Vụ giàn khoan 981 và bài học Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa, Gạc Ma

(GDVN) – Nhưng khi Trung Quốc đã nhe nanh, các nước có yêu sách chủ quyền phải đối mặt với một sự thay đổi thực tế trên mặt biển. Trung Quốc ở quá gần và quá mạnh

14 nước láng giềng cảnh giác với Trung Quốc bành trướng
Putin cần Trung Quốc, Bắc Kinh thế thượng phong
Mỹ truy tố 5 tin tặc tình báo Trung Quốc là để giúp đỡ Việt Nam?!

Tờ Huffington Post ngày 21/5 đăng bài phân tích của Nayan Chanda, biên tập viên tờ Yale Global bình luận, trong vụ kéo giàn khoan Hải Dương 981 hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đã lặp lại thủ đoạn muôn thủa, đục nước béo cò, ngư ông đắc lợi.

Xem xét các bước đi có tính toán rủi ro Trung Quốc đang thực hiện trong vụ giàn khoan 981, dường như Bắc Kinh kết luận rằng trong lúc Mỹ và phương Tây còn bận tâm tới Ukraine, Syria, Iraq còn ở Đông Á, Mỹ – Nhật – Hàn vẫn không chắc chắn làm thế nào để đối phó với đe dọa của Bắc Triều Tiên, tình hình “thực sự là tuyệt vời” (để thực hiện âm mưu bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông – PV).

Ông Tập Cận Bình thị sát tàu sân bay Liêu Ninh, biểu tượng sức mạnh của hải quân Trung Quốc những năm gần đây.

Trên Hoa Đông, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe dường như đã kết luận rằng chỉ bằng cách kiềm chế (2 bên) rơi vào 1 cuộc chiến mới có thể ngăn cản Trung Quốc chiếm đoạt Senkaku và kiểm soát Hoa Đông. Ở Biển Đông, Việt Nam bị hành động hung hăng của Trung Quốc dồn ép, người Việt có thể từ bỏ sự kiềm chế lâu nay, dù không ngăn chặn Bắc Kinh bằng phương tiện quân sự nhưng họ có thể kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế như Philippines đã làm.

Sự xích lại gần nhau trên thực tế giữa Mỹ, Nhật Bản, Philippines và có thể cả Việt Nam sẽ khiến Trung Quốc bị bao vây bởi những nỗi sợ hãi. Nhưng bằng cỗ giàn khoan khổng lồ Hải Dương 981 mà họ vẫn gọi là “lãnh thổ quốc gia di động”, dường như Trung Quốc đã tìm thấy thủ đoạn bành trướng mới mà không gây kích động trừng phạt.

Vụ Nga sáp nhập bán đảo Crimea và mối đe dọa tiếp tục chia cắt Ukraine cho đến nay chỉ vấp phải một số phản ứng khá ảm đạm từ châu Âu. Pháp vướng hợp đồng bán vũ khí cho Nga, thị trường tài chính Anh không muốn mất khách Nga còn Đức phụ thuộc nguồn cung khí đốt Nga, châu Âu không có nhiều khả năng và động lực đối đầu với Moscow.

Những lời chỉ trích của Obama dù mạnh mẽ, Bắc Kinh cũng chỉ giễu cợt, xem thường.

Trung Quốc bỏ phiếu trắng dự thảo nghị quyết lên án trưng cầu dân ý ly khai Crimea, nhưng càng phấn khởi trước sự bất lực của phương Tây đối với hành động sáp nhập bán dảo này của Moscow. Chắc chắn sau vụ này Bắc Kinh không “ngán” cảnh báo gián tiếp của Obama về tranh chấp Biển Đông khi quan sát thấy những “lệnh trừng phạt” của Mỹ nhằm vào Moscow không mấy hiệu quả.

Thật vậy, Obama vừa rời 4 nước châu Á, Trung Quốc liền kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Đây không phải một hoạt động khoan dầu điển hình với sự hộ tống áp đảo của hơn 100 tàu, bao gồm cả tàu quân sự và máy bay chiến đấu bay thấp thường xuyên. Bế tắc sẽ vẫn tiếp tục với trò mèo vờn chuột của Bắc Kinh, và không có gì nghi ngờ là người Trung Quốc đang chiếm ưu thế về sức mạnh trên thực địa.

Tất nhiên vụ giàn khoan Hải Dương 981 không phải lấy cảm hứng trực tiếp từ vụ Putin sáp nhập Crimea, nó chỉ là nước cờ mới nhất trong ván cờ kéo dài hàng thập kỷ.

Một buổi sáng cách đây 40 năm, trong giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger đã ve vãn Trung Quốc giúp đỡ gây sức ép với miền Bắc Việt Nam, đổi lại, hải quân Trung Quốc đã bất ngờ tấn công xâm lược nốt nửa phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ tay Việt Nam Cộng hòa, một đồng minh của Mỹ. Hạm đội 7 Hoa Kỳ ở gần đó nhắm mắt làm ngơ.

Từ trái qua: Henry Kissinger, Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông. Mỹ và Trung Quốc đã “đổi chác lợi ích” trên lưng Việt Nam.

