Thư viện

Quy chế pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế trong luật pháp quốc tế và Việt Nam

Khái niệm và quy chế pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế được nêu cụ thể trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật Biển 1982); theo đó:

Tiếp tục đọc

Quy chế pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải trong luật pháp quốc tế và Việt Nam

Khái niệm và quy chế pháp lý đối với Vùng tiếp giáp lãnh hải đã được đề cập cụ thể trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật Biển 1982); theo đó:

Tiếp tục đọc

Nghị định mới của Chính phủ về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam

(ĐCSVN) – Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 96/2013/NĐ-CP, ngày 27/8/2013 về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 86/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Khám phá đảo chìm Trường Sa

– Dung nham núi lửa phun trào lên tới mặt biển và bị nguội lại, tạo thành một bãi đá ngầm nằm dưới mặt nước biển chỉ vài mét.

>> Hình ảnh mới nhất từ đảo Trường Sa lớn

Rời đảo Trường Sa lớn, sáng 6/4, đoàn công tác số 3 của Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông (TT&TT) cùng các bộ ban ngành đã tới thăm Đá Tây B, đảo chìm đầu tiên trong hành trình thăm quần đảo Trường Sa.

Dải san hô Đá Tây trải dài hàng chuc hải lý, cũng giống như các rặng san hô khác, được hình thành bởi hoạt động của một dải núi lửa ngầm dưới đáy biển từ hàng triệu năm trước.Dung nham núi lửa phun trào lên tới mặt biển và bị nguội lại, tạo thành một bãi đá ngầm nằm dưới mặt nước biển chỉ vài mét.

Do được hình thành từ sự phun trào của các dãy núi lửa dưới đáy biển, nên cấu tạo của các dải san hô thường có hình trải dài, có vành đai phía ngoài cao, ở giữa lõm xuống tạo thành hồ có độ sâu từ vài chục tới cả trăm mét. Các hồ này trở thành nơi trú ẩn tự nhiên rất an toàn và thuận lợi cho các tàu bè khi gặp bão ngoài biển.

Trên dải san hô Đá Tây có 3 đảo chìm gồm Đá Tây A, B và C, mỗi đảo cách nhau vài hải lý, giúp bao quát toàn bộ dải san hô dài hàng chục hải lý. Đảo chìm thực chất là những ngôi nhà hai hoặc ba tầng được xây cao lên trên mặt nước biển, từ nền móng là dải san hô.

Để xây dựng một đảo chìm trên rặng san hô đòi hỏi rất nhiều công sức như vận chuyển vật liệu xây dựng từ đất liền, chọn vị trí thuận lợi nhất để tạo nền móng cao hơn mặt nước biển và xây nhà kiên cố, tạo thành đảo chìm. Vì những điều kiện khó khăn như vậy, nên thường diện tích của các đảo chìm khá hạn chế, thường chỉ vài trăm mét vuông.

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânĐoàn công tác và quà tặng lên đảo chìm đều phải sử dụng xuồng và cano kéo

Trên diện tích chỉ vài trăm mét vuông của đảo chìm, các chiến sĩ Hải quân Việt Nam vẫn kiên cường bám trụ để thực hiện tốt bảo vệ biển trời của Tổ quốc, giữ vững chủ quyền quốc gia.

Một số hình ảnh đoàn công tác số 3 tại đảo Đá Tây B vừa được PV VietNamNet chuyển về từ Trường Sa:

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânĐoàn công tác cập bến vào đảo Đá Tây B

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quân.Trung úy Nguyễn Đình Thái, Trưởng đảo Đá Tây B báo cáo với đoàn công tác số 3 về tình hình hoạt động của đảo

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânBà Phan Thị Phương Nhung, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính (Bộ TT&TT) tặng quà cho đảo Đá Tây B

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânVườn rau cải thiện cho bữa ăn của các chiến sĩ đảo Đá Tây B

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânCác tấm pin mặt trời đã được được trang bị cho các đảo ở Trường Sa từ 3-4 năm trước, giúp đảm bảo điện chiếu sáng, sinh hoạt hàng ngày cho các chiến sĩ Hải quân

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânMốc xác định chủ quyền tại đảo Đá Tây B

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânNgọn hải đăng Đá Tây, giúp các tàu cá của Việt Nam tìm đường dễ dàng hơn khi cần vào đảo Đá Tây tránh bão

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânChiến sĩ đảo Đá Tây B canh gác biển trời Tổ quốc

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânĐoàn công tác chia tay các chiến sĩ đảo Đá Tây B

Trường Sa, Hoàng Sa, Biển Đông, hải quânQuà “cây nhà lá vườn” của đảo Đá Tây B tặng đoàn công tác

Huy Phong
vietnamnet.vn

Bước ngoặt lớn cho biển đảo Việt Nam

Hôm nay (1.1.2013), luật Biển VN chính thức có hiệu lực nhằm góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà

Sau một quá trình soạn thảo lâu dài, VN lần đầu tiên có văn bản luật biển gồm 7 chương 55 điều quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển đảo thuộc quyền tài phán quốc gia theo đúng Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982. Luật Biển VN chính thức có hiệu lực từ hôm nay. Sự kiện này và việc VN cùng thế giới ngày 10.12.2012 kỷ niệm 30 năm ra đời UNCLOS 1982 đều có ý nghĩa quan trọng đối với biển đảo VN.

