Thư viện

Đâu rồi mặt nạ “trỗi dậy hoà bình”?

Đã có một thời gian tương đối dài nhà cầm quyền Trung Quốc ra sức tuyên truyền cho quan điểm “trỗi dậy hòa bình” và “ngoại giao hoà thuận với các nước láng giềng”. Và những hoạt động tuyên truyền đó cũng đã ít nhiều mang lại kết quả nhất định. Song thời gian gần đây, với hàng loạt những hành động gây hấn, làm cho tình hình Biển Đông trở nên căng thẳng thì không phải ai khác, chính người Trung Quốc đã tự tay vứt bỏ tấm mặt nạ “trỗi dậy hoà bình” mà họ đã dày công tạo dựng.

Phải thừa nhận rằng thời gian qua đã có nhiều người tin tưởng vào luận điệu “trỗi dậy hoà bình”, “phát triển hoà bình” của Trung Quốc. Những người này cho rằng Trung Quốc ngày nay đã khác, Trung Quốc giờ đã thực sự tôn trọng lợi ích của nước khác, mong muốn ổn định và phát triển trong hoà bình; Trung Quốc sẽ là “người bạn thân thiện” của các nước láng giềng ….

Song cũng có không ít người rất nghi ngờ về cái gọi là “trỗi dậy hoà bình” nói trên. Và thực tế lịch sử cho thấy rằng những nghi ngờ của họ là hoàn toàn có cơ sở. Không cần phải kể đến tư tưởng “Đại Hán”, tư tưởng bành trướng của Trung Quốc thời kỳ phong kiến mà chỉ tính trong hơn 60 năm tồn tại của nước CHND Trung Hoa (từ 1-10-1949) thì nhà cầm quyền Bắc Kinh đã phát động ít nhất 3 cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn đối với các nước láng giềng: Xâm chiếm Ấn Độ năm 1962, xâm phạm lãnh thổ Liên Xô năm 1969 và xâm lược Việt Nam tháng 2-1979. Bên cạnh đó là hàng loạt những lần Trung Quốc dùng vũ lực để cướp đoạt lãnh thổ, xâm lấn chủ quyền của các nước nhỏ xung quanh (năm 1956 đánh chiếm một số đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hoà; tháng 1-1974 dùng lực lượng lớn hải quân đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa; tháng 3-1988 hải quân Trung Quốc đánh chiếm 6 đảo đá của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa; năm 1995 hải quân Trung Quốc đánh chiếm đảo Vành Khăn, nơi Philippin đã tuyên bố chủ quyền tại quần đảo Trường Sa). Đây là những hành động mà cộng đồng quốc tế đều biết và lên án mạnh mẽ mặc dù Trung Quốc đã ra sức phủ nhận, bưng bít.

Và đến gần đây thì vấn đề về tính thật – giả của “trỗi dậy hoà bình” đã có được câu trả lời rõ nhất. Phía sau cái gọi là “trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc không gì khác chính là mưu đồ độc chiếm Biển Đông, là dã tâm “gặm nhấm” chủ quyền của các nước láng giềng.

Có thể nói rằng những gì diễn ra xoay quanh các tranh chấp ở Biển Đông trong thời gian gần đây (nhất là từ tháng 4-2012) đã cho thấy những nghi ngờ về “trỗi dậy hoà bình” hoàn toàn không phải là vô căn cứ. Có thể kể ra hàng loạt những hành động mang tính leo thang của Trung Quốc, nhân tố đầu tiên khiến cho tình hình Biển Đông ngày càng trở lên căng thẳng. Đầu tiên là tranh chấp với Philippines tại Bãi cạn Scarborough hay Hoàng Nham theo cách gọi của Bắc Kinh, tiếp đến là việc ban hành trái phép lệnh “Cấm đánh bắt cá ở Biển Đông” và gần đây nhất là hành động thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm cả hai quần đảo thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam: Hoàng Sa và Trường Sa. Việc thành lập trái phép “thành phố Tam Sa” và thiết lập cơ quan đồn trú quân sự tại “thành phố phi pháp” này là hành động mang tính leo thang cao nhất, hành động khiêu khích trực tiếp nhất trong thời gian qua của Trung Quốc ở Biển Đông. Cùng với nhiều hoạt động gây hấn khác, hành động này không những đã lật tẩy mặt nạ “trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc mà quan trọng hơn đã một lần nữa cho dư luận thấy rõ hơn dã tâm độc chiếm Biển Đông, điều mà lâu nay Trung Quốc vẫn tìm mọi cách che giấu.

Đã có rất nhiều phân tích xoay quanh những hành động gần đây của Trung Quốc cũng như dự đoán những bước đi tiếp theo của họ trên bàn cờ Biển Đông. Song dù như thế nào thì có một điều chắc chắn, đó là từ đây, chúng ta sẽ không còn bị đánh lừa bởi mặt nạ “trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc!

Xưa cổ nhân đã nói: “Trong cái rủi có cái may!” ý muốn nói cần tỉnh táo để nhìn thấy cái tốt, cái tích cực ngay trong những điều tưởng như là tồi tệ nhất. Và xem ra lời dạy này khá trùng hợp với những biến động của tình hình Biển Đông hiện nay. Việc Trung Quốc tự tay vứt bỏ tấm mặt nạ “trỗi dậy hoà bình” như đã nói ở trên tuy đặt các nước liên quan đến vấn đề Biển Đông trong đó có Việt Nam trước những thử thách mới song chính hành động này cũng là “cơ hội vàng” để chúng ta xem xét lại một cách tổng thể cục diện thực tế trên Biển Đông để từ đó có được những đối sách hợp lý.

