Sự nham hiểm của “con cáo già”

(Tham vọng bá quyền) – “Đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là sách lược biến từ vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp; rồi biến từ vùng tranh chấp thành vùng của họ. Đây là bước đi rất cáo già và nham hiểm.” – là nhận định của Đại sứ, PGS.TS Vũ Dương Huân, Nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao. Đại Đoàn Kết trân trọng giới thiệu tới bạn đọc phân tích của ông về vấn đề Trung Quốc đang ngày càng leo thang gây hấn trên Biển Đông.

Trung Quốc muốn là cường quốc đại dương trước khi trở thành số 1 thế giới

Nói về Trung Quốc và chiến lược của họ, có thể khẳng định Trung Quốc từ lâu đã công khai mục tiêu phấn đấu trở thành cường quốc số 1 thế giới. Điều này đã được thể hiện rõ tại ĐH 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ở ĐH đó họ đưa ra mục tiêu phấn đấu là thực hiện cho được “Giấc mơ Trung Hoa”. Bước đầu tiên là trở thành cường quốc số 1 châu Á-Thái Bình Dương.

Có thể nói, hơn 30 năm qua họ đã đi được một chặng đường dài để hướng đến các mục tiêu đã đề ra. Từ một nền kinh tế èo uột, tan hoang sau Đại cách mạng văn hóa, hiện Trung Quốc đã là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới, vượt Nhật Bản và chỉ sau Mỹ. Trong đó, họ không giấu giếm mục tiêu sau 2030, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Mỹ, trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Đương nhiên, mong muốn là một chuyện còn có đạt được hay không lại là câu chuyện khác.

Để thực hiện mục tiêu chiến lược ấy, họ có nhiều giải pháp, con đường. Nhưng, có một con đường mà muốn trở thành cường quốc số 1 họ phải đạt được bằng mọi giá – kiểu gì con đường phát triển của họ cũng phải gắn với biển. Lịch sử thế giới đã chứng minh không một cường quốc nào không gắn sự phát triển của mình với biển. Trung Quốc muốn trở thành cường quốc, trước tiên họ phải trở thành cường quốc đại dương. Nhưng, để đạt mục tiêu với Trung Quốc không phải dễ dàng. Mở rộng ảnh hưởng lên phía Bắc với họ không đơn giản, bởi con đường này đã bị án ngữ bởi gấu bắc cực Nga. Nhất là trong bối cảnh quan hệ Nga – Trung đang rất tốt đẹp như hiện nay, theo như nhận xét của Tổng thống Nga Putin. Tiến sang phía Đông cũng chẳng dễ, bởi có Nhật án ngữ. Nhật không chỉ là cường quốc kinh tế mà còn là cường quốc chính trị, quân sự. Nhật là một quốc gia phát triển rất mạnh về kinh tế và khoa học kỹ thuật. Đằng sau Nhật Bản lại là Mỹ và bề dầy hiệp ước an ninh Nhật -Mỹ đã được ký từ những năm 60 của thế kỷ trước. Bản thân nước Nhật gần đây cũng cho biết, họ sẽ tiến hành sửa Hiến pháp và chú trọng vào đầu tư quốc phòng. Mở rộng ảnh hưởng về phía Tây, Trung Quốc gặp phải rào cản là Ấn Độ. Ấn Độ cũng là một nước lớn, hơn tỷ dân – một cường quốc đang trỗi dậy. Cuối cùng chỉ còn mỗi hướng Nam để Trung Quốc tìm cách mở rộng ảnh hưởng mà ít gặp trở ngại. Hướng Nam không có cường quốc nào án ngữ, vì thế họ không gặp trở ngại nào đáng kể. Dù rằng, phía nam có ASEAN – một hiệp hội với 10 nước đã có lịch sử 50 năm nhưng theo suy tính của Trung Quốc, họ dễ bề “chia để trị”. Mặt khác, cũng không thể không thừa nhận đây là khu vực chịu ảnh hưởng truyền thống của Trung Quốc. Đây còn là cửa ngõ để Trung Quốc thông qua Biển Đông ra với Thái Bình Dương. Đây cũng là con đường nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương và Địa Trung Hải. Một yếu tố thuận lợi khác là cộng đồng người Hoa ở Đông Nam Á là một cộng đồng đông đảo, phân bố tại tất cả các quốc gia trong khu vực. Thậm chí, có những nơi cộng đồng người Hoa còn chiếm đa số như Singapore.

Vị trí của Biển Đông cực kỳ quan trọng với Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, vì thế không có gì phải bàn cãi. Tháng 3-2010, trong trao đổi giữa ngoại giao Mỹ và Trung Quốc – họ đã từng khẳng định Biển Đông là nơi có lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. Nói cách khác, đây là nơi có lợi ích sống còn của họ. Cách phân chia lợi ích ấy sẽ kéo theo các chiến lược đối ngoại mà họ sẽ thực hiện. Có nhiều công cụ để họ thực thi cái lợi ích cốt lõi ấy, cả về ngoại giao, quân sự, kinh tế. Tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh ở đây cả việc không loại trừ sử dụng biện pháp quân sự để đạt cho được lợi ích sống còn.