Nỗ lực lâu dài

Vào ngày 10.12.1982, VN cùng 118 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng ký vào văn bản UNCLOS tại Montego Bay, Jamaica. Đây là kết quả của một quá trình phát triển lâu dài về ý thức của dân tộc VN đối với biển đảo.

Từ năm 1977, VN tham dự Hội nghị lần thứ 3 của LHQ về luật Biển. VN nằm trong 130 quốc gia bỏ phiếu thông qua Công ước về luật Biển trong khi các nước Đông Âu và Liên Xô bỏ phiếu trắng. Tại hội nghị này, nắm bắt xu thế tiến bộ chung, Chính phủ nước ta ngày 12.5.1977 đưa ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước CHXHCN Việt Nam. Đây là một trong số tuyên bố sớm nhất theo tinh thần Công ước ở khu vực Đông Nam Á. Tiếp đó, ngày 12.11.1982, Chính phủ nước ta lại ra tuyên bố về đường cơ sở ven bờ lục địa VN phù hợp theo các quy định của Công ước. Từ hai bản tuyên bố lịch sử trên, hệ thống luật pháp biển về quyền và lợi ích, các hoạt động của VN về mọi mặt liên quan đến biển đều lấy Công ước LHQ làm cơ sở.

Theo đúng tinh thần UNCLOS 1982, nước ta nhiều năm qua từng bước tăng cường cơ sở vật chất, lực lượng để bảo vệ, quản lý và khai thác có hiệu quả vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa rộng lớn của mình

UNCLOS 1982 là bản “Hiến pháp đại dương” của nhân loại. Đây còn là văn bản tổng hợp toàn diện những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương, quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ trên biển quốc tế. Tương tự Hiến chương LHQ, UNCLOS 1982 là văn kiện pháp lý đa phương quan trọng nhất trong lịch sử LHQ từ trước đến nay. VN trở thành nước thứ 64 phê chuẩn UNCLOS 1982.

Ngày 23.6.1994, Quốc hội VN đưa ra nghị quyết phê chuẩn công ước và nộp lưu chiểu lên LHQ vào ngày 25.7.1994, trước khi UNCLOS chính thức có hiệu lực trên thế giới từ ngày 16.11.1994. Chấp hành nghị quyết do Quốc hội phê chuẩn, VN luôn tuân thủ và tôn trọng UNCLOS trong mọi hoạt động liên quan đến biển của mình. Đồng thời, nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về các lĩnh vực liên quan đến biển phù hợp với công ước này.

Bảo vệ chủ quyền

Sau khi ký UNCLOS 1982, VN đã vận dụng các điều khoản trong công ước để bảo vệ quyền lợi quốc gia trên biển. Điển hình như việc Tổ hợp các công ty cáp quang của Anh, Úc, Nhật, Singapore, Indonesia và Hồng Kông cùng Đài Loan vào năm 1985 muốn đặt 550 hải lý cáp quang Sin-Hon-Tai qua vùng biển nước ta. Tuy nhiên, một số nước trong dự án trên định không thông báo cho VN. Đáp lại, chúng ta vận dụng quy định trong công ước rằng việc đặt cáp có liên quan đến khoan đào và nghiên cứu khoa học biển, khu vực cáp đi qua là những lĩnh vực mà quốc gia ven biển có đặc quyền và quyền tài phán. Vì thế, tổ hợp trên đã vi phạm luật pháp quốc tế nên phải nhận sai, tiến hành xin lỗi đồng thời nộp 330.000 USD cho khoản lệ phí dịch vụ khoa học. Bên cạnh đó, VN cũng cử đại diện giám sát quá trình đặt cáp.

Theo đúng tinh thần UNCLOS 1982, nước ta nhiều năm qua từng bước tăng cường cơ sở vật chất, lực lượng để bảo vệ, quản lý và khai thác có hiệu quả vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa rộng lớn của mình. Ví dụ như tăng cường hải quân, radar, máy bay tuần thám biển, thành lập lực lượng cảnh sát biển… Đồng thời, VN cũng xây dựng chiến lược biển, đẩy mạnh khai thác các nguồn lợi biển, phân lô đấu thầu khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc quyền tài phán hợp pháp của mình theo UNCLOS 1982.

