Thư viện

Mười ngư dân trở về từ cõi chết

Được tin 10 ngư dân tàu cá ĐNa – 90152 bị tàu cá của Trung Quốc đâm trực diện vào lúc 16giờ ngày 26-5 thoát chết trong gang tấc; được tàu Cảnh sát biển lai dắt và đưa về cảng cá Lý Sơn – đã có rất nhiều người từ Đà Nẵng vào và ngư dân Lý Sơn đến chúc mừng những người từ cõi chết trở về.

Tiếp tục đọc

Trung Quốc lấy cớ gì tấn công ngư dân Việt Nam ở Hoàng Sa?

Trung Quốc lấy cớ gì tấn công ngư dân Việt Nam ở Hoàng Sa?(Petrotimes) – Theo hãng thông tấn AP, Trung Quốc đã đơn phương áp đặt phi lý cái gọi là “lệnh cấm tàu thuyền nước ngoài đánh bắt cá hay khảo sát” ở 2/3 khu vực Biển Đông từ ngày 1/1/2014. Lấy cớ thực thi lệnh vô lý và vô căn cứ này, một tàu kiểm ngư Trung Quốc đã tấn công tàu cá của ngư dân Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, thuộc lãnh thổ Việt Nam hôm 3/1.

Tiếp tục đọc

Dùng vũ lực tại Hoàng Sa, TQ vi phạm nguyên tắc gì?

 – Những nguyên tắc nào của luật pháp quốc tế đã bị Trung Quốc vi phạm với cách hành xử của mình đối với tàu cá Việt Nam tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa?

Ngày 20/3/2013, tàu cá mang số hiệu QNg 96382 của ngư dân tỉnh Quảng Ngãi đã bị tàu Trung Quốc truy đuổi và bắn cháy cabin tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Vụ việc này đặt ra những nghi ngại về cách hành xử và thái độ của Trung Quốc trong các vấn đề về biên giới lãnh thổ cũng như thái độ của quốc gia này trong việc tôn trọng các quy định của luật pháp quốc tế.

Hành vi sử dụng vũ lực “sai trái và vô nhân đạo” của lực lượng hải quân Trung Quốc như lời của Người Phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam[1] “đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế.” Hành vi đó đã gặp phải sự phản đối không chỉ của Việt Nam – quốc gia có chủ quyền không thể tranh cãi với Hoàng Sa – mà cả của Hoa Kỳ, quốc gia ở tận bờ bên kia Thái Bình Dương.[2]

Hai câu hỏi đặt ra là: “Những nguyên tắc nào của luật pháp quốc tế đã bị Trung Quốc vi phạm với cách hành xử của mình?” và “Tại sao Hoa Kỳ, quốc gia không có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, cũng bất bình với sự việc ngày 20/3/2013 vừa qua?”.

Trung Quốc, vũ lực, Hoàng Sa, tàu cá, luật biển, UNCLOS, Biển ĐôngViệc bắn trực tiếp pháo sáng vào cabin tàu nơi nhiệt độ cao có nguy cơ gây cháy (như thực tế cho thấy) không thể được coi là phù hợp với yêu cầu “bảo đảm không đe dọa sinh mạng”.

Vi phạm nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế

Sau khi chứng kiến những đau thương và mất mát gây ra bởi các cuộc chiến tranh ở nửa đầu thế kỷ XX, cộng đồng quốc tế đã cùng nhau quyết tâm xây dựng một trật tự thế giới mới mà trong đó việc sử dụng vũ lực bị đặt ra khỏi vòng pháp luật. Hiến chương Liên hợp quốc được thông qua tại San Fransico, Hoa Kỳ, năm 1945 đã ghi nhận nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế tại Điều 2(4) như sau:

Tất cả các Thành viên [Liên hợp quốc] trong quan hệ quốc tế giữa họ phải tránh sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kỳ Quốc gia nào, hoặc theo một cách không phù hợp với mục đích của Liên hợp quốc.