Thiết nghĩ sau hàng loạt những hành động nêu trên chắc chắn Trung Quốc sẽ không ngồi yên. Sớm hay muộn họ cũng sẽ hiện thực hoá mưu đồ độc chiếm Biển Đông bằng những hành động quyết liệt hơn. Song điều đó cũng tuỳ thuộc rất lớn vào động thái, thái độ phản ứng của các nước có tranh chấp với Trung Quốc. Chính vì vậy, sẽ là không quá sớm khi ngay từ bây giờ chúng ta xây dựng được cho mình chiến lược, sách lược phù hợp trên cơ sở quan điểm tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đó đồng thời cũng chính là việc làm hết sức cần thiết để Việt Nam có thể chủ động, vững vàng đối phó với “hậu trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc.

Tạ Quang Đạo
daidoanket.vn

“Đường lưỡi bò” – Cái lưỡi không xương (!)

Trung Quốc lớn tiếng tuyên bố với thế giới rằng chủ quyền của họ tại biển Đông là điều không thể tranh cãi. Dùng đường lưỡi bò để xác định biên giới quốc gia rồi dựa vào đó mà tuyên bố chủ quyền như Trung Quốc đã làm là điều chưa từng có trong lịch sử bang giao các nước trên thế giới. Công pháp quốc tế cũng chưa hề có tiền lệ nào như vậy.

Bản đồ Đông Dương của Đa-vin-len (Davinlleen) vẽ năm 1735
đã thể hiện rõ hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam

Cái tối thiểu nhất của đường biên giới quốc gia phải có, trên đất liền, là các cột mốc biên giới, trên biển, là các tọa độ được xác định theo kinh tuyến, vĩ tuyến. “Đường lưỡi bò” tuyệt nhiên không có những điều tối thiểu ấy. Hơn nữa để chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi thì còn phải có ba yếu tố: 1) chiếm hữu về mặt lịch sử; 2) chiếm hữu về mặt thực tế và 3) chiếm hữu về mặt pháp lý.

Về mặt lịch sử, từ đời nhà Thương, nhà Hạ thời cổ đại, rồi đến các triều đại Tần, Hán, Sở, Tấn, thời trung đại, tiếp đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh, thời cận đại, trong nhiều ngàn năm lịch sử của mình, Trung Quốc không hề có tài liệu nào chứng minh Biển Đông thuộc lãnh thổ của họ. Cho đến đầu thế kỷ XX, bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được các giáo sĩ phương Tây vẽ theo bút pháp cận đại và xuất bản năm 1904 dười triều nhà Thanh, có ghi nhận đất cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam mà không hề có điểm vẽ nào về những quần đảo nằm ở Biển Đông. Mãi cho đến năm 1947, chính quyền Quốc Dân Đảng mới phác họa đường lưỡi bò gồm 11 khúc, sau bỏ đi 2 khúc, để khẳng định đường biên giới trên biển của họ. Vì không có bất cứ căn cứ nào khác, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, ra đời từ năm 1949, liền bám vào đấy để tuyên bố quyền chiếm hữu về mặt lịch sử của họ (!)

Việt Nam có đầy đủ các bằng chứng về quyền chiếm hữu về mặt lịch sử đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Gia Long, vua đầu triều Nguyễn (1802-1820) đã cho quân lính và ngư dân ra khai thác đảo Hoàng Sa. Năm 1816, Gia Long đã cho cắm mốc và dựng cờ xác nhận chủ quyền trên đảo. Năm 1883 Việt Nam bị Pháp chiếm làm thuộc địa. Năm 1834, trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” đã có ghi rõ Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa thuộc lảnh thổ An-Nam. Bản đồ được các cố đạo người Pháp vẽ có ứng dụng kỷ thuật gần giống như bản đồ hiện đại, có ghi rõ kinh tuyến, vĩ tuyến. Năm 1899 Pháp xây một ngọn hải đăng trên quần đảo này. Năm 1930 tàu Ma-li-xi-ơ (Malicieuse) đến dựng cờ chủ quyền. Năm, 1938, Pháp dựng bia chủ quyền trên đảo với những giòng chữ : “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam”. (République Francaise – Empire d’Annam). Sau năm 1954, Việt Nam Cộng hòa đưa quân đến đồn trú thường xuyên trên đảo Hoàng Sa. Như vậy bắt đầu từ thế kỷ XIX, các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa đều thuộc quyền chiếm hữu về mặt lịch sử của Việt Nam.

Về quyền chiếm hữu trên thực tế, quyền chiếm hữu thực tế được công nhận khi vùng đất, vùng đảo đã có hoặc cư dân đến sinh cơ, lập nghiệp, có quân đội đồn trú, có bộ máy quản lý và đã được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước có chủ quyền. Vùng đất hay quần đảo bị nước ngoài dùng vũ lực để chiếm đóng, dù lâu bao nhiêu cũng gọi là vùng đất bị chiếm đóng. Nước dùng vũ lực để chiếm đóng đất thuộc chủ quyền của nước khác không được gọi đó là đất chiếm hữu về mặt thực tế. Vùng đất cao nguyên Gô-lan, tuy bị I-sra-en dùng vũ lực chiếm đoạt của Xy-ri đã 5 thập kỷ nay, mãi sau này vẫn là đất thuộc quyền chiếm hữu về mặt lịch sử của Xy-ri. Với I-sra-en, đó là vùng đất chiếm đóng. Dẫu sớm hay muộn, I-sra-en phải trả lại cao nguyên Gô lan cho Xy-ri. Của Xê-da phải trả lại cho Xê- da.

Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam cũng có đầy đủ bằng chứng về quyền chiếm hữu trên thực tế từ đầu thế kỷ XIX. Tháng 01 năm 1974, lợi dụng lúc chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang lâm vào tình trạng sắp cáo chung, lợi dụng lúc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang dồn sức cho công cuộc giải phóng đất nước, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa hạm đội đến đánh chiếm ba đảo Cam Tuyền, Quang Hòa và Duy Mộng thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tiếp đó Trung Quốc lại xua quân chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền quản lý của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo công pháp quốc tế, đó là những vùng đất bị chiếm đóng bằng vũ lực. Chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không có bất cứ căn cứ nào để coi đó là vùng đất đã được chiếm hữu trên thực tế. Hoàng Sa và Trường Sa mãi mãi là đất thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Về quyền chiếm hữu về mặt pháp lý, quyền chiếm hữu về mặt pháp lý trước hết là quyền xuất phát từ các văn bản pháp lý do các nước có liên quan lập ra khi kết thúc chiến tranh, hoặc do các hợp đồng mua bán giữa các quốc gia có liên quan, hoặc do các văn bản của công pháp quốc tế quy định mà các nước có liên quan đã tham gia.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 đã quy định phạm vi, ranh giới đường cơ sở, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, và vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa. Trung Quốc đã gia nhập và ký Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982. Về mặt pháp lý, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không có quyền đòi hỏi chủ quyền các vùng đất, vùng biển nằm bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế, của nước họ. Họ không có quyền đòi hỏi chủ quyền đối với các vùng đất, các quần đảo thuộc phạm vi lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước khác đã được xác định theo Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982.

Tổng quát lại, theo 4 tiêu chí đã nêu : 1) Quyền chiếm hữu về mặt lịch sử, 2) Quyền chiếm hữu về mặt thực tế, 3) Quyền chiếm hữu về mặt pháp lý và 4) Đường biên giới quốc gia phải có tọa độ rỏ ràng, thì Trung Quốc không có bất cứ căn cứ nào để chứng minh cho chủ quyền của họ đối với các quần đảo trên Biển Đông và các vùng đất, vùng biển thuộc phạm vi lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước trong khu vực.

Cách hành xử duy nhất hiện nay của Trung Quốc để khẳng định cho chủ quyền không tranh cãi là họ đã huy động nhiều tàu chiến, tàu hải giám và tàu đánh cá ngang nhiên xâm phạm vùng biển các nước trong khu vực. Một mặt họ đòi hỏi các nước khác phải kiềm chế, không gây căng thẳng, nhưng họ lại ngang nhiên xua tàu làm chìm thuyền, bắt giam, đánh đập, bắt ngư dân các nước phải nộp phạt khi họ đánh cá trong vùng biển thuộc chủ quyền của nước họ. Trung Quốc ngang nhiên thành lập cái gọi là bộ máy chính quyền của khu vực Tam Sa và đưa quân đến đồn trú tại các đảo mà họ đã chiếm đóng. Họ tuyên bố sẽ trang bị vũ khí và huấn luyện quân sự cho hàng chục vạn ngư dân Trung Quốc. Họ tin rằng với lực lượng ngư dân đông đảo được trang bị vũ khí, họ đủ sức đè bẹp các lực lượng vũ trang của các nước trong vùng. Họ đòi hỏi không được quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông. Họ đòi hỏi các nước ngoài không được can dự vào các cuộc tranh chấp giữa họ với các nước ASEAN. Thật là ngang ngược. Ngang ngược đến mức họ không thèm đếm xỉa đến những quy tắc tối thiểu về luật pháp và tập tục trong công pháp quốc tế. Chính giới Trung Quốc nghĩ rằng, ngày nay họ đã có cái gậy to cầm sẳn trong tay thì họ mặc sức làm mưa làm gió đối với những nước nhỏ và yếu hơn.

Người Trung Quốc quên rằng nay đã là thế kỷ XXI rồi. Trung Quốc không thể có sức mạnh nào để biến Biển Đông – con đường giao thông huyết mạch của quốc tế, nơi có lưu lượng vận chuyển hàng hóa trị giá đến 3.000 tỷ USD/ năm – thành cái ao nhà của họ được. Ngang ngược trong vùng Biển Đông, Trung Quốc tự đặt mình vào thế đối đầu với công lý thời đại. Hành vi hiếu chiến của Trung Quốc tại Biển Đông không chỉ xâm phạm đến chủ quyền các nước thuộc khối ASEAN mà còn đe dọa đến quyền lợi thiết thân của nhiều nước trên thế giới. Trong thời đại văn minh, Trung Quốc không thể dùng đường lưỡi bò như cái lưỡi không xương ấy để xử sự như kiểu luật rừng. Vì khát vọng làm bá chủ thế giới Trung Quốc đã mất hết tỉnh táo, đã không tự kiểm soát được bản thân. Một mình chống lại công lý của thời đại, ngang nhiên thách đố với quyền lợi chính đáng của nhiều nước trên thế giới mà không hề nghĩ đến hậu họa. Tiếc thay cho Trung Quốc, ở nước họ rất hiếm những học giả như Lý Lệnh Hoa, người có tầm nhìn xa thấy rộng, thấy trước hậu họa khôn lường nếu cứ nhắm mắt làm càn./.

