòa bình; và được sự thừa nhận của các quốc gia duyên hải – đặc biệt là các quốc gia tiếp cận và đối diện. Theo luật pháp quốc tế, ngày nay tất cả các cuộc xâm chiếm lãnh thổ bằng vũ lực như Trung Quốc đã và đang tiến hành đều bị coi là bất hợp pháp nên không có giá trị pháp lý để xác lập chủ quyền lãnh thổ. Vậy nhưng, nhằm phục vụ cho mưu đồ đòi hỏi chủ quyền một cách vô lý trên Biển Đông, gần đây Trung Quốc đã cố tình dựa vào các tài liệu mơ hồ của các nhà du hành, thám hiểm để mạo nhận về chủ quyền của họ. Đơn cử như việc có một đòan thuyền của một nhân vật có tên là Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua Biển Đông để hướng về Ấn  Độ Dương, không hề ghé lại các đảo hay quần đảo của Việt Nam, nhưng nay Trung Quốc vẫn sẵn sàng vin vào đó làm cơ sở rêu rao một cách méo mó rằng họ đã chiếm đóng  quần đảo Hòang Sa từ thế kỷ XV. Các bản đồ mà Trung Quốc trưng ra cho cái gọi là “bằng chứng lịch sử” của họ không phải là bản đồ chính thức của các triều địa phong kiến Trung Quốc. Và dĩ nhiên, theo công pháp quốc tế, những tư liệu đánh tráo bản chất lịch sử như vậy của Trung Quốc không thể là căn cứ để chứng minh chủ quyền và sự kiểm sóat chính thức của Trung Quốc tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tóm lại, trong suốt chiều dài hàng ngàn năm lịch sử cho đến đầu thế kỷ XX, tài liệu chính sử Trung Quốc chưa bao giờ cho thấy chủ quyền của quốc gia này đối với các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Tất nhiên, càng không bao giờ có cái gọi là “vùng nước lịch sử” bao chiếm gần trọn Biển Đông mà gần đây Trung Quốc bỗng nhiên tùy tiện tuyên bố như “ao nhà” của họ. Đến giữa thế kỷ XX, Trung Quốc bắt đầu bộc lộ tham vọng trỗi dậy bành trướng lãnh thổ vô độ trên biển, liên tục đòi hỏi chủ quyền phi lý không chỉ đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà còn âm mưu độc chiếm Biển Đông (họ gọi là Biển Hoa Nam). Thế nhưng, Trung Quốc lại không thể đưa ra được cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào đáng tin cậy.

Yêu sách chủ quyền “đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông cùng những hành động nguy hiểm có hệ thống, Trung Quốc đã lộ rõ âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới – bá quyền ở Biển Đông

Dùng bạo lực để thay đổi hiện trạng

Do kinh tế phát triển nhanh trong mấy thập kỷ qua, nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng có hạn khiến Trung Quốc chẳng khác nào trở thành “con rồng đói” khát dầu, thiếu nguyên nhiên liệu, trở thành nước nhập khẩu dầu mỏ đứng thứ 2 thế giới. Trung Quốc đang vươn ra khắp nơi để tìm kiếm và khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản, năng lượng để bảo đảm nhu cầu phát triển. Biển Đông là nơi có khoảng 70% lượng dầu khí nhập khẩu đi qua, Trung Quốc coi đây là “con đường sinh mệnh”. Năm 1995, Trung Quốc đưa ra “Chiến lược khai thác biển” với mục tiêu trở thành một cường quốc về biển có khả năng kiểm soát và khống chế đường biển, khai thác tài nguyên biển. Thực tế cho thấy Trung Quốc đã lộ rõ những biểu hiện “ngoại giao đi trước, hải quân đi sau” để hướng ra Biển Đông – nơi giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng các nước lớn không còn căn cứ quân sự trong khi các quốc gia liên quan đều là nước nhỏ. Với tham vọng vươn lên thành siêu cường số một thế giới trong vài ba thập kỷ tới, Trung Quốc đồng thời cho thấy những biểu hiện xâm lấn bành trướng lãnh thổ đầy nguy hiểm một cách có hệ thống. Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam là quốc gia đã chiếm cứ, quản lý, khai thác công khai, liên tục, lâu dài và hòa bình ít nhất từ thế kỷ XVII cho đến nay, nên theo luật pháp quốc tế, Việt Nam có đủ điều kiện xác lập và hành xử chủ quyền của mình trên hai quần đảo này –  nhưng bất chấp, Trung Quốc tiếp tục “kế thừa, phát triển” sự cưỡng đọat chiếm đóng bất hợp pháp bằng biện pháp dùng vũ lực của mình.