Nhìn vào từ ngữ của điều khoản nêu trên, có thể sẽ có người đặt ra câu hỏi là liệu khái niệm “sử dụng vũ lực” có nên được hiểu theo nghĩa là những hành vi “chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị” của các quốc gia khác hay không?

Câu trả lời có tính lịch sử và đơn giản đó là cụm từ “chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị” chỉ được đưa vào trong Hiến chương Liên hợp quốc theo đề nghị của Australia để bảo vệ các quốc gia nhỏ trong quan hệ quốc tế. Thực tế đàm phán Điều 2(4) Hiến chương Liên hợp quốc cho thấy các quốc gia không hề có ý định sử dụng cụm từ “chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ” để giới hạn hay giải thích khái niệm “sử dụng vũ lực”.[3]

Hành vi của tàu hải quân Trung Quốc rõ ràng là sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế do nó liên quan đến một tàu của Nhà nước Trung Quốc và tàu cá mang quốc tịch Việt Nam tại vùng biển của Việt Nam mà Trung Quốc đã biến thành vùng biển “tranh chấp”. Việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc là trái với nguyên tắc đã được ghi nhận tại Điều 2(4) Hiến chương Liên hợp quốc.

Đáng lưu ý là trong lĩnh vực luật biển, nguyên tắc không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đã được cụ thể hóa thành nghĩa vụ sử dụng biển một cách hòa bình. Nghĩa vụ này được ghi nhận trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước Luật Biển) mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên. Điều 301 của Công ước Luật Biển quy định rằng:

Sử dụng biển một cách hòa bình

Trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo Công ước này, các Quốc gia Thành viên phải tránh sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của bất kỳ Quốc gia nào hoặc theo những cách khác không phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế như được thể hiện trong Hiến chương của Liên hợp quốc.

Như vậy, việc Trung Quốc bắn cháy tàu cá của Việt Nam cũng vi phạm nghĩa vụ sử dụng biển vì mục đích hòa bình như đã được quy định tại Điều 301 của Công ước Luật Biển.

Trong vụ việc cụ thể liên quan đến tàu cá QNg 96382 ngày 20/3/2013, hành vi của Hải quân Trung Quốc còn vi phạm các chuẩn mực quốc tế về hoạt động hành pháp trên biển.

Vi phạm các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động hành pháp trên biển

Khi được hỏi về sự việc tàu cá QNg 96382 nói trên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Hồng Lỗi, ngang nhiên khẳng định: “Phản ứng của cơ quan chức năng của Trung Quốc trước một tàu cá bất hợp pháp của Việt Nam là đúng đắn và hợp lý”.[4]

Việc cho rằng hoạt động của tàu các Việt Nam là “bất hợp pháp” là một sự vu cáo trắng trợn vì khu vực mà tàu cá Việt Nam hoạt động là vùng biển gần đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, nơi Việt Nam có chủ quyền cũng như quyền khai thác biển phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, tạm thời gác lại vấn đề này sang một bên, hãy phân tích việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc thuần túy từ các chuẩn mực của luật pháp quốc tế về vấn đề này để xem nó “đúng đắn và hợp lý” đến đâu?

Những chuẩn mực của luật pháp quốc tế điều chỉnh hoạt động hành pháp trên biển, kể cả việc sử dụng vũ lực, đã được khẳng định và phát triển trong các án lệ của các tòa án quốc tế. Kết tinh của những chuẩn mực này đã được thể hiện trong án lệ M/V “SAIGA” (No. 2) (Saint Vincent and Grenadines v. Guinea) – một trong những vụ việc đầu tiên mà Tòa án quốc tế về Luật Biển thụ lý. Tòa đã tuyên bố rõ rằng:

Phải tránh việc sử dụng vũ lực càng xa càng tốt và khi không thể tránh được thì vũ lực không được phép sử dụng vượt quá những gì được coi là hợp lý và cần thiết trong hoàn cảnh. Những cân nhắc có tính nhân đạo phải được áp dụng trong luật biển như chúng vẫn được áp dụng trong các lĩnh vực khác của luật pháp quốc tế.[5]