Luật sư Lê Đức Tiết
daidoanket.vn

Bài 5: Tựa vào Luật Biển Việt Nam, ngư dân ta bám biển

Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương, 55 điều. Chương 4 có 5 điều quy định các nguyên tắc phát triển kinh tế biển, các ngành kinh tế biển ưu tiên phát triển, vấn đề quy hoạch phát triển kinh tế biển, khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế biển trên các đảo và hoạt động trên biển. Chương 5 có 3 điều quy định về lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển; nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển.

LTS: Nước ta đang tiến hành công cuộc phát triển kinh tế biển trong tình hình thế giới đang đứng trước các vấn đề khủng hoảng năng lượng, biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc gia trên biển thường xuyên và gay gắt hơn bao giờ hết. Luật Biển Việt Nam ra đời là công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam, để nước ta tiến mạnh ra biển, giàu lên từ biển trong tương lai không xa. Loạt bài tuyên truyền về Luật Biển Việt Nam trên ĐĐK mở đầu ngày 1.8 bằng bài viết của Luật gia Trần Công Trục, tạm khép lại ở số báo này với lòng mong muốn Luật Biển Việt Nam nhanh chóng được phổ biến và thực thi, góp phần bảo vệ chủ quyền và phát triển hiệu quả, bền vững các ngành kinh tế biển.

Công nghiệp đánh bắt hải sản thực sự hiệu quả thì phương tiện,
phương pháp đánh bắt, hệ thống quản lý, thông tin liên lạc cũng phải khác

Ảnh: Hoàng Long

Ban hành Luật Biển Việt Nam là bước đi quan trọng, song để tiến ra biển một cách vững chắc, vấn đề là đội hình ngư dân ra biển cần đủ lớn, đủ đông cả về số lượng tàu và con người, có hướng dẫn ngư trường đánh bắt, có sự phối hợp với các lực lượng chấp pháp trên biển…

Để trở thành quốc gia mạnh giàu từ biển còn phải áp dụng thành công phương thức quản lý tổng hợp biển, với một “chùm” cơ chế chính sách liên ngành, liên vùng. Trình độ KH&CN tiên tiến áp dụng trong điều tra, nghiên cứu biển và cả trong khai thác, sử dụng biển. Không thể dắt đội quân “thuyền thúng ra biển” mà ngộ nhận mình là quốc gia mạnh từ biển được! Công nghiệp đánh bắt hải sản thực sự hiệu quả thì phương tiện, phương pháp đánh bắt, hệ thống quản lý, thông tin liên lạc cũng phải khác. “Gọi mãi không biết nhau ở đâu giữa đại dương mênh mông ấy thì làm sao đón lõng, bắt được những đàn cá di cư đúng độ tuổi, đúng chất lượng!”, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi từng lưu ý.

Đáng mừng là một năm qua, cả nước ta đã tăng hơn 1.500 tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển. Thông tin vui này vừa công bố tại Lễ sơ kết một năm phát triển tổ chức/tổ ngư dân đoàn kết sản xuất trên biển, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức ngày 8-8 tại Nha Trang.

Những thành viên tổ đội hợp tác thường xuyên liên lạc nên việc phát hiện ngư trường và tổ chức đánh bắt khá hiệu quả, sản lượng tăng từ 1,2 đến 1,5 lần, tiết kiệm nhiên liệu, hạn chế được nhiều rủi ro, bảo đảm an toàn hàng hải và ứng cứu kịp thời khi các thành viên gặp nạn. Quan trọng là sự hiện diện ngày càng tăng của các tàu cá của ngư dân tại các vùng biển xa bờ sẽ góp phần đảm bảo an ninh chủ quyền trên biển…

Cần nhấn mạnh một lần nữa, chủ quyền biển đảo chỉ được khẳng định tốt khi ta khai thác có hiệu quả trên vùng biển của mình. Có lực lượng kiểm ngư mạnh, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Ngư dân am hiểu về an toàn hàng hải. Tăng cường đăng ký, đăng kiểm tàu cá. Ngư dân phối hợp hiệu quả với lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Cảnh sát giao thông đường thủy. Tổ chức trực ban nghiêm túc 24/24 khi có bão, áp thấp nhiệt đới xảy ra…

Một yêu cầu quan trọng là tăng cường năng lực thực thi pháp luật trên biển, dù những tranh chấp ở nhiều mức độ khác nhau trên biển là rất khó tránh. Có chuyện phải giải quyết tay đôi, có chuyện phải giải quyết đa phương. Có chuyện cần kiên quyết, có chuyện cũng cần được xử lý một cách bình tĩnh, linh hoạt, tùy vào tình hình cụ thể. Khéo ứng xử có thể biến được đối tượng thành đối tác. Chúng ta đang tăng cường đối tác để giảm đối đầu, nghiêm túc đàm phán hòa bình, cân nhắc để các bên đều có lợi theo UNCLOS 1982 và các thỏa thuận khu vực khác. Bám biển để sinh kế và hiện diện dân sự trên vùng biển chủ quyền của đất nước là quyền và trách nhiệm của ngư dân Việt Nam đồng thời chúng ta yêu cầu các quốc gia khác tôn trọng các quyền lợi chính đáng đó! Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta cũng rất rõ ràng và nhất quán về giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông. Đó là những nội dung có thể hiểu là những “ứng biến” từ Luật Biển Việt Nam.