Luật Biển VN tiếp tục khẳng định chủ quyền của nước ta đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa – Ảnh: Minh Ngọc

Đặc biệt, VN triển khai đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa dựa theo UNCLOS 1982. Ngày 4.11.2002, nước ta cùng các thành viên ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông tại Phnom Penh, Campuchia. Theo đó, “Các bên cam kết giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, thông qua trao đổi ý kiến và thương lượng giữa các quốc gia có chủ quyền liên quan phù hợp với các nguyên tắc được công nhận rộng rãi của pháp luật quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982”. Hiên nay, VN đang cùng các nước ASEAN và Trung Quốc thảo luận để thông qua Bộ quy tắc về cách ứng xử (COC) trên biển Đông.

Những quy định nổi bật

Một trong những thành tựu có ý nghĩa to lớn trong việc VN thực thi UNCLOS là ban hành luật Biển nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của nước ta phục vụ cho việc sử dụng, quản lý bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên các vùng biển đảo của Tổ quốc. Việc ban hành luật Biển VN là bước nội luật hóa thành công UNCLOS 1982 theo đúng trách nhiệm của một quốc gia là thành viên công ước này. Trong đó, một số điểm nổi bật của luật Biển VN có thể kể ra như:

1 – Tiếp tục khẳng định chủ quyền của VN đối với 2 quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa thông qua điều 1 chương I và điều 19 chương II. Lập trường này tiếp nối nhất quán quan điểm trong Nghị quyết Quốc hội phê chuẩn UNCLOS 1982 và luật Biên giới quốc gia VN 2003. Điều 19 và 20 thuộc chương II cũng quy định rõ về các đảo đá nhằm bảo vệ các vùng biển VN.

2 – Luật Biển VN nêu cụ thể hơn 5 vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo đó, vùng nội thủy tính từ bờ biển đến đường cơ sở, vùng lãnh hải rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, tiếp đó vùng tiếp giáp lãnh hải cũng rộng 12 hải lý và vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Đồng thời, thềm lục địa ít nhất rộng 200 hải lý và tối đa là 350 hải lý tính từ đường cơ sở ven bờ lục địa VN hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không quá 100 hải lý. Như vậy chủ quyền của VN được khẳng định từ đất liền ra đến vùng nội thủy và lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đến hết vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

3 – Luật Biển VN 2012 quy định chi tiết về các hoạt động trong vùng biển VN, quy định rõ những hành vi mà tàu thuyền nước ngoài không được làm khi đi qua; luật cũng quy định về vấn đề tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, giữ gìn bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; về hợp tác nghiên cứu khoa học biển…

4 – Đặc biệt, luật Biển VN 2012 dành hẳn chương IV để quy định về phát triển kinh tế biển. Trong đó có quy định việc quy hoạch, xây dựng và phát triển kinh tế biển đảo; nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động kinh tế biển đảo trên nguyên tắc gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn trên biển.

5 – Điều 4, chương I quy định rõ các nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển. Trong đó, VN luôn nhất quán “nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển đảo với các nước khác bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với UNCLOS 1982, luật pháp và thực tiễn quốc tế”.

TS Hoàng Trọng Lập
thanhnien.com.vn

Trường Sa trong mắt chúng tôi

Đó là chủ đề bộ phim tài liệu tiếng Việt lần đầu tiên sẽ công chiếu tại Hoa Kỳ được thực hiện bởi đạo diễn trẻ người Mỹ gốc Việt – Trần Nhật Phong. Phóng viên báo Đại Đoàn Kết đã có cuộc trò chuyện với đạo diễn Trần Nhật Phong trước khi bộ phim chính thức phát hành bản DVD phim, dự kiến vào cuối tháng này.

“Cuốn phim “Trường Sa trong mắt chúng tôi” tuy chỉ gói gọn trong vấn đề Trường Sa và những biến động đang diễn ra tại Biển Đông, nhưng bên cạnh đó mọi người còn có thêm thông tin về tư thế hiện nay của Việt Nam trên chính trường quốc tế, thông qua các nhân vật được xem là có uy thế, quyền lực hiện nay” – đạo diễn trẻ người Mỹ gốc Việt – Trần Nhật Phong chia sẻ

Một cảnh quay về lễ cầu siêu các anh hùng liệt sĩ
đã hi sinh tại đảo Gạc Ma trong bộ phim
“Trường Sa trong mắt chúng tôi”

Cơ duyên, động lực nào dẫn tới quyết định táo bạo của anh khi xây dựng bộ phim tài liệu “Trường Sa trong mắt chúng tôi”?

Đạo diễn Trần Nhật Phong

Sau khi gặp gỡ các nhà báo đi Trường Sa về, tôi rất ấn tượng về những hình ảnh đang diễn ra tại Trường Sa, và từ đó hình thành ý tưởng xây dựng một cuốn phim tài liệu về biển đảo cũng như những gì đang diễn ra tại Biển Đông để mọi người, mọi nhà đều có thể lưu giữ lại các hình ảnh quí và giá trị của các thông tin.

Chúng tôi rất ấn tượng với các cảnh quay về lễ thả hoa, cũng như các nghi lễ tâm linh cầu siêu cho các hương hồn liệt sĩ đã ngã xuống tại các quần đảo và vùng thềm lục địa trong bộ phim, kèm lời bình gần gũi, xúc động. Anh có cảm nhận điều này?