Trong phán quyết của mình, Tòa án quốc tế về luật biển, trên cơ sở tổng kết các án lệ trước đó, cũng diễn tả thông lệ quốc tế trong việc tiến hành hoạt động hành pháp và sử dụng vũ lực trên biển như sau: phương tiện truy đuổi cần ra một tín hiệu âm thanh hay hình ảnh theo chuẩn đã được quốc tế công nhận trước khi tiến hành biện pháp khác, chẳng hạn như nổ súng bắn trước mũi tàu; chỉ sau khi tất cả những biện pháp này không thành công thì “vũ lực mới được sử dụng như là phương tiện cuối cùng [nhưng] ngay cả khi đó cũng cần phải đưa ra cảnh báo phù hợp với tàu bị truy đuổi và cần thực hiện tất cả các nỗ lực để bảo đảm sinh mạng không bị đe dọa “.[6]

Với những gì mà ngư dân Việt Nam kể lại, khó có thể nói rằng các biện pháp phi bạo lực đã được áp dụng để yêu cầu tàu QNg 96382 của Việt Nam dừng lại. Nói cách khác khó có thể biện minh rằng hành vi sử dụng vũ lực của Trung Quốc là biện pháp cuối cùng.

Hơn nữa, việc bắn trực tiếp pháo sáng vào cabin tàu nơi nhiệt độ cao có nguy cơ gây cháy (như thực tế cho thấy) không thể được coi là phù hợp với yêu cầu “bảo đảm không đe dọa sinh mạng”.

Hành vi của lực lượng hải quân Trung Quốc rõ ràng là “sự phớt lờ” các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động hành pháp trên biển và là “sự bất chấp” các yêu cầu về nhân đạo trong việc sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế.

Có lẽ vì hiểu được sự sai trái trong hành vi của mình, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã vòng vo không dám trả lời thẳng câu hỏi liệu có hay không việc tàu Trung Quốc bắn vào tàu cá Việt Nam.[7]

Sau đó thì giới chức quân sự Trung Quốc cũng đưa ra tuyên bố biện minh cho hành động của hải quân mình. Ngoài việc tiếp tục vu cáo các tàu Việt Nam xâm nhập trái phép vùng biển của Trung Quốc, giới chức quân sự Trung Quốc đãmô tả lại sự việc ngày 20/3/2013 như sau: tàu tuần tra Trung Quốc đã cố gắng cảnh báo tàu cá bằng còi, la hét và vẫy cờ; chỉ sau khi không thành công, lực lượng hải quân Trung Quốc mới bắn hai quả pháo sáng màu đỏ và cả hai quả pháo sáng này đã tắt trên không trung”.[8]

Như tờ Washington Post đã nhận xét, Trung Quốc đã “miêu tả mình như là một hình mẫu của sự kiềm chế”. [9] Tờ báo này cũng rất chính xác khi chỉ ra rằng những lời biện minh này chỉ được đưa ra “sau một tuần im lặng”[10] – một sự chậm trễ khó tin từ góc độ thông tin quân đội của một quốc gia có lực lượng vũ trang được hiện đại hóa nhanh chóng và đang ngày càng can dự nhiều hơn vào các hoạt động quân sự quốc tế.

Càng khó tin hơn nữa với tuyên bố rằng hai quả pháo sáng chỉ được bắn lên trời và tắt trên không trung vì nếu như thế thì sao lại có chuyện pháo sáng rơi vào cabin tàu có nóc và gây hỏa hoạn. Không thể không kết luận là giới chức quân sự Trung Quốc đã “bóp méo” sự thực bằng những lời giả dối. [11]

Tuy nhiên, từ sự ngụy biện này, có thể thấy rằng dường như Trung Quốc cũng hiểu về những chuẩn mực trong hoạt động hành pháp và sử dụng vũ lực trên biển đấy chứ?

Nếu vậy, có lẽ họ cần điều tra, xử lý nghiêm” hành vi của tàu hải quân 786 ngày 20/3/2013 như phía Việt Nam đã yêu cầu.