Với số lượng khoảng 130.000 tàu thuyền lớn nhỏ, 10% trong số đó hàng ngày lênh đênh bám biển đánh bắt hải sản trong các vùng biển chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam. Bên cạnh kiếm kế sinh nhai bằng nghiệp biển, ngư dân đã thực sự góp công sức của mình cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Hơn lúc nào hết, Luật Biển VN phải tới được mọi nguồn nhân lực “hành nghề” biển nước ta, từ khoa học – công nghệ biển, các kỹ sư, tiến sĩ chuyên ngành về biển, tới nguồn nhân lực kỹ thuật, cuối cùng là người dân. Muốn Luật Biển Việt Nam cùng ngư dân vững vàng ra biển, tới các mô hình sản xuất khai thác hải sản trên biển theo Chiến lược phát triển thủy sản bền vững, Luật phải có trong chương trình đào tạo ngành hàng hải, trong các cơ sở đào tạo và sổ tay kỹ năng khai thác cho ngư dân, các trung tâm hậu cần nghề cá…, thấm lắng trong nhịp đập mỗi ngôi làng chài, khu dân cư ven biển.

PGS Nguyễn Chu Hồi cho rằng trong bối cảnh mới, cần phải bố trí lại quy hoạch dân cư biển, đảo để gắn với phát triển kinh tế đa mục đích. Đó không chỉ đơn thuần là việc đưa dân ra đảo mà cần đầu tư xây dựng năng lực “tự ứng xử” cho các cộng đồng và người lao động biển đảo; đào tạo cho họ hiểu về Luật Biển VN, về kiến thức, nhận thức về tài nguyên, môi trường, ứng phó với thiên tai, nhân tai,…để họ yên tâm bám biển, xử lý được các tình huống xấu trên biển. Các hoạt động hỗ trợ ngư dân trong các chuyến đánh bắt xa bờ phải sớm trở thành một chương trình quốc gia hoành tráng.

Mới đây Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám cho biết, Bộ NN&PTNT sẽ có văn bản trình Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ ngư dân thành lập các tổ hợp tác, tổ ngư dân đoàn kết trên biển, như hỗ trợ máy thông tin, hỗ trợ vay vốn để đóng mới tàu cá đánh bắt xa bờ, miễn giảm thuế… Bộ tiếp tục đẩy mạnh hiện đại hóa kỹ thuật khai thác, đầu tư xây dựng hệ thông thông tin liên lạc phục vụ công tác giám sát…Rất cần trang bị kiến thức về các vùng biển, các quy định pháp lý đối với các vùng biển, chủ trương và biện pháp của Đảng và Nhà nước ta giải quyết hòa bình vấn đề tranh chấp Biển Đông, các chính sách và pháp luật nghề cá,…ngư dân hiểu được quyền và trách nhiệm của mình, không vi phạm các điều pháp luật Việt Nam cấm, không vi phạm các điều ước quốc tế khi hành nghề trên vùng biển của Tổ quốc.

Mục tiêu cuối cùng và quan trọng là để sớm có những cộng đồng ngư dân chủ động, tự chủ, có khả năng tự ứng phó khi làm nghề ngoài biển xa. Có một luật biển Việt Nam, một Chiến lược tổng thể và bài bản, chúng ta chắc chắn vững tiến ra biển một cách vững chắc để khẳng định vị thế, chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Thanh Như
daidoanket.vn

Bài 4: Kỳ 2 – Cơ sở cho phát triển kinh tế biển Việt Nam

Theo khảo sát, Biển Đông có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên lớn, nhất là dầu khí và hải sản. Biển Đông cũng là tuyến hàng hải nhộn nhịp đứng thứ hai trên thế giới. Việt Nam là nước có chủ quyền với diện tích lớn trên Biển Đông. Tuy nhiên, việc khai thác tiềm năng biển vẫn còn nhiều hạn chế. Việc ban hành Luật Biển sẽ là cơ sở, tạo đà cho phát triển kinh tế biển Việt Nam.

Luật Biển Việt Nam khẳng định việc ưu tiên tìm kiếm, thăm dò,
khai thác, chế biến dầu khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển

Khai thác biển- nối gót truyền thống ông cha

Ngay từ xa xưa, ông cha ta đã chú trọng đến việc phát triển kinh tế biển. Truyền thuyết Lạc Long Quân dẫn 50 người con đi về biển, khai phá đất đai, chiến đấu cùng thuỷ quái, chinh phục sóng cả, đã thể hiện ước mơ, thực tế cuộc sống của con Lạc, cháu Hồng. Chinh phục biển khơi còn thể hiện trong truyện cổ tích Việt Nam với việc con đại bàng chở Thạch Sanh ra đảo khơi xa lấy vàng. Thực tế lịch sử dựng nước và giữ nước cho thấy, nhiều triều đại phong kiến Việt Nam đã nổi tiếng với việc phát triển kinh tế biển, ngành hàng hải, thông thương buôn bán quốc tế. Ngay các đảo, quần đảo như quần đảo Hoàng Sa (hay với tên gọi Bãi cát Vàng) và quần đảo Trường Sa, cũng đã được các triều đại phong kiến tiến hành điều tra khảo sát địa hình, tài nguyên để khai thác. Nhà Nguyễn, từng thường xuyên cử đội thuyền 18 chiếc ra Hoàng Sa thu về hoá vật: vàng bạc, tiền tệ, súng đạn do tàu qua lại đắm trôi dạt; khai thác hải sản như hải sâm, đồi mồi, ốc vân, yến sào…. Bao đời nay, ngư dân Việt Nam như ngư dân ở huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) đã đến khai thác, coi biển Hoàng Sa là nhà, là nguồn sống chính của mình.