Đó là hành động văn hóa đẹp của dân tộc để tưởng nhớ những người con của dân tộc ngã xuống vì sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Khi bắt đầu ráp nối và đọc lời dẫn cho đoạn này, tôi cũng thật sự xúc động và phải thu âm lại nhiều lần vì không kìm được xúc động khiến giọng đọc bị ảnh hưởng. Có thể nói bài diễn văn truy điệu của Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn và âm điệu khi ông phát biểu đã khiến tôi xúc động. Tôi tin đó là những ngôn ngữ xuất phát từ trái tim chứ không phải bộ não, ngoài ra tôi cũng tin rằng có yếu tố tâm linh trong lúc thực hiện cuốn phim.

Chúng tôi cũng khá bất ngờ khi bộ phim đã kết nối được những thước phim tư liệu của cuộc Hải chiến Trường Sa năm 1988, cũng như nhắc tới sự kiện đụng độ giữa hải quân VNCH với Trung Quốc năm 1974, dẫn tới việc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị TQ chiếm giữ trái phép từ đó cho tới nay, cùng với nỗi đau 74 liệt sĩ hải quân VNCH đã mãi mãi nằm dưới biển sâu. Nguyên nhân nào dẫn tới việc anh có ý tưởng này?

Thực ra khi quyết định thực hiện thật cảm động đoạn tưởng niệm trên tàu gần khu vực đảo Gạc Ma, tôi đã xem lại rất nhiều lần bài phát biểu của Đại tá Đỗ Minh Thái – Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân, đồng thời vì muốn mọi người cảm nhận được sự hy sinh to lớn của những liệt sĩ, do đó tôi đã thêm vào đoạn phim tư liệu vụ nổ súng năm 1988, cho thấy sự tàn khốc của những kẻ có dã tâm. Riêng đoạn tưởng niệm 74 tử sĩ VNCH, đó là sự thật đã diễn ra trong chuyến viếng thăm quần đảo Trường Sa của đoàn công tác số 6, đồng thời đó cũng là sự công bằng của lịch sử, những người con của dân tộc đã đổ máu để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải đều đáng được vinh danh và ghi nhận.

Ca khúc “Nối vòng tay lớn” trở thành nhạc nền trong nhiều phân cảnh của bộ phim, cũng được dùng vào đoạn kết thúc bộ phim. Phải chăng, nội dung ca khúc với khát vọng đoàn kết, hòa hợp, hòa giải dân tộc là mục đích mà anh muốn truyền tải cho bộ phim đầu tay của mình?

Đó là khát vọng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, đồng thời cũng là khát vọng của hầu hết người Việt Nam, trong đó có tôi. Với những gì đang diễn ra hiện nay tại Việt Nam và khu vực, tôi cho rằng đất nước và dân tộc đang có cơ hội rất lớn nâng vị thế của mình trở thành một quốc gia có tiếng nói mạnh mẽ hơn trên trường quốc tế, điều còn lại chỉ là rút ngắn hoặc xóa bỏ khoảng cách khác biệt giữa người Việt Nam với nhau. Tôi muốn nói rằng sự khác biệt sẽ chỉ là vấn đề thời gian nếu cả hai bên đều có thiện chí. Vận mệnh, sự phát triển của đất nước và dân tộc mới là trường tồn, sự đoàn kết dân tộc sẽ là điều then chốt cho tương lai của Việt Nam. Ca khúc “Nối vòng tay lớn” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn đang là khát vọng về sự hòa giải dân tộc. Tôi yêu ca khúc này vì nó sẽ làm mọi người xóa tan hố sâu thù hận vốn vẫn còn tồn tại ở góc cạnh nào đó do lịch sử mang lại.

Một câu hỏi riêng tư: Chúng tôi được biết anh chưa có dịp ra công tác Trường Sa, nhưng nhờ cảm xúc đặc biệt của người nghệ sĩ thì bộ phim vẫn hoàn thành trọn vẹn và được đánh giá là khá thành công về ý tưởng. Vậy cảm xúc cũng như mong muốn của anh rút ra từ bộ phim là gì?

Được ra thăm Trường Sa, hoặc rong ruổi trên khắp mọi miền của một đất nước hòa bình, đó không phải chỉ là mơ ước của riêng tôi, mong ước của những đứa con xa xứ, mà còn là mong ước của ngay cả người trong nước. Cuốn phim “Trường Sa trong mắt chúng tôi” tuy chỉ gói gọn trong vấn đề Trường Sa và những biến động đang diễn ra tại Biển Đông, nhưng bên cạnh đó mọi người còn có thêm thông tin về tư thế hiện nay của Việt Nam trên chính trường quốc tế, thông qua các nhân vật được xem là có uy thế, quyền lực hiện nay. Các thông tin trong cuốn phim sẽ giúp mọi người nhìn rộng rãi hơn và bình tĩnh hơn để có thể đánh giá chính xác về chỗ đứng của Việt Nam trong bàn cờ quốc tế nói chung và khu vực nói riêng. Cuốn phim có thể có những đoạn chưa vừa ý người xem vì phong cách thực hiện theo lối Anti-boring (chống nhàm chán), nhưng mong là mọi người có thể đón nhận như những tư liệu quí để lưu trữ.