Nói như vậy có phải là tàu hải quân Trung Quốc sẽ được phép sử dụng vũ lựcmột cách hợp lý khi cần thiết (nếu điều này là không thể tránh khỏi) đối với tàu cá của Việt Nam ở khu vực quần đảo Hoàng Sa không?

Câu trả lời rõ ràng là KHÔNG. Lý do đơn giản vì: khu vực hoạt động của những tàu cá Việt Nam như tàu QNg 96382 là nơi Việt Nam có chủ quyền và quyền riêng biệt trong việc quản lý và khai thác biển theo các quy định của luật pháp quốc tế; việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực không đem đến cho Trung Quốc một danh nghĩa nào và Trung Quốc không được phép tiến hành các hoạt động hành pháp đối với các tàu cá của Việt Nam, chứ đừng nói đến việc sử dụng vũ lực chống lại họ.

Hành vi đuổi và bắn cháy tàu cá Việt Nam của tàu hải quân Trung Quốc tại vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa là sự vi phạm chủ quyền của Việt Nam cùng các nghĩa vụ liên quan.

Vi phạm chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa

Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa đã được chứng minh thông qua những bằng chứng lịch sử và dựa trên các cơ sở pháp lý vững chắc như đã được phân tích khoa học trong nhiều công trình của các học giả trong và ngoài nước.[12] Với chủ quyền của mình ở Hoàng Sa, Việt Nam cũng có quyền khai thác tài nguyên ở những vùng biển của các vị trí đảo trong quần đảo Hoàng Sa phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế. Việc ngư dân Việt Nam từ lâu nay vẫn hoạt động đánh bắt ở vùng biển gần Hoàng Sa vừa là bằng chứng xác đáng về chủ quyền và quyền khai thác biển của Việt Nam ở đây vừa là sự thực thi hợp pháp các quyền đó.

Chính vì thế, khi được hỏi về phản ứng của Việt Nam đối với việc tàu hải quân Trung Quốc đuổi và bắn cháy cabin tàu QNg 96382 tại khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị đã khẳng định rõ hành vi đó “là vụ việc hết sức nghiêm trọng, vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, đe dọa tính mạng và gây thiệt hại tài sản của ngư dân Việt Nam.”[13]

Thực vậy, luật pháp quốc tế định rõ: chủ quyền của quốc gia có tính chất tuyệt đối và riêng biệt, theo đó chỉ quốc gia có chủ quyền mới được tiến hành các biện pháp quản lý có tính quyền lực nhà nước trên lãnh thổ của mình. Việc áp dụng nguyên tắc này cũng mở rộng ra lãnh hải – vùng biển quốc gia có chủ quyền đầy đủ và chỉ có nghĩa vụ tôn trọng quyền đi lại không gây hại của tàu thuyền các quốc gia khác – và vùng đặc quyền kinh tế – nơi quốc gia có quyền chủ quyền trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên biển.[14] Các quốc gia khác có nghĩa vụ tôn trọng tính tuyệt đối và riêng biệt của chủ quyền hay quyền chủ quyền. Hệ quả của điều này là một quốc gia không được phép thực hiện những biện pháp hành pháp trên lãnh thổ hay vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của một quốc gia khác nếu không có sự đồng ý của quốc gia đó.[15]

Tàu hải quân Trung Quốc tiến hành đuổi tàu cá của Việt Nam tại vùng biển của Việt Nam rõ ràng vi phạm chủ quyền và nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của Việt Nam vì không có bằng chứng nào cho thấy hành vi này của tàu hải quân Trung Quốc nhận được sự đồng ý của Nhà nước Việt Nam. Thực tế chứng minh một điều ngược lại: Việt Nam luôn phản đối bất kỳ hành vi thực thi quyền lực nhà nước của Trung Quốc ở đây.[16]

