Trung Quốc – Tham vọng bá quyền Biển Đông – Bài 3: Sáu điểm sai của Trung Quốc dưới góc nhìn luật pháp quốc tế

LTS: Ngày 3-5-2014  Cục Hải sự Trung Quốc ra thông báo nói rằng, giàn khoan Hải Dương -981 tiến hành khoan và tác nghiệp tại vị trí có tọa độ 15o29’58” vĩ Bắc – 111o12’06” kinh Đông từ ngày 2-5 đến 15-8-2014. Về vấn đề này, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nêu rõ: Vị trí tọa độ hoạt động của giàn khoan HD-981 nêu trong thông báo hàng hải của Cục Hải sự Trung Quốc nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam khoảng 120 hải lý. Việt Nam kiên quyết phản đối hành vi bất hợp pháp nêu trên và có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuy nhiên, phía Trung Quốc lập luận rằng đây là việc làm bình thường diễn ra trong vùng biển của Trung Quốc. Bằng cách tiếp cận khách quan, cầu thị, lập luận dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, TS. Nguyễn Thị Lan Anh đã đưa ra 6 luận điểm chính để làm rõ hơn các hành vi vi phạm của Trung Quốc trong vụ việc này. Đại Đoàn Kết xin giới thiệu cùng bạn đọc.

1. Vị trí hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Vị trí này cách điểm cơ sở là đảo Lý Sơn của Việt Nam  một khoảng  cách tương đối là 119 hải lý; cách ranh giới bên ngoài 200 hải lý là 80 hải lý, cách đảo Tri Tôn (quần đảo Hoàng Sa) 17 hải lý; cách xa đảo Hải Nam là hơn 180 hải lý.

Theo quy định của Công ước Luật Biển Liên hợp quốc 1982 (UNCLOS 1982), tại Điều 57 quy định chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển sẽ không vượt quá 200 hải lý. Đồng thời tại Điều 76 của UNCLOS 1982 cũng quy định, một trong những cách lựa chọn để xác định chiều rộng của thềm lục địa một quốc gia ven biển tối thiểu là 200 hải lý.

Có ba cách xác định khác lớn hơn 200 hải lý đó là rìa ngoài của thềm lục địa tự nhiên; 350 hải lý kể từ đường cơ sở và cuối cùng 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 m. Như vậy, theo 4 cách xác định chiều rộng thềm lục địa thì 200 hải lý là cách xác định nhỏ nhất. Nếu chiểu theo ranh giới 200 hải lý thì rõ ràng vị trí đặt giàn khoan Hải Dương  981 đã nằm sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

2. Vị trí đặt giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc theo lập luận của phía Trung Quốc thông qua Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước này nói, thì đây là vùng biển Tây Sa của Trung Quốc.

Nếu xem xét đây là vùng biển Tây Sa của Trung Quốc,  thì trước hết Tây Sa chính là tên được Trung Quốc đặt cho quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Liên quan đến Hoàng Sa là câu chuyện rất dài. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý để khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam từ thế kỷ 17 qua những hoạt động chiếm hữu thực sự của các đời Vua Nguyễn và các hoạt động này tiếp tục được thực thi một cách liên tục, hòa bình thông qua những tuyên bố khẳng định chủ quyền của mình. Cũng cần nói thêm, Trung Quốc đã tiến hành chiếm đóng bất hợp pháp tại quần đảo Hoàng Sa qua sự kiện sử dụng vũ lực vào năm 1974.

Chúng ta đều biết rằng, năm 1945 sau chiến tranh thế giới thứ 2, Hiến chương của Liên hợp quốc (LHQ) đã được ra đời với mục tiêu là duy trì hòa bình, ổn định trên thế giới. Trong đó Hiến chương quy định, sử dụng biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp là một nghĩa vụ bắt buộc với các quốc gia thành viên. Các quốc gia thành viên không được đe dọa sử dụng vũ lực và cấm đe dọa sử dụng vũ lực.

Ở đây, Trung Quốc đã là thành viên LHQ. Năm 1974 là năm Hiến chương của LHQ đã có hiệu lực. Trung Quốc là thành viên của LHQ nhưng lại vi phạm trắng trợn Hiến chương của LHQ. Vì thế, Trung Quốc không thể thiết lập một chủ quyền hợp pháp tại Hoàng Sa.