Những lợi thế lớn lao về hàng hải, quân sự, nhất là về tài nguyên của Biển Đông, của Việt Nam không phải nước nào cũng có. Theo ước tính của Bộ Địa chất và Tài nguyên khoáng sản CHND Trung Hoa thì ở quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu khí và khí đốt tự nhiên lên đến 17,7 tỷ tấn, được xếp vào một trong 4 khu vực có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Biển Đông là khu vực có hải sản phong phú. Đây là một trong những khu vực có lưu lượng tàu thuyền giao lưu đông đúc nhất thế giới. Hiện có hơn nửa số tàu chở dầu siêu cấp thế giới chạy qua vùng biển Trường Sa.

Tiềm năng là vậy, nhưng nhiều năm qua, việc khai thác tài nguyên, khoáng sản, hải sản, hàng hải của Việt Nam chưa thực hiện được bao nhiêu. Việc khai thác dầu mỏ, hải sản cũng còn thể hiện tính manh mún, nhỏ lẻ…

Luật Biển Việt Nam – cơ sở pháp lý tạo đà cho phát triển

Luật Biển Việt Nam đã dành chương IV cho “Phát triển kinh tế biển”. Việc phát triển kinh tế được thực hiện trên nguyên tắc: “1- Phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; 2- Gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển; 3- Phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; 4- Gắn với phát triển kinh tế- xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo” (Điều 42). Luật cũng khẳng định Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế: “1- Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển; 2- Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác; 3- Du lịch biển và kinh tế đảo; 4- Khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản; 5- Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển; 6- Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển” (Điều 43). Quy hoạch phát triển kinh tế biển (Điều 44) được lập dựa trên các căn cứ chiến lược, định hướng, kết quả điều tra, giá trị tài nguyên, nguồn lực… Theo đó, “Nhà nước có chính sách đầu tư xây dựng, phát triển các khu kinh tế, cụm công nghiệp ven biển, kinh tế các huyện đảo theo quy hoạch, bảo đảm hiệu quả, phát triển bền vững. Việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển thực hiện theo quy định cuả Chính phủ”. Đặc biệt, “1- Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới hậu cần biển, phát triển kinh tế các huyện đảo; có chính sách ưu đãi để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư sinh sống trên các đảo. 2-Nhà nước khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư khai thác tiềm năng và thế mạnh phát triển trên các đảo; 3- Nhà nước khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tăng cường hoạt động ngư nghiệp và các hoạt động khác trên biển, đảo; bảo vệ hoạt động của nhân dân trên biển, đảo…”(Điều 46).

Những thách thức về việc bảo vệ chủ quyền

Trải qua nhiều chục năm kháng chiến, giải phóng dân tộc, lâu dài, ác liệt đất nước ta mới đảm bảo tương đối sự toàn vẹn lãnh thổ. Việc thực hiện Luật Biển Việt Nam rồi đây vẫn đặt ra nhiều thách thức, khi lợi dụng “đục nước, béo cò”, vì mối lợi ở Biển Đông, Trung Quốc đã “lấy thịt đè người” xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, và một phần quần đảo Trường Sa. Cũng xin điểm lại đôi nét về sự vi phạm pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Ý đồ của người Trung Quốc xâm chiếm nguồn lợi ở Biển Đông có từ đầu thế kỷ XX bắt đầu khi năm 1909, chính quyền Quảng Đông cử một đội khảo sát tìm tới Hoàng Sa. Vậy nhưng ý đồ này dã bị dập tắt ngay khi các năm 1921, 1930, 1932, 1933 Pháp liên tục tuyên bố các quần đảo này là chủ quyền của An Nam (Việt Nam), lập địa danh sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên, Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Phân đội cảnh sát Việt đã thường xuyên đồn trú ở Hoàng Sa. Chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, vị thế của Pháp, Nhật có sự thay đổi, Tưởng Giới Thạch đã tranh thủ hiện diện trên đảo Phú Lâm của Hoàng Sa. Chính quyền Trung Hoa Dân quốc đã tuyên bố giữ phần và vẽ ra cái bản đồ trong đó có cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm trọn Biển Đông. Năm 1949, nước CHND Trung Hoa ra đời, Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan, và rồi Trung Quốc đã tự tuyên bố “quần đảo Tây Sa, Nam Sa” (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) là của mình. Lợi dụng Pháp bỏ chạy khỏi Đông Dương, Trung Quốc đã cho quân ra chiếm các đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Đài Loan cũng cho quân ra chiếm đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa. Khi ấy, quân đội chính quyền Việt Nam Cộng hoà đóng quân ở các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa và hầu hết các đảo ở Trường Sa. Các cuộc đụng độ của quân lính Việt Nam Cộng hòa và quân Trung Quốc đã liên tục xảy ra. Năm 1974, nhân khi chính quyền Sài Gòn suy yếu, Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm Hoàng Sa làm cho 58 binh sĩ và thuỷ thủ Việt Nam Cộng hoà tử nạn. Mặc dù sau đó, Chính phủ Cách mạng lâm thời CHMN Việt Nam, cũng như Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam liên tục tuyên bố chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đối với hai quần đảo này, liên tục tố cáo sự xâm lược của Trung Quốc trên trường quốc tế, nhưng Trung Quốc vẫn làm ngơ. Ngày 14-3-1988 Trung Quốc tiếp tục tấn công, đánh chiếm các nhóm đảo đá ngầm ở Trường Sa, đánh chìm 3 tàu Hải quân Việt Nam, 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam đã anh dũng hy sinh.