Tuy nhiên, dù Nhà nước Việt Nam vẫn thực hiện chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa một các hòa bình, ổn định và liên tục ít nhất từ thế kỷ thứ 17, lợi dụng những khó khăn trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, Trung Quốc đã dần dần chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa từ giữa thế thế kỷ XX. Sau lần sử dụng vũ lực vào năm 1974, Trung Quốc đã giành quyền kiểm soát hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa. Cần phải nói rằng, việc sử dụng vũ lực để chiếm đóng lãnh thổ không hề đem lại một danh nghĩa nào về chủ quyền do luật pháp quốc tế cùng với việc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế cũng loại bỏ việc sử dụng vũ lực như là một phương thức hợp pháp để xác lập chủ quyền lãnh thổ nữa. Chủ quyền của Việt Nam tại như vậy Hoàng Sa vẫn được duy trì và Trung Quốc không có bất kỳ quyền gì ở đây cũng như đối với vùng biển liên quan. Dù vậy, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình khi gặp biểu Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 9/1975 đã nói: “Giữa hai nước có tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau này sẽ bàn bạc giải quyết.”[17] Nếu thế, hành vi của hải quân Trung Quốc ở đây cũng vi phạm nghĩa vụ giải quyết hòa bình các tranh chấp .

Vi phạm nguyên tắc giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế

Cùng với việc đặt ra ngoài vòng pháp luật việc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, luật pháp quốc tế cũng đặt ra nghĩa vụ cho các quốc gia trong việc “giải quyết các tranh chấp quốc tế giữa họ bằng các biện pháp hòa bình”. Nghĩa vụ này được ghi nhận rõ tại Điều 2(3) của Hiến chương Liên hợp quốc và được làm rõ hơn bằng Tuyên bố Manila về việc giải quyết hòa bình tranh chấp giữa các quốc gia năm 1982 (Tuyên bố Manila). Khoản 7 của Tuyên bố Manila chỉ rõ rằng “cả việc tồn tại tranh chấp lẫn sự thất bại của một cơ chế giải quyết hòa bình tranh chấp đều không cho phép bất kỳ bên nào của tranh chấp được sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực.”[18]

Đối với lãnh thổ đang tranh chấp, luật pháp quốc tế đặc biệt nhấn mạnh việc cấm sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực. Điều này được khẳng định trong Tuyên bố về các nguyên tắc của luật pháp quốc tế liên quan đến quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc năm 1970 (Tuyên bố về quan hệ hữu nghị và hợp  tác) [19] – văn kiện được coi là lời giải thích đầy đủ và chính xác các nguyên tắc quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc. Liên quan đến nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế nêu tại Điều 2(4) của Hiến chương Liên hợp quốc bên trên, Tuyên bố về quan hệ hữu nghị và hợp tác quy định:

Mọi quốc gia có nghĩa vụ tránh sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực để vi phạm những biên giới quốc tế hiện có với quốc gia khác hoặc như là một phương tiện để giải quyết tranh chấp quốc tế, kể cả tranh chấp lãnh thổ hay những vấn đề liên quan đến biên giới các quốc gia.

Riêng trong vấn đề Biển Đông, giữa Việt Nam và Trung Quốc còn có những cam kết ở cấp độ song phương và khu vực về nghĩa vụ giải quyết hòa bình tranh chấp, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực. Đó là Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc[20] và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông.[21]

Cùng với nghĩa vụ về việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, luật pháp quốc tế cũng đặt ra nghĩa vụ kiềm chế cho các bên tranh chấp khi tranh chấp chưa được giải quyết. Nghĩa vụ này được quy định trong cả Tuyên bố về quan hệ hữu nghị và hợp tác năm 1970 và đoạn 8 của Tuyên bố Manila năm 1982, theo đó các quốc gia có tranh chấp quốc tế “phải tránh những hành động có thể làm trầm trọng thêm tình hình theo cách gây đe dọa đến việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và phải hành động theo đúng với mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc”.[22] Tương tự như vậy, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông cũng nêu rõ: “các bên liên cam kết kiềm chế không thực hiện các hoạt động có thể gây phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp và gây ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định…”.[23]