THÀNH LUÂN (thực hiện)
daidoanket.vn

 

 

 

Khánh thành cờ Tổ quốc bằng gốm tại Trường Sa

Lá cờ có kích thước kỷ lục 12,4m x 25m (310m2).

Từ đảo Trường Sa Lớn (Khánh Hòa), đại đức Thích Ngộ Thành cho biết sáng 6/6 đã diễn ra lễ khánh thành công trình lá cờ Tổ quốc Việt Nam bằng chất liệu gốm, với kích thước kỷ lục 12,4m x 25m (310m2).

Lá cờ có kích thước kỷ lục 12,4m x 25m (310m2) – Ảnh: Thích Ngộ Thành

Lá cờ được thực hiện trên mái hội trường đảo, xuất phát từ ý tưởng của họa sĩ Nguyễn Thu Thủy, tác giả công trình “Con đường gốm sứ” ven sông Hồng ở Hà Nội.

Lá cờ bằng gốm phủ men, chịu mưa nắng, gió biển… do Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) tài trợ./.

Theo V.T/Tuổi trẻ
vov.vn

Biển với người Việt

1. Là một quốc gia có dải bờ biển trải dọc theo bờ Tây Thái Bình Dương, tự bao đời, biển đã là môi trường sống, môi trường tiếp giao văn hóa của người Việt. Cùng với các không gian núi rừng và châu thổ, biển đã góp phần hợp thành, định diện truyền thống, bản sắc văn hóa, cơ sở kinh tế, tư duy… của nhiều cộng đồng cư dân Việt Nam.

Trong tâm thức của người Việt, Đông Hải – Biển Đông

 là không gian thiêng gắn với thời lập quốc

Ảnh: THÁI AN

Trong tâm thức của người Việt, Đông Hải – Biển Đông là không gian thiêng gắn với thời lập quốc. Bao thế hệ người Việt đã hoài niệm về Cha rồng – Mẹ tiên, về công lao sinh thành, mở cõi của các bậc Thủy tổ. Từ biển, Lạc Long Quân đã về với đất liền, hiển linh như một Nhân thần, diệt trừ yêu quái, giáo hóa dân chúng, dạy cho dân biết cấy lúa, làm nghề thủ công.

Trong không gian biển rộng lớn của người Việt, dường như ngay từ điểm khởi nguyên, do tác động của những điều kiện Địa – Văn hóa, Địa – Kinh tế đã sớm hình thành một sự phân lập mềm giữa các không gian văn hóa trên cơ sở địa vực. Theo đó, nếu như vùng biển Đông Bắc sớm có nhiều mối liên hệ với khu vực Đông Bắc Á đặc biệt là trung tâm văn hóa Hoa Nam thì ở phương Nam, chủ nhân các nền văn hóa Sa Huỳnh, Champa, Óc Eo – Phù Nam cũng có nhiều mối giao lưu mật thiết với vùng hải đảo Đông Nam Á cũng như Tây Nam Á. Môi trường văn hóa, kinh tế biển đã tạo nên những động lực mạnh mẽ cho sự hưng khởi của nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia khu vực.

2. Đến thế kỷ XI – XV, cùng với việc khẳng định chủ quyền, cương vực lãnh thổ ở phía Bắc, phía Tây, nhà Lý rồi nhà Trần đã thực thi nhiều biện pháp để vươn mạnh ra khai phá, khẳng định chủ quyền vùng Đông Hải. Trong ý nghĩa đó, “Biển Giao Chỉ”, “Biển Giao Châu” xưa đã thực sự trở về với người Việt, do người Việt làm chủ. Việc vương triều Lý, vua Lý Anh Tông (cq:1138-1175) quyết định khai mở trang Vân Đồn năm 1149, là một cống hiến to lớn đối với lịch sử dân tộc. Nhà Lý đã thiết lập thành công một trung tâm kinh tế đối ngoại, bảo đảm an ninh ở vùng biển đảo Đông Bắc, khẳng định chủ quyền của quốc gia Đại Việt trước đế chế Tống (960-1279) hùng mạnh. Đích thân vua Anh Tông đã nhiều lần đi tuần các hải đảo, xem khắp hình thế núi sông, tìm hiểu cuộc sống cư dân vùng biển đảo, cho vẽ bản đồ và ghi chép phong vật. Vào thời Lý, Trần, hoạt động của các trung tâm kinh tế đối ngoại như hải trang Vân Đồn đã tạo nên thế đứng chân vững chắc cho kinh tế Đại Việt. Các thương cảng Việt Nam là điểm đến thường xuyên của thương nhân khu vực như Trung Hoa, Champa, Chân Lạp, Siam, Java, Ấn Độ, Tây Á…