Kể từ đó, Trung Quốc đã cắm chân đầu tiên trên các chuỗi đảo, bãi cát ngầm ở Biển Đông. Họ đã chọn những khoảnh khắc thích hợp để thúc đẩy hoạt động bành trướng. Vào tháng 4 năm 1988, khi Mikhail Gorbachev, lãnh đạo Liên Xô đang tìm kiếm hòa dịu với Trung Quốc, hải quân Bắc Kinh đã tấn công xâm lược Gạc Ma và 5 bãi đá ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam).

Vào năm 1995, chỉ 3 năm sau khi Philippines trục xuất lính Mỹ khỏi các căn cứ quân sự của mình, hải quân Trung Quốc đánh chiếm đá Vành Khăn (nằm ở phía Đông quần đảo Trường Sa, nơi Philippines cũng tuyên bố chủ quyền).

Chính sách của nhà cầm quyền Trung Quốc theo đuổi để hiện thực hóa yêu sách đường lưỡi bò của mình chiếm 80% diện tích Biển Đông đã hình thành 3 mũi giáp công: Tăng cường sức mạnh quân sự một cách kín đáo (ban đầu); Nỗ lực ngoại giao đề xuất quy tắc ứng xử trên Biển Đông và phát triển, khai thác chung; Hợp tác kinh tế mạnh mẽ với ASEAN.

Nhưng sau một thời gian nhìn lại, thì 2 mũi giáp công sau đó được thiết kế chỉ nhằm phát triển kinh tế Trung Quốc và che giấu mưu đồ bành trướng của mình mà Đặng Tiểu Bình vẫn gọi là giấu mình chờ thời.

Khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 1997 lan tới châu Á đã tạo điều kiện cho Trung Quốc nổi lên như một “người hùng” cung cấp viện trợ phát triển kinh tế cho các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia, Lào, Myanmar, thậm chí nguồn vốn FDI Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam có lúc đạt hơn 2,3 tỉ USD.

Để trấn an khu vực mặc dù yêu sách bành trướng của Trung Quốc đã sẵn sàng công khai, Trung Quốc ký Tuyên bố chung về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) năm 2002 với ASEAN. Năm 2005 Trung Quốc, Philippines và Việt Nam đã ký thỏa thuận ba bên về các hoạt động thăm dò địa chấn ở Biển Đông. Thậm chí Việt Nam và Trung Quốc đã ký thỏa thuận thăm dò chung ở vịnh Bắc Bộ đã phân giới.

Thời gian Trung Quốc cảm thấy cần thực hiện lời khuyên giấu mình chờ thời của Đặng Tiểu Bình đã kết thúc với cuộc khủng hoảng tài chính năm 2007 khi các nền kinh tế phương Tây bị dồn vào bờ vực thảm họa. Trung Quốc không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng, bắt đầu tuôn ra 3 ngàn tỉ USD dự trữ và một lực lượng vũ trang còn non trẻ để kết luận rằng, đã đến lúc thực hiện tuyên bố của mình và kiểm soát hiệu quả.

Trung Quốc bắt đầu trò mèo vờn chuột với Nhật Bản trên biển Hoa Đông.

Các cuộc đụng độ đầu tiên vào tháng 9/2010 khi Cảnh sát biển Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng 1 tàu cá Trung Quốc trong vùng biển Senkaku. 2 năm sau, quyết định quốc hữu hóa Senkaku của Nội các Nhật Bản đã khiến tình hình leo thang nhanh chóng. Tháng 9/2013 Trung Quốc phái tàu khảo sát Senkaku, bắt đầu chơi trò mèo vờn chuột với Nhật Bản. Đỉnh điểm là tháng 11 năm ngoái, Trung Quốc đơn phương tuyên bố áp đặt vùng nhận diện phòng không ở Hoa Đông.

Hiện nay, Trung Quốc đang trên đà thực hiện âm mưu thống trị Biển Đông và sử dụng luật pháp như một vũ khí chiến tranh. Những tuyên bố nhẹ nhàng của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, tôn trọng DOC và hợp tác khai thác chung bây giờ dường như đã trở thành quá khứ.

Nhưng khi Trung Quốc đã nhe nanh, các nước có yêu sách chủ quyền phải đối mặt với một sự thay đổi thực tế trên mặt biển. Trung Quốc ở quá gần và quá mạnh so với các nước ASEAN ven Biển Đông thách thức yêu sách chủ quyền của họ. Trong khi đó những lời chỉ trích từ Washington nhận được câu trả lời giễu cợt từ Bắc Kinh đã không còn cảm hứng với các quốc gia Đông Á khi ngân sách quốc phòng Mỹ ngày càng bị cắt giảm.

Những hành động này của Bắc Kinh đã đẩy Nhật Bản từ bỏ một số truyền thống hòa bình khi xem xét bỏ điều cấm tham chiến ở nước ngoài khỏi hiến pháp. Cuộc kháng chiến thực tế là các nước láng giềng Đông nam Á có thể cùng Philippines khởi kiện Trung Quốc ra tòa, dù Bắc Kinh từ chối tham gia.

Dường như Tập Cận Bình thấy rằng, đây là khoảng thời gian “tuyệt vời để thiết lập quyền bá chủ của Trung Quốc trên Biển Đông”.

HỒNG THỦY

Nguồn: giaoduc.net.vn
Vkyno (st)

Advertisements