Như vậy, việc lực lượng hải quân Trung Quốc sử dụng vũ lực đã vi phạm nghĩa vụ giải quyết hòa bình tranh chấp liên quan đến quần đảo Hoàng Sa cũng như vùng biển của quần đảo này đồng thời cũng vi phạm nghĩa vụ kiềm chế trong quá trình giải quyết tranh chấp. Trung Quốc đã tận dụng lợi thế về quân sự của mình để duy trì việc kiểm soát bất hợp pháp ở quần đảo Hoàng Sa và vùng biển xung quanh theo cách đe dọa hòa bình và an ninh của khu vực. Nhìn nhận vấn đề từ góc độ này, sẽ không có gì là ngạc nhiên khi biết được Phó Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Patrick Ventrell, tại họp báo ngày 26/3/2013, đã nói Hoa Kỳ “phản đối mạnh mẽ việc đe dọa hoặc dùng vũ lực hoặc áp bức của bất kỳ bên nào để đẩy mạnh yêu sách của mình ở Biển Đông”.[24] Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng có lý khi chỉ rõ hành động của tàu hải quân Trung Quốc “đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, trái với tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông.”[25]

Thay lời kết

Với những phân tích ở trên, có thể hiểu rõ lý do tại sao vụ việc tàu QNg 96382 ngày 20/3/2013 không chỉ gặp phải sự phản ứng mạnh mẽ của Việt Nam và còn gặp sự phản đối của Hoa Kỳ. Sự vi phạm của Trung Quốc đó đặt ra những nghĩa vụ cho Trung Quốc theo luật pháp quốc tế. Trước hết, Trung Quốc phải được chấm dứt ngay hành vi vi phạm và đưa ra những bảo đảm rằng hành vi đó không tái diễn.[26] Trong trường hợp cụ thể của vụ việc tàu QNg 96382 – một vụ việc mà hành vi vi phạm của Trung Quốc gây thiệt hại, Trung Quốc có nghĩa vụ bồi thường[27] như Việt Nam đã yêu cầu.[28]

Những vụ việc như sự kiện ngày 20/3/2013 vừa qua chủ yếu bắt nguồn từ việc Trung Quốc đang lợi dụng ưu thế từ sự chiếm đóng bất hợp pháp của mình để nhất quyết từ chối giải quyết vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Đã đến lúc Trung Quốc cần tôn trọng lời nói của một nhà lãnh đạo có nhiều công lao cho sự phát triển của Trung Quốc và cùng Việt Nam giải quyết vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, hoặc thông qua đàm phán hoặc sử dụng cơ chế tài phán quốc tế.

Thái độ lẩn tránh của Trung Quốc không thể “làm biến mất” tranh chấp như Tòa án quốc tế đã chỉ rõ: “Liệu có tồn tại hay không một tranh chấp quốc tế là một sự xác định có tính khách quan. Việc chỉ chối bỏ sự tồn tại một tranh chấp không chứng tỏ rằng nó không tồn tại”.[29] Công luận quốc tế cũng có phán quyết của riêng mình: không một quốc gia nào, trừ Trung Quốc, bác bỏ thực tế Hoàng Sa là lãnh thổ tranh chấp.

Trong khi chưa giải quyết được tranh chấp ở Hoàng Sa, Trung Quốc không được phép có các hoạt động hành pháp chống lại tàu cá của Việt Nam, càng không được phép sử dụng vũ lực. Luật pháp quốc tế quy định rõ hoạt động hành pháp chỉ được tiến hành trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia.[30] Đáng lưu ý là chính Trung Quốc cũng thừa nhận rằng lực lượng hành pháp của một quốc gia không được phép thực thi pháp luật tại vùng biển đang tranh chấp. Quan điểm này được Bộ Ngoại giao Trung Quốc đưa ra khi tòa án Hàn Quốc xét xử thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố rằng phán quyết của tòa án Hàn Quốc là “không thể chấp nhận được” vì vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và Hàn Quốc chưa được phân định và do vậy Hàn Quốc không được áp dụng pháp luật quốc gia mình trong vụ việc.[31]