Theo Trung Quốc nói, họ có chủ quyền với Hoàng Sa; nhưng áp dụng quy định của Luật quốc tế (UNCLOS 1982) thì vùng biển quanh Hoàng Sa cũng không thể mở rộng đến 200 hải lý. Bởi vì, đảo Tri Tôn chỉ là một cồn cát. Theo quy định của Điều 121 của UNCLOS 1982 thì một cồn cát nhỏ như vậy không có thềm lục địa riêng và phạm vi 17 hải lý kể từ đảo Tri Tôn đã nằm ngoài phạm vi vùng biển của Hoàng Sa.

3. Trung Quốc đã vi phạm các nguyên tắc cơ bản của LHQ. Đó chính là quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Tại Điều 56 và Điều 76 của UNCLOS 1982 đều nêu quy định chung về quyền chủ quyền và quyền tài phán của một quốc gia ven biển với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Theo đó, quốc gia ven biển sẽ có quyền chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên.

Việc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 nhằm mục đích thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên gắn liền với đáy biển của thềm lục địa và nằm hoàn toàn trong nguồn tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền chủ quyền của quốc gia ven biển, đó là Việt Nam. Còn quyền tài phán của quốc gia trong vùng biển này là quyền được cấp phép, cho phép các quốc gia khác lắp đặt xây dựng các đảo, xây dựng các công trình nổi trên biển. Giàn khoan Hải Dương 981 là một công trình nổi trên biển mà Trung Quốc đưa vào thềm lục địa của Việt Nam không được sự đồng ý của Việt Nam. Như vậy là vi phạm quyền tài phán của Việt Nam. Đồng thời, trong UNCLOS 1982, Điều 81 nói rằng, mọi hoạt động tiến hành khoan, thăm dò hay vì bất kỳ lý do gì phải được sự cho phép của quốc gia ven biển. Việt Nam chưa cho phép Trung Quốc. Vì thế, Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Vị trí đặt giàn khoan Hải Dương 981
Nguồn:
 PVN

4. Trung Quốc không chỉ vi phạm UNCLOS 1982. Nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế; trong đó nêu rõ: Các quốc gia có nghĩa vụ  sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, không được đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực. Vậy thì, hành động dùng vòi rồng để phun vào tàu Cảnh sát biển Việt Nam, sử dụng tàu hộ vệ tên lửa, sử dụng máy bay tuần tiễu; đặc biệt nguy hiểm hơn là các vũ khí trên các tàu của Trung Quốc đã để ở chế độ sẵn sàng nổ súng bất cứ lúc nào. Đây hiển nhiên là hành vi đe dọa sử dụng vũ lực với lực lượng chấp pháp có thẩm quyền, có quyền tài phán trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Như vậy Trung Quốc đã vi phạm Điều 2 trong Hiến chương của LHQ. Đó là nguyên tắc hòa bình trong giải quyết tranh chấp và nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng vũ lực và sử dụng vũ lực.

5. Trung Quốc còn vi phạm quyền tự do hàng hải, đe dọa an ninh hàng hải, hàng không trong khu vực của Việt Nam và khu vực biển Đông. Ngày 5-5-2014, Cục Hải sự Trung Quốc ra thông báo 14034 trong đó thông báo ngoài việc giàn khoan Hải Dương 981 tiến hành tác nghiệp tại vùng biển có tọa độ xác định rõ ràng nêu trên; thì cùng với tuyên bố đó, Trung Quốc còn nêu rõ: Trong phạm vi 3 hải lý, tàu thuyền cấm đi vào (đây là thông báo số 2 của phía Trung Quốc). Trước đó, Cục Hải sự Trung Quốc đã có thông báo thứ nhất là phạm vi cấm tàu thuyền là 1 hải lý. Ở thông báo thứ hai nâng lên thành 3 hải lý. Tuy nhiên, đó không phải là giới hạn cuối cùng.

Từ những thông tin từ thực địa của Cảnh sát biển Việt Nam có thể thấy, khi lực lượng Cảnh sát biển mới tiếp cận đến cách giàn khoan 7-10 hải lý đã bị các tàu thực thi pháp luật, tàu quân sự của Trung Quốc đe dọa tấn công. Hành động này có thể xảy ra với tàu Cảnh sát biển Việt Nam thì cũng có thể xảy ra với bất kỳ tàu nào đi ngang qua vùng biển này. Biển Đông là khu vực tấp nập vào hàng thứ hai trên thế giới, có nhiều tuyến hàng hóa đi lại trên vùng biển này. Bất kỳ tàu thuyền nào đi qua cũng bị chặn lại như thế này thì đây là hành vi vi phạm tự do hàng hải. Mà, đây là một quyền được UNCLOS 1982 ghi nhận tại Điều 58 và Điều 78. Đây là quyền dành cho tất cả các quốc gia, các loại tàu thuyền, các phương tiện bay. Bằng hành vi triển khai tàu cảnh sát biển, tàu quân sự, máy bay tiêm kích, Trung Quốc đã xâm phạm quyền tự do hàng hải không chỉ của Việt Nam mà còn của tất cả các quốc gia khác trên thế giới, đe dọa đến an toàn, an ninh hàng hải thế giới.