Không phải đến bây giờ Luật Biển Việt Nam, mới chỉ rõ chủ quyền về biển, về các đảo, quần đảo trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Sau khi đất nước thống nhất, ngày 12-5-1977, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ra tuyên bố thứ nhất về đường cơ sở để xác lập lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tháng 3-1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố Bị vong lục về Biên giới Việt- Trung, trong đó tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa…Tuy nhiên, trước nguồn lợi quá lớn ở biển Đông, với mưu đồ xâm chiếm, Trung Quốc đã không ngừng tiếp tục leo thang.

Chiếm được Hoàng Sa, một số đảo ở Trường Sa, Trung Quốc đã lập tức đi vào khai thác. Tháng 5-1992, Trung Quốc cho phép Công ty Crestone của Mỹ thăm dò dầu khí ở phía Tây Trường Sa, ngay cạnh mỏ dầu Đại Hùng, nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ biển Việt Nam 250 km, cách đảo Hải Nam tới 800 km. Các năm sau đó, Trung Quốc tiếp tục cho tiến hành thăm dò dầu khí ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ của Việt Nam. Năm 1994, Công ty của Crestone cùng Trung Quốc khai thác bãi Vạn An Bắc 21 (lô 133, 134, 135), đề nghị chia phần cho Việt Nam. Liên tục năm 1995, 1996, Trung Quốc tiếp tục đưa giàn khoan Nam Hải-02, Nam Hải- 06 vào hoạt động sâu trong Vịnh Bắc Bộ, vào sâu trong vùng biển Việt Nam 3 hải lý. Năm 1998, tàu Hải Dương 4 của Trung Quốc tiến hành thăm dò phía Nam Hoàng Sa, cách đường cơ sở của Việt Nam 155 hải lý. Năm 2008, Tập đoàn Dầu khí Trung Quốc CNOOC ltd công bố dự án đến gần 30 tỷ USD để khoan tìm dầu khí trên Biển Đông…

Liên tục những năm gần đây, cùng với việc “leo thang”, bằng mọi thủ đoạn biến không thành có để chứng minh chủ quyền, Trung Quốc đã liên tục bắt giữ các tàu cá Việt Nam, đưa nhiều tàu cá Trung Quốc xuống Biển Đông, tăng cường tàu hải giám, tàu quân sự, tập trận trên Biển Đông, áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá…Song song với nó, là việc tăng cường thăm dò, khai thác, phá hoại kinh tế và việc khai thác của Việt Nam. Ngày 26-5-2011, ba tàu hải giám của Trung Quốc liều lĩnh thâm nhập lãnh hải của Việt Nam, phá hoại thiết bị và cản trở tàu khảo sát Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đang hoạt động tại vùng biển miền Trung chỉ cách mũi Đại Lãnh của tỉnh Phú Yên 120 hải lý. Gần đây Trung Quốc còn ngang nhiên kêu gọi đấu thầu các lô khai thác dầu khí nằm trên vùng biển của Việt Nam, tiếp tục tăng cường tàu cá lên đến 23.000 tàu, các tàu hải giám, quân sự, những tàu lớn, giàn khoan khủng nhất… nhằm chiếm trọn “kho” dầu, khí ở biển Đông.

Để đòi lại chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và ở Trường Sa cũng như để phát triển kinh tế biển một cách toàn diện đối với chúng ta thật không dễ dàng. Với lòng mong muốn hoà bình, ổn định, nhất là trong xu thế toàn cầu hoá, Nhà nước ta khẳng định chủ trương giải quyết các vấn đề biển, đảo, nhất là ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng biện pháp hoà bình. Như đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tuyên bố: Với việc công bố Luật Biển Việt Nam, Nhà nước ta đã khẳng định Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, quyết tâm phấn đấu vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Kiên Long
daidoanket.vn

Bài 4: Kỳ 1- Khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam

Việt Nam là quốc gia biển. Từ bao đời nay, người dân Việt Nam đã gắn bó, sinh tồn cùng biển. Thời phong kiến xa xưa, các triều đại Việt Nam đã định ra các chế độ quản lý vùng đất, vùng trời, khai thác biển. Năm 1994 nước ta đã trở thành thành viên của Công ước LHQ về Luật Biển 1982, song vẫn chưa xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan để bảo vệ, khai thác biển. Năm 2003 Luật Biên giới quốc gia, rồi năm 2005 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam mới được ban hành. Vừa qua, Nhà nước ta đã tiếp tục công bố Luật Biển Việt Nam. Luật Biển Việt Nam ra đời có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quốc gia biển Việt Nam.