Đến thế kỷ XVI-XVIII, các thương cảng Việt Nam vẫn tiếp tục là điểm đến của nhiều đoàn thương thuyền khu vực, quốc tế. Điều quan trọng là, cùng với các thương nhân truyền thống, Biển Đông đã dậy sóng bởi sự hiện diện của nhiều tập đoàn thương nhân phương Tây được tổ chức thành các Công ty Đông Ấn. Nhận thức rõ những biến đổi của tình hình kinh tế, chính trị thế giới, chính quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài và đặc biệt là chúa Nguyễn ở Đàng Trong… đã thực thi nhiều chính sách khuyến thương mạnh mẽ. Trong vòng 2 thế kỷ, nền kinh tế Đại Việt trong đó có kinh tế ngoại thương đã có những chuyển biến, phát triển trội vượt. Nhiều thương cảng, trung tâm kinh tế mới xuất hiện.

Qua các hoạt động kinh tế đối ngoại, chính quyền và giới doanh thương Việt Nam đã tiếp thu được nhiều tri thức, kinh nghiệm trong giao thương quốc tế. Mặt khác, họ cũng đã chứng tỏ năng lực hội nhập với thị trường khu vực. Không chỉ dừng lại ở việc giao thương, buôn bán, ở Đàng Trong chúa Nguyễn còn cho lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải… để tổ chức khai thác biển, vươn ra các đảo xa ở đại dương. Chính quyền chúa Nguyễn và sau đó đến thế kỷ XIX là một số vị vua đầu triều Nguyễn, đã tiếp tục tổ chức khai thác, xác định tọa độ, vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền… trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Tổ quốc Việt Nam.

3. Trong hệ thống thương mại châu Á, Việt Nam có nhiều hải cảng thuận lợi cho sự phát triển kinh tế đối ngoại. Cùng với vùng biển đảo Đông Bắc, các thương cảng ven biển miền Trung đã góp phần giúp thương nhân một số quốc gia Đông Nam Á hải đảo, Tây Nam Á đã có thể đến Đại Việt, Trung Quốc, Nhật Bản… Trong ý nghĩa đó, hoạt động của các Con đường tơ lụa (Maritime silk roads) với hai tuyến chính là Đông dương châm lộ và Tây dương châm lộ hình thành từ thời Hán (206TCN – 220), hưng thịnh thời Đường (618 – 907), mở rộng và không ngừng hoàn thiện vào thời Tống, đã thâm nhập sâu vào nhiều thị trường khu vực. Trong khoảng thời gian đó, và trước đó, cũng nhờ có những hoạt động giao thương tích cực với thị trường châu Á rộng lớn đặc biệt là với vùng Nam Ấn mà các các cảng thị Phù Nam đã đạt đến độ hưng thịnh chỉ sau một thời gian tương đối ngắn. Biển cả và giao thương biển đã đem lại sinh lực, động lực phát triển mạnh mẽ cho vương quốc Phù Nam. Cùng với việc khai thác nguồn tài nguyên vùng hạ lưu sông Mekong, của một số vùng đất, vương quốc lệ thuộc, kinh tế thương mại biển đã tạo nên sự hưng khởi cho văn hóa Óc Eo – Phù Nam. Nhờ có kinh tế công thương mà chỉ hơn một thế kỷ sau khi ra đời, vương quốc biển Phù Nam đã trở thành một quốc gia cường thịnh. Văn hóa Óc Eo – Phù Nam là một trong số ít các nền văn hóa phát triển sớm, rực rỡ bậc nhất ở Đông Nam Á thời cổ đại.

Có thể nói, trong lịch sử, trên các không gian biển Việt Nam đã từng là nơi diễn ra nhiều hoạt động giao thương trong nước – quốc tế, vùng – liên vùng hết sức sôi động. Bên cạnh kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, kinh tế thương mại, trong đó có ngoại thương, đã luôn đóng vai trò quan trọng, góp phần tạo nên sự hưng thịnh của kinh tế Việt Nam trong nhiều thời kỳ lịch sử. Đặt Việt Nam trong không gian kinh tế biển Đông Nam Á, trong mối liên hệ với khu vực thị trường Đông Bắc Á và Tây Nam Á có thể khẳng định rằng, chủ nhân của các nền văn hóa cổ, các chính thể quân chủ đã không chỉ chú tâm xây dựng xã hội nông nghiệp, khai thác tự nhiên mà còn quan tâm đến sự phát triển của kinh tế công thương, phát triển kinh tế biển.

Thấu hiểu truyền thống, đánh giá khách quan những hạn chế, ưu thế, vị thế biển trong lịch sử dân tộc sẽ giúp chúng ta sẽ có thêm niềm tin, kinh nghiệm, tri thức để thực hiện thành công Chiến lược biển Việt Nam đồng thời góp thêm cơ sở cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ an ninh, kinh tế biển, củng cố mối quan hệ hợp tác, hữu nghị với các quốc gia khu vực.