Trước khi kết thúc bài viết, có lẽ cần nói thêm vài lời về thái độ “quay đầu bỏ đi” của tàu hải quân Trung Quốc khi nhìn thấy tàu cá của Việt Nam bị cháy. Luật pháp quốc tế đặt ra nghĩa vụ về cứu trợ cho các tàu khi nhìn thấy tàu khác gặp nạn bất kể sự liên quan giữa chúng.[32] Trong trường hợp này, tàu hải quân Trung Quốc lại chính là “thủ phạm” gây ra tại nạn nhưng lại tránh ra xa để nhìn rồi bỏ đi. Với thái độ như vậy mà trong nội bộ Trung Quốc còn có ý kiến cho rằng Trung Quốc cần tăng cường việc gánh vác nghĩa vụ tìm kiếm, cứu nạn của mình ở Biển Đông theo quy định của các công ước quốc tế cũng như phù hợp với cái gọi là yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc.[33] Khó có thể không hoài nghi về ý đồ đằng sau lời kêu gọi này: Liệu đây có phải là một “chiêu bài” mới của Trung Quốc để đẩy mạnh những yêu sách phi pháp của mình ở Biển Đông dựa sức mạnh vượt trội so với các quốc gia khác khu vực chứ chẳng phải vì Trung Quốc tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế của mình?

Diễn biến vụ tàu QNg 96382bị tấn công

Theo lời kể của những người trong cuộc, [34] rạng sáng ngày 20/3/2013, tàu cá QNg 96382 của ngư dân Quảng Ngãi, Việt Nam, đang hoạt động nghề cá bình thường tại ngư trường truyền thống gần đảo Linh Côn thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì gặp tàu hải quân mang số hiệu 786 của Trung Quốc và đã rời khỏi vùng biển. Tàu hải quân của Trung Quốc đuổi theo và sau vài hải lý đã bắn pháo sáng vào cabin tàu cá của ngư dân Việt Nam gây cháy. Khi thấy cabin tàu cá của ngư dân Việt Nam bén lửa, tàu hải quân của Trung Quốc đã tránh ra xa rồi bỏ đi. Rất may là các bình gaz trên trên tàu dù bị cháy sém nhưng không phát nổ nên không có thiệt hại về tính mạng.

  • Anh Trí

vietnamnet.vn

Ngư dân “đổi đời” nhờ tôm hùm ở xã đảo Cam Bình

Ông Phé bảo, nhờ ngân hàng mà ông có “cần câu” để làm giàu. (Ảnh: T.H/Vietnam+)

“Hơn 50% số dân lúc nào cũng có khoảng 200-300 triệu đồng trong nhà, nhiều người đã trở thành triệu phú, tỷ phú… nhờ vào tôm hùm” – lời kể của anh bạn mới quen về quê hương Cam Bình khiến tôi bỏ lửng chuyến công tác, rẽ ngang vào xã đảo giàu có ở đất Cam Ranh (Khánh Hòa)…

Đảo tỷ phú

Bến đò Ba Ngòi nắng chói chang dù mới chỉ 7 giờ sáng. Thấy vị khách lạ nói giọng Bắc hỏi đến Cam Bình, anh lái thuyền có nước da đen nhẻm hồn nhiên: “Mua tôm hùm hở?…”

Sau một tiếng chao đảo giữa những cơn sóng lớn, nước táp lên khoang thuyền khiến vị khách đất Bắc lử đử vì say và ướt như chuột lội, tôi đã có mặt ở thôn Bình Ba-thôn giàu có nhất của Cam Bình.

Chỉ tay ra những chiếc bè nuôi tôm ngoài khơi, ngư dân Lê Văn Phé (61 tuổi) bảo rằng, cả vùng quê này lột xác là nhờ có tôm hùm.

Theo lời ông, chỉ mười năm trước Cam Bình còn nghèo lắm. Người dân sống hoàn toàn nhờ vào nghề đánh bắt thủy sản. Người có ghe, thuyền thì làm chủ, người không có thì làm vạn chài. Đánh bắt thì lúc được lúc chăng, phụ thuộc vào thời tiết, rồi nguồn thủy sản gần bờ cũng dần ít đi nên cuộc sống khá bấp bênh. Thậm chí có hộ thuộc diện đói nghèo.