Trở lại với việc phân tích câu chuyện: Để thực hiện mục tiêu đã đề ra, Trung Quốc tiến hành giải pháp chiến lược nào? Có thể nói, nghiên cứu một quốc gia và để hiểu họ không phải đơn giản. Nhưng, nhận xét của tôi là Trung Quốc là nước lớn, trên con đường thực hiện mục tiêu “Giấc mơ Trung Hoa” họ đã tiến hành mọi việc rất bài bản. Tôi cho rằng, giải pháp chiến lược của họ là đồng bộ, bao gồm cả chính trị, luật pháp, kinh tế, tuyên truyền. Nói tóm lại, họ đã tính kỹ cả về đối nội lẫn đối ngoại.

Về chính trị, luật pháp, Trung Quốc luôn khẳng định Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền của họ. Họ luôn lặp lại các luận điệu về vùng nước lịch sử và đã được họ chiếm hữu từ thời Hán với các lập luận hết sức vô lý, thậm chí chẳng có cơ sở pháp lý, lịch sử gì. Bởi rõ ràng, từ thời Hán chưa ai chiếm được đảo Hoàng Sa. Ngay cả đô đốc Trịnh Hòa mãi sau này có đi ngang qua Hoàng Sa 7 lần thì cũng chẳng ai công nhận việc đi qua và nhìn thấy đó là chiếm hữu. Chiếm hữu theo cách hiểu của luật pháp quốc tế phải là thực thi chiếm hữu bằng sự quản lý của Nhà nước một cách hòa bình. Trong khi đó, sách, bản đồ của Trung Quốc đều khẳng định biên giới phía Nam của họ chỉ đến đảo Hải Nam. Phi lý là thế, bị phản đối dữ dội là thế nhưng Trung Quốc vẫn bất chấp.

Trung Quốc dùng thủ đoạn trong hô ngoài ứng

Về ngoại giao thì họ tung vấn đề ra để phê phán các nước, cố tình làm thế giới hiểu sai tình hình Biển Đông. Trong nước thì họ không ngừng củng cố vị trí: Năm 2012, Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa, xây dựng căn cứ quân sự; hiện họ còn thông báo xây cả trường học ở Hoàng Sa. Thậm chí, họ còn “ước mơ” làm tàu sân bay đặt ở Phú Lâm (Hoàng Sa) khi cần có thể dễ bề lôi ra án ngữ ở Biển Đông. Tôi còn nghe thông tin họ đang đưa 2 tàu chiến ra để bảo vệ cho tàu chở vật liệu xây dựng căn cứ ở Gạc Ma.

Điều đáng nói trong chiến dịch “tằm ăn dâu” họ luôn chọn thời điểm thích hợp để chiếm đoạt của chúng ta những đảo đá có vị trí quan trọng, chiến lược. Năm 1946, lợi dụng quân Tưởng Giới Thạch thua trận họ chiếm Hoàng Sa một lần. Năm 1956, sau Hiệp định Geneva – Pháp rút khỏi Việt Nam chiếm phần phía Đông của Hoàng Sa. Năm 1974, trước thực tế quân Ngụy sắp thua trận ở miền Nam Việt Nam họ chiếm phần phía Tây của Hoàng Sa, như tôi đã nói ở trên. Tháng 3-1988, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn của Việt Nam khi ấy cả về kinh tế và chính trị, đang phải chịu bao vây, cấm vận từ phía Mỹ và phương Tây họ chiếm của ta 7 điểm đảo. Trước năm 2012, thì chiếm bãi Hoàng Nham lúc đó thuộc quyền quản lý của Philippines.

Đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam là sách lược biến từ vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp; rồi biến từ vùng tranh chấp thành vùng của họ. Đây là bước đi rất cáo già và nham hiểm. Còn nhớ, với cách hành xử mờ mờ ảo ảo, “dương Đông kích Tây”, năm 2009, khi họ đưa Công hàm lên LHQ trong đó lần đầu công khai yêu sách “đường lưỡi bò”. Được hỏi nhưng khi trả lời, Trung Quốc đều nói rất mập mờ, một phần do họ không có chứng cứ pháp lý và lịch sử, phần vì họ sử dụng chiêu bài “cả vú lấp miệng em”. Thực tế, chiêu bài ấy rất có tác dụng với 1,3 tỉ nhân dân Trung Quốc, khi họ chỉ nghe và chỉ được nghe mãi một luận điệu.

Họ – Trung Quốc còn tập trung rất nhiều nhân lực là nhà khoa học, giới nghiên cứu, học giả để viết nhiều bài báo về chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa-Trường Sa. Mục đích của họ là tích lũy dần, đến một lúc nào đó tung ra và dùng chiêu bài được giới học giả ủng hộ về chủ quyền; mặc dù, đó là do trong nhiều trường hợp họ bỏ tiền để có được những bài báo đó.