Từ chỗ bắt đầu “dòm ngó” Biển Đông mới chỉ vào đầu thế kỷ XX, đến nay Trung Quốc thô bạo dùng sức mạnh từng bước xâm chiếm và tiến tới áp đặt nhằm hiện thực hóa yêu sách trên tòan bộ vùng biển này, tạo dựng tranh chấp với một lọat quốc gia trong khu vực. Có thể xâu chuỗi lại những bước xâm chiếm lãnh thổ mà Trung Quốc đã thực hiện trên Biển Đông. Năm 1909 Trung Quốc chỉ mới ra “thám thính” Hoàng Sa; năm 1948 Trung Quốc bắt đầu tùy tiện vẽ và lưu hành nội bộ bản đồ  “đường lưỡi bò” chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông; năm 1956 Trung Quốc chiếm đóng trái phép phần phía Đông quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam;  năm 1958 Trung Quốc ra tuyên bố “nhập nhằng” bắt đầu âm mưu yêu sách hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm phần phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; năm 1988 Trung Quốc tiếp tục dùng vũ lực đánh chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam; năm 1995 Trung Quốc thôn tính thêm đảo Vành Khăn phía Nam quần đảo Trường Sa của Việt Nam; năm 2009 Trung Quốc bắt đầu chính thức nêu yêu sách chủ quyền phi lý “đường lưỡi bò” (còn gọi là đường 9 đoạn) hòng độc chiếm Biển Đông. Năm 2012, Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough (Philippines gọi là Panatag, Trung Quốc gọi là Hoàng Nham) nằm cách xa bờ biển Trung Quốc và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Các tàu Trung Quốc  duy trì sự hiện diện thường xuyên tại Bãi đá ngầm Second Thomas Shoal (Việt Nam gọi là bãi Cỏ Mây) đang tranh chấp tại quần đảo Trường Sa. Trung Quốc cũng cố gắng hợp thức hóa chủ quyền đối với các bãi như James Shoal và Luconia Shoal, nằm sát vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia. Trung Quốc tìm cách kiểm soát một khu vực lãnh hải chiến lược rộng lớn trải dài từ phía đông tới phía nam nước này, cũng như các nguồn tài nguyên biển, nhất là khoáng sản. Trung Quốc đã tùy tiện đơn phương ban hành một vùng cấm đánh bắt cá đối với tất cả các tàu thuyền nước ngoài trên Biển Đông, xem hầu hết Biển Đông thuộc về họ. Trung Quốc công nhiên tuyên bố gộp cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào cái gọi là “Thành phố Tam Sa”.

Để thực hiện âm mưu từng bước làm thay đổi hiện trạng trên Biển Đông nhằm “vẽ lại bản đồ” khu vực và thế giới, nhiều năm qua, Trung Quốc ráo riết triển khai các biện pháp đối nội và đối ngoại trên bàn đàm phán và trên thực địa để khẳng định chủ quyền  vô lý của mình. Trung Quốc chính thức đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” bất chấp luật pháp quốc tế, đồng thời cố tình vận dụng sai quy chế quốc gia quần đảo cho Hoàng Sa, tuyên bố sẽ vạch tiếp đến Trường Sa, để từ đó đòi hỏi “vùng đặc quyền kinh tế” và “thềm lục địa” kỳ lạ của riêng mình. Trung Quốc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển có hệ thống với các thông tin sai trái, vu cáo trắng trợn các nước trong khu vực chiếm đoạt tài nguyên biển của Trung Quốc. Trung Quốc cũng ráo riết ban bố các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến biển đảo để tăng cường cái gọi là “họat động chấp pháp” sai trái trên Biển Đông, như đơn phương ban bố lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông; bắt giữ trái phép ngư dân các nước trong khu vực đang mưu sinh hợp pháp chính đáng; ngang nhiên mời thầu khai thác dầu khí ngay trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc cũng ra sức tăng cường tiềm lực quốc phòng hướng đến năng lực tác chiến xâm chiếm ở biển đảo xa xôi. Trung Quốc củng cố và mở rộng các vị trí đã chiếm đóng trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bên cạnh đó, Trung Quốc thực hiện chính sách lôi kéo chia rẽ, hạn chế vai trò và ảnh hưởng của các nước lớn, né tránh đàm phán đa phương để lạm dụng sức mạnh nước lớn của mình trong quan hệ song phương với các nước trong khu vực. Trung Quốc từng bước cố tình “dựng chuyện” ở các vùng biển không tranh chấp của quốc gia khác thành vùng tranh chấp với Trung Quốc, rồi quay sang thúc ép “gác tranh chấp, cùng khai thác”.

Rõ ràng, sự thật về tham vọng bá quyền Biển Đông của Trung Quốc đã được phơi bày một cách có hệ thống. Cam kết một đằng nhưng cố tình làm một nẻo, Trung Quốc đã và đang liên tục vi phạm pháp luật quốc tế, dùng sức mạnh “cơ bắp” xâm phạm thô bạo chủ quyền của các nước trong khu vực, gia tăng gây hấn, khiêu khích trên Biển Đông, và đỉnh điểm trong thời gian này là đưa giàn khoan khổng lồ cùng đòan quân ngót trăm chiếc tàu ngạo nghễ tràn vào xâm chiếm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Những hành động của Trung Quốc xâm lấn lãnh thổ vô cùng nguy hiểm đang tiếp tục thách thức luật pháp và dư luận quốc tế, làm gia tăng căng thẳng chính trị, gây bất ổn cho nền hòa bình khu vực và thế giới. Những hành động ngang ngược ấy đã bộc lộ rõ âm mưu, thủ đoạn từng bước làm thay đổi hiện trạng trên Biển Đông để lấn tới vẽ lại bản đồ khu vực và thế giới theo mục tiêu xâm chiếm bành trướng lãnh thổ xuống phía Nam của Trung Quốc.

Chu Ninh
Bài 3: Sáu điểm sai của Trung Quốc
dưới góc nhìn luật pháp quốc tế

Bài 1: Những cuộc chiến xâm lược biển Việt Nam

Nguồn: daidoanket.vn
Vkyno (st)

Advertisements