Nghĩ cách làm ăn, nhiều ngư dân ở Bình Ba quyết định nuôi tôm hùm. Nhưng khi ấy, nguồn vốn đầu tư là một vấn đề nan giải. Bàn bạc với vợ, ông Phé dồn vốn liếng thả được 2 lồng tôm (mỗi lồng từ 80-100 tôm hùm, nuôi khoảng 16-17 tháng thì bán).

Năm 2000, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khánh Hòa cho người dân vay để phát triển nuôi tôm hùm, ông Phé như mở cờ trong bụng. Vay được 30 triệu đồng, ông Phé đầu tư thêm 3 lồng tôm nữa. Thế rồi, vừa làm vừa nhân rộng, tới nay ông Phé có trong tay 21 lồng. Trừ chi phí, năm 2012, ông Phé cũng “bỏ túi” trên 200 triệu đồng lợi nhuận.

Cũng như ông Phé, anh Lâm Tấn Hậu (35 tuổi) cho hay, 12 lồng nuôi tôm thịt và 20 lồng nuôi tôm giống của anh trong vài năm gần đây cho thu nhập đáng kể. Mấy năm nay, nhờ giá tôm hùm tăng, năm nào anh cũng lãi khoảng 300 triệu đồng.

Dẫn khách ra bè nuôi tôm nhà mình bằng thuyền nhỏ, anh Hậu bảo rằng nghề tôm hùm tuy có cực, nhưng cho thu nhập ổn định lại không gặp nguy hiểm như nghề đánh bắt. Thêm vào đó, anh có thể chủ động được thời gian để lo việc gia đình.

Cười thật tươi, anh Hậu khoe đã xây được nhà tầng với đầy đủ tiện nghi. Ngoài ra, anh mua chiếc tàu du lịch giá 240 triệu đồng để chở khách từ đất liền ra đảo thăm quan.

Anh Hậu cho hay, khi đã “rủng rỉnh,” anh sẽ chọn Ngân hàng NN&PTNT để gửi tiết kiệm.
(Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

“Chủ nợ” của ngân hàng

Trao đổi với phóng viên Vietnam+, ông Trần Văn Hóa, Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Cam Bình liên tục cảm ơn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, bởi nhờ có nguồn vốn của họ mà người dân nơi đây đã đổi đời.

Theo lời người đứng đầu Cam Bình, đã có thời điểm người dân vay Ngân hàng tới 45-47 tỷ đồng, nay số vay còn lại vào khoảng 20 tỷ đồng. Cả xã có 1.176 hộ dân thì chỉ còn 32 hộ nghèo, chiếm 2,27 % (năm 2010 là 10,5% hộ nghèo). Số hộ nuôi tôm là 900 hộ với 4.600 lồng tôm.

“Năm 2012, cả xã thu hoạch được trên 180 tấn tôm, bán được khoảng 250 tỷ đồng. Số hộ có sẵn từ 2-300 triệu trong nhà phải đến 50% số dân. Thu nhập của Cam Bình trung bình là 30 triệu đồng/người/năm, dẫn đầu toàn Khánh Hòa về thu nhập trung bình ở nông thôn,” ông Hóa phấn khởi.

Để hỗ trợ ngư dân, hàng năm xã đều phối hợp cùng các cán bộ khuyến ngư tỉnh, thành phố tập huấn cho người nuôi tôm các kỹ thuật nuôi trồng, chăm sóc. Khi có dịch bệnh đột xuất, xã và cán bộ khuyến ngư luôn túc trực cùng bà con để xử lý.

Ông Hóa cũng cho hay, năm 2012, xã đã thành lập 16 tổ tự quản nuôi trồng thủy sản và bảo vệ môi trường với 295 thành viên tham gia. Các tổ này đã hoạt động có hiệu quả như hỗ trợ giúp nhau kỹ thuật nuôi tôm, không bán tôm non, chống phá giá, bảo vệ môi trường sinh thái để giảm dịch bệnh tôm…

Có tiền, cuộc sống người dân đã thay đổi tích cực. Nhiều nhà cao tầng, kiên cố với các tiện nghi đắt tiền đã mọc lên tại