Cùng với chiến thuật ấy, họ còn dùng chiến thuật “Câu giờ”. Chúng ta cũng biết, luật quốc tế quy định 50 năm một vùng tranh chấp có thể không thành tranh chấp, hay nói cách khác thành việc đã rồi nếu không gặp phải phản ứng gì từ các bên liên quan. Vì thế, họ cố tình cù nhầy để đủ thời gian 50 năm. Ví dụ, tuyên bố DOC giữa ASEAN và Trung Quốc có từ năm 2002 và ngay tại thời điểm đó, người ta đã muốn xây dựng COC thành bộ luật để các quốc gia phải theo, nhưng chính Trung Quốc tìm mọi cớ, mọi cách để ngăn cản. Họ sợ, Bộ luật “bó chân bó tay” chính mình, dù đó là con đường hòa bình, con đường hay nhất.

Một đặc điểm của Trung Quốc là sự hung hăng của họ càng tăng lên do sức mạnh của họ ngày càng tăng. Họ căng mạnh như vừa rồi có điều kiện quốc tế của nó. Chính là từ chính sách xoay trục của Mỹ, chính sách tái cân bằng của Mỹ cuối năm 2011. Trong chính sách đó, phía Mỹ khẳng định sẽ chuyển 60% số quân sang khu vực châu Á- Thái Bình Dương; rồi việc Mỹ củng cố an ninh chiến lược với các đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippnes; rồi Nga với cuộc khủng hoảng Crimea và sau khi có dấu hiệu bị cô lập, Nga cũng muốn chuyển trọng tâm ngoại giao sang châu Á; rồi quan hệ Nga – Trung “ấm lên” với các hợp đồng kinh tế trị giá 400 tỉ USD nhân chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Putin. Những tác động quốc tế giải thích phần nào lý do vì sao Trung Quốc tăng cường chiến lược quân sự. Nếu giàn khoan Hải Dương 981 là bước hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi lý thì việc xây dựng Gạc Ma là chiến lược độc chiếm Biển Đông.

Chúng ta cần những chiến lược đồng bộ

Mục tiêu của thì rõ ràng phải giữ lấy chủ quyền ở Hoàng Sa-Trường Sa. Mặc dù, “quy luật thép” của quan hệ quốc tế là các trung tâm quyền lực sẽ quyết định cục diện thế giới, quyết định quan hệ quốc tế mà các nước nhỏ dù có tập trung lại với nhau cũng khó xoay chuyển tình thế. Trong hoàn cảnh của ta phải luôn luôn không được mất cảnh giác, phải coi lợi ích quốc gia là tối thượng. Về mặt này, khi phía Trung Quốc có động tĩnh gì là phải ra tuyên bố ngay, tùy từng cấp; tức là có phản ứng quốc tế phù hợp hoàn cảnh, tranh thủ dư luận, hoàn cảnh. Nếu không tuyên bố sẽ là sai lầm.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải có giải pháp đồng bộ như họ. Nước nhỏ chống lại sự bành trướng của nước lớn là phải có sức mạnh tổng hợp cả trong nước và ngoài nước, cả sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, phải phát huy được khối Đại đoàn kết toàn dân tộc. Đối với cuộc đấu tranh hiện nay, điểm nhấn của chúng ta là phải tranh thủ dư luận quốc tế, tranh thủ chính nghĩa của chúng ta, tranh thủ sức mạnh pháp lý, nhấn mạnh tính hợp pháp của mình ở Hoàng sa – Trường Sa. Tranh thủ sự ủng hộ của ASEAN, Nhật, Nga, Mỹ, Úc, EU… Và quan trọng phải có giải pháp tuyên truyền một cách thiết thực nhằm chống lại kiểu tuyên truyền một chiều của Trung Quốc. Nói tóm lại phải tranh thủ tất cả các diễn đàn để thể hiện quan điểm, lập trường của mình.

Câu hỏi đặt ra ở đây là có vận dụng luật pháp quốc tế, có kiện hay không? Tôi nghĩ, nên mạnh dạn sử dụng biện pháp này. Đương nhiên, khi kiện ta phải xem xét góc độ pháp lý đâu là điểm mạnh, điểm yếu. Ta có cơ sở lịch sử và cơ sở pháp lý vững chắc từ thời Nguyễn, rồi hội nghị San Francisco, hội nghị Geneva, San Francisco… Dù chưa có chủ trương kiện trong thời điểm này cũng cần phải huy động giới luật gia tham gia chuẩn bị sẵn sàng các hồ sơ pháp lý.

Đại sứ, PGS.TS Vũ Dương Huân
(Nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao)
H.Mai (ghi)

Nguồn: daidoanket.vn
Vkyno (st)

Advertisements