Luật Biển Việt Nam được ban hành đã là cơ sở pháp lý quan trọng
trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo nước ta

Khẳng định rõ chủ quyền lãnh thổ

Với hơn 3200 km đất liền giáp Biển Đông, với nhiều đảo, quần đảo, việc xác định ranh giới, khu vực lãnh thổ, những quy định về bảo tồn, khai thác mặt nước, tài nguyên trên biển và dưới đất sẽ rất quan trọng cho quốc gia biển Việt Nam. Trong 9 quốc gia là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Thái Lan, Campuchia và Singapore với 3,5 triệu Km2 Biển Đông, thì Việt Nam là nước có diện tích biển thuộc chủ quyền lớn. Biển Đông là nơi có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên phong phú, đặc biệt là dầu khí và hải sản. Điều này dễ xảy ra tranh chấp, khó cho việc quản lý. Tuy nhiên, mọi sự phân định, điều chỉnh đã được Liên Hợp Quốc phân định bằng Công ước Luật Biển năm 1982 với 320 điều khoản, 9 phụ lục. Đã có 161 quốc gia và tổ chức quốc tế tham gia Công ước này, trong đó có 7 quốc gia ven Biển Đông: Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singgapore, Brunei.

Luật Biển Việt Nam (7 chương, 55 điều) được xây dựng trên cơ sở các quy định của Công ước Luật Biển 1982, tham khảo các thông lệ quốc tế, trên cơ sở thực tiễn, yêu cầu phát triển kinh tế, an ninh, quốc phòng nước ta. Luật đã khẳng định rõ chủ quyền lãnh thổ trên cơ sở thực tế và theo quy định quốc tế. Phạm vi điều chỉnh của luật nêu rõ: “Luật này quy định về đường cơ sở, nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và các quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển của Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo” (Điều 1). Luật đã khẳng định giá trị tuyệt đối về tính pháp lý, nhất là về mặt chủ quyền, cũng như sự tôn trọng quy định của quốc tế: “1-Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của luật khác về chủ quyền, chế độ pháp lý của vùng biển Việt Nam thì áp dụng quy định của Luật này; 2-Trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó”(Điều 2).

Vùng biển Việt Nam và chế độ pháp lý

Luật Biển Việt Nam đã dành cả chương II, quy định về “Vùng biển Việt Nam”. Trong đó, đã quy định về Xác định đường cơ sở (Điều 8): “Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố…”; Nội thuỷ (Điều 9): “Nội thuỷ là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam”; “Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thuỷ như trên lãnh thổ đất liền”(Điều 10). Điều 11 quy định: “Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển. Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam”. Về chế độ pháp lý của lãnh hải (Điều 12): “1-Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; 2-Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền Việt Nam; 3-Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hoà bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế, mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên; 4; Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên; 5-Nhà nước có chủ quyền đối với mọi hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam”.

Từ quy định của Công ước Luật Biển quốc tế, Luật Biển Việt Nam quy định “Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải” (Điều 13) và Chế độ pháp lý (Điều 14); “Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở” (Điều 15) và Chế độ pháp lý (Điều 16); “Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở, hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500mét” (Điều 17). Về Chế độ pháp lý của thềm lục địa: “1- Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên; 2- Quyền chủ quyền quy định tại Khoản 1 Điều này có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam; 3- Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất cứ mục đích nào ở thềm lục địa; 4- Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam. Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam; 5- Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam” (Điều 18).

Quy định rõ về các đảo, quần đảo

Luật Biển Việt Nam đã quy định rõ về đảo, quần đảo. Về nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo, quần đảo, Luật nêu rõ: “1-Đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho đời sống kinh tế riêng thì có nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; 2-Đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; 3- Nội thuỷ, lãnh hải , vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được xác định theo quy định tại các Điều 9, 11, 13, 15, 17 của Luật này và được thể hiện bằng hải đồ, bản kê toạ độ địa lý do Chính phủ công bố (Điều 20); “Nhà nước thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam; Chế độ pháp lý đối với vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được thực hiện theo quy định tại các Điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này” (như phần lớn đã viện dẫn trên đây). Và như ngay tại Điều 1 của Luật phạm vi điều chỉnh đã viện dẫn, chủ quyền của Việt Nam, chế độ pháp lý trên biển, các đảo, quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa đã được quy định cụ thể, rõ ràng.

Bảo vệ chủ quyền, trách nhiệm của mọi công dân

Luật Biển Việt Nam được ban hành đã là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển đảo nước ta. Mọi công dân Việt Nam đều phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình như nguyên tắc của Luật đã quy định: “Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và các quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển” (Điều 4).

Luật Biển Việt Nam được xây dựng từ năm 1998, qua hàng chục năm nghiên cứu, với những cơ sở vững chắc, lấy ý kiến của các công dân trong nước và nước ngoài, đã được Quốc hội khoá XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua đạt tỷ lệ 99,8% số phiếu. Vừa qua với một loạt sự kiện phát lộ như việc xuất hiện một số các bản đồ cổ của Trung Quốc như “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” thời nhà Thanh thể hiện rõ biên giới Trung Quốc, hay bộ tem của Trung Hoa Dân Quốc in bản đồ Trung Hoa không hề có Hoàng Sa, Trường Sa, hoặc nhiều phát hiện sau đó, càng chứng minh quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa từ lâu đời là của Việt Nam, càng chứng minh tính pháp lý vững chắc của Luật Biển Việt Nam.

Kiên Long
daidoanket.vn