PGS.TS Nguyễn Văn Kim 
Phó Tổng thư ký Hội khoa học lịch sử Việt Nam

daidoanket.vn

Quản lý tổng hợp vùng bờ: Phương thức tối ưu

Với bờ biển trải dài khắp đất nước, các vùng biển rộng chứa đựng nhiều hệ thống tài nguyên thiên nhiên và tự nhiên như hải sản, dầu khí, hệ sinh thái biển… là điều kiện để Việt Nam “cất cánh” từ biển. Nhưng để bay cao, trước hết chúng ta cần xây dựng được “bệ phóng”…

Quản lý đơn ngành: Xung đột lợi ích

Vùng bờ và đại dương Việt Nam chứa đựng nhiều tài nguyên thiên nhiên như hải sản, dầu khí, hệ sinh thái biển… tất cả đều thuộc hệ thống tài nguyên chia sẻ, không thuộc riêng một ngành nào. Chính vì tiềm năng đa ngành nên nhiều ngành kinh tế cùng khai thác, sử dụng trên một không gian bờ và đại dương. (Bộ Công Thương khai thác dầu khí, cảng biển; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khai thác thuỷ sản; Bộ Văn hóa – Du lịch – Thể thao khai thác du lịch, danh thắng; Bộ Tài nguyên và Môi trường khai thác đất đai…. đó là còn chưa kể đến hệ thống ngang là các tỉnh có biển, bờ biển, đảo…).

Nhưng, việc quản lý vùng bờ của Việt Nam lại chỉ dựa trên quản lý đơn ngành. Đặc điểm của quản lý đơn ngành là luôn chỉ chú ý đến lợi ích của ngành mình mà không chú ý đến lợi ích của ngành khác; chỉ chú trọng đến mục đích phát triển, mà quên bảo vệ tài nguyên và môi trường; chú trọng đến khai thác theo hướng tăng trưởng kinh tế nhiều hơn là theo hướng kế hoạch hóa. Điều này làm tăng mâu thuẫn lợi ích giữa ngành này với ngành khác trong việc sử dụng hệ thống tài nguyên ở vùng bờ, đại dương và biển. Và hậu quả là một loạt các vấn đề về môi trường biển và sử dụng kém hiệu quả tài nguyên biển đang diễn ra.

Ông Nguyễn Chu Hồi

Ông Nguyễn Chu Hồi, Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) cho rằng: “Nguyên nhân là do phương thức quản lý vùng bờ, biển và hải đảo của Việt Nam chưa phù hợp với bản chất tự nhiên và xã hội mà nó chứa đựng, vẫn dập khuôn quản lý theo cách kiểm soát ô nhiễm, chưa phù hợp với đặc điểm xuyên biên giới và đa ngành đa mục đích sử dụng”.
Một nguyên nhân khác chính là Việt Nam vẫn thiếu các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật phù hợp, thiếu cơ chế điều phối và phối hợp hiệu quả giữa các ngành, cơ quan và các bên liên quan trong khai thác tài nguyên, môi trường, biển, dẫn đến mâu thuẫn về quyền lợi kể trên. Ngoài ra các hạn chế trong quản lý tài nguyên biển và quản lý đới bờ biển còn do nhận thức, kiến thức còn yếu và cơ chế quản lý chưa phù hợp. Không chỉ có cộng đồng mà ngay cả các nhà quản lý khi ra quyết định cũng chưa hiểu biết đúng về bản chất sự vận động và giá trị của đới bờ, còn làm mất đi giá trị vốn có của nó và nhiều khi lại có tác động tiêu cực trở lại với vùng bờ.
Chính vì vậy, Việt Nam cần quản lý bằng một hệ thống chính sách mang tính chất liên ngành, đa mục tiêu. Ngành nào cũng mong muốn có lợi ích, không ngành nào chịu nhường ngành nào, thì phải có sự đan xen quản lý có hệ thống. Giải quyết thấu đáo nhất, theo ông Nguyễn Chu Hồi, Việt Nam cần áp dụng phương thức quản lý tổng hợp vùng bờ.

Quản lý tổng hợp vùng bờ: phương thức tối ưu

Đối với Việt Nam khái niệm quản lý tổng hợp quản lý vùng bờ và đại dương còn rất mới mẻ. Nhưng trên thế giới khái niệm và cách quản lý này ra đời năm 1972 ở Mỹ. Sau một thời gian thử nghiệm, Mỹ đã ban hành một bộ luật quản lý tổng hợp vùng bờ.