Hơn nữa, theo UNCLOS 1982, thì một quốc gia chỉ được thiết lập một vùng an toàn 500 m. Đây là giới hạn tối đa. 500 m so với 3 hải lý là một sự khác biệt lớn. 500 m so với tất cả những gì Trung Quốc ngăn cản trên thực địa là 7 hải lý hay 10 hải lý còn khác xa hơn nữa. Và đây lại là một lần vi phạm UNCLOS 1982 của họ. Ngoài ra, không chỉ có UNCLOS 1982; chúng ta còn có Công ước về chống đâm va trên biển (CORLEG) được tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) soạn thảo (1972). Và Công ước này cũng quy định những nghĩa vụ cho các quốc gia thành viên mà Trung Quốc đã là thành viên. Việt Nam cũng vậy, nhưng Việt Nam tôn trọng các quy định để đảm bảo an toàn hàng hải quốc tế. Nhưng, những hành vi mà Trung Quốc đang tiến hành trên thực địa thì không đảm bảo một điều kiện như vậy.

6. Trung Quốc bằng hành động của mình đã vi phạm nghiêm trọng cam kết về ứng xử trên Biển Đông giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN, và vi phạm thỏa thuận cấp cao giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trong nội dung của DOC đã yêu cầu không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, kiềm chế không leo thang tranh chấp, không chiếm đóng mới, phải giải quyết bất đồng trên tinh thần xây dựng. Nhưng Trung Quốc đã làm ngược lại, leo thang tranh chấp mới, trong khi Việt Nam đã kiềm chế để giữ nguyên trạng tình hình Biển Đông nhằm đảm bảo hòa bình ổn định tình hình. Bằng việc đơn phương đặt giàn khoan Hải Dương 981, Trung Quốc đã làm phức tạp thêm tình hình, thay đổi nguyên trạng  theo chiều hướng có lợi cho mình.

Trong tuyên bố 6 điểm mà lãnh đạo cấp cao Việt Nam-Trung Quốc đã thỏa thuận năm 2011, trong đó có thỏa thuận thể hiện nội dung quan hệ đặc biệt láng giềng hữu nghị Việt Nam- Trung Quốc được gói gọn trong “16 chữ vàng và 4 tốt”. Nhưng Trung Quốc ngày càng leo thang, làm phức tạp thêm tình hình, vi phạm 16 chữ vàng và 4 tốt đi ngược lại những gì hai nước đã cam kết.  Trong cam kết này, Trung Quốc cũng thể hiện sẽ tôn trọng luật pháp quốc tế và giải quyết quyết tranh chấp cùng với Việt Nam theo UNCLOS 1982, tuân thủ tuyên bố DOC các bên ở Biển Đông. Nhưng tất cả đều đã bị nhanh chóng xóa nhòa bằng  hành vi đơn phương khiêu khích trên thực địa là việc đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.

Có thể, đến đây sẽ có câu hỏi đặt ra là vì sao, tôi không nhắc đến “đường 9 đoạn”. Đó là bởi, tiếp cận một cách khách quan và trung thực nhất những gì mà Trung Quốc lập luận rằng đây là vùng biển thuộc Hoàng Sa, tôi chỉ đáp trả bằng phân tích dựa trên cơ sở pháp lý như vậy. Có lẽ, phải chăng “đường 9 đoạn” quá thiếu cơ sở pháp lý nên Trung Quốc không dám đưa ra sử dụng trong vụ việc này.

H.Vũ-K.Ly (ghi)
Bài 4: Để mất niềm tin, Trung Quốc sẽ là quốc gia cô độc nhất

[Bài 1: Những cuộc chiến xâm lược biển Việt Nam]
[Bài 2: Lộ rõ âm mưu vẽ lại bản đồ thế giới]

Nguồn: daidoanket.vn
Vkyno (st)

Advertisements