Kinh nghiệm từ các quốc gia cho thấy, khi áp dụng quản lý tổng hợp vùng bờ sẽ tối ưu hóa lợi ích kinh tế. Chẳng hạn vùng bờ biển từ Hải Phòng đến Móng Cái có tới 2.700 hòn đảo và rất nhiều lợi thế tiềm năng phát triển kinh tế – một lợi thế mà trên thế giới không phải nơi nào cũng có, được coi là rất độc đáo. Trong khi hiện nay chúng ta vẫn sử dụng hệ thống tài nguyên này như đất liền. Những hòn đảo có đặc thù riêng. Cần tôn trọng tính đặc thù đó thì chúng ta mới tối ưu hóa được lợi ích phát triển, đồng thời chúng ta gìn giữ được tiềm năng đó lâu dài.

Quản lý vùng bờ là cách tiếp cận để điều chỉnh hành vi phát triển liên ngành ở vùng bờ và các vùng đại dương trên cơ sở các phương thức quản lý hài hòa lợi ích, giảm thiểu mâu thuẫn trong quá trình phát triển. Đồng thời, tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành trong việc ra quyết định các vấn đề chung về vùng bờ và đại dương.

Quản lý tổng hợp vùng bờ sẽ giảm thiểu được mâu thuẫn giữa các ngành trong quá trình phát triển. Ví dụ như mâu thuẫn trong vấn đề quy hoạch Vịnh Vân Phong đã nảy sinh mâu thuẫn giữa các ngành như: Du lịch, vận tải biển, công nghiệp, hải sản. Vấn đề mấu chốt ở đây cần một cái nhìn tổng thể. Đưa quản lý tổng hợp vào để nhìn vấn đề này khi phê duyệt phương án tổng thể của Vịnh Vân Phong. Quản lý vùng bờ là cơ sở đưa ra một thể chế như một Ủy ban tư vấn để quyết định các vấn đề liên ngành, giải quyết các mâu thuẫn trong phạm vi quốc gia và quốc tế.

Để quản lý tổng hợp vùng bờ, khai thác tốt nguồn lực từ biển, gắn liền với bảo vệ môi trường cần phải thực hiện ở hai cấp trung ương và địa phương. Tuy nhiên cấp trung ương là cấp tư duy đưa ra các chính sách kế hoạch hành động còn cấp địa phương sẽ thực hiện và phát triển tư duy đó và là cấp quyết định. Và để quản lý tổng hợp vùng bờ tốt nhất, địa phương cần xác định đặc điểm của từng vùng sinh thái, tập quán văn hoá của từng địa phương mình quản lý thì mới có thể lôi kéo cộng đồng cũng như các bên liên quan cùng cộng tác sử dụng hợp lý, hiệu quả nguồn lợi từ biển. Quản lý tổng hợp vùng bờ tại địa phương cần được thực hiện dựa trên nền tảng của ba trụ cột quan trọng và có thể coi là tiêu trí cần đạt tới là đó là kinh tế – xã hội – môi trường và chu trình này cần thực hiện chặt chẽ liên tiếp nhau.

Đầu năm 2008, Chính phủ đã ra quyết định thông qua chương trình quản lý vùng bờ toàn quốc bằng nguồn vốn của Chính phủ do Bộ TN&MT chủ trì trong đó có sự tham gia của nhiều bộ ngành, địa phương kết nối với  thành tựu của dự án quốc tế. Bộ TN&MT đã trình dự án và được Thủ tướng phê duyệt với nguồn vốn gần 2 nghìn tỷ bắt đầu thực hiện từ năm 2008 – 2010./. 

Hùng Cường

vov.vn

Chương trình “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương”

Lễ ký kết.

Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM tài trợ chương trình với số tiền 3 tỷ đồng.  

Tối 11/7, tại Thành phố Thanh Hóa, Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thực hiện thỏa thuận hợp tác và ký kết tài trợ chương trình “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương” trong các năm từ 2012 – 2014 với số tiền 3 tỷ đồng. 2 bên cũng ký kết tài trợ giải thưởng “Người thợ trẻ giỏi” và các hoạt động Đoàn, phong trào thanh niên giai đoạn 2011-2015.

Theo đó, từ nay đến năm 2015, Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam sẽ là nhà tài trợ chính cho Lễ tuyên dương “Người thợ trẻ giỏi” với mức tài trợ 4 tỷ đồng (1 tỷ đồng/năm). Cũng nhân dịp này, Hội Doanh nhân trẻ dầu khí cũng đã ký tài trợ cho một số hoạt động của Trung ương Đoàn trong những năm tới, với số tiền khoảng 2,5 tỷ đồng…

Đây là một trong những hoạt động cụ thể hóa chương trình hợp tác giữa Trung ương Đoàn với tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam được ký kết ngày 8/1/2011, nhằm đẩy mạnh việc thi đua, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng thành tựu vào thực tiễn; kịp thời tôn vinh những người thợ trẻ giỏi, những thanh niên tiên tiến trên phạm vi cả nước; nhân rộng tầm ảnh hưởng, ý nghĩa của công tác đoàn và phong trào thanh niên cả nước. Sự hợp tác này cũng là trách nhiệm và quyền lợi của 2 đơn vị trong công tác tuyên truyền và có hành động thiết thực bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc./.

Theo TTXVN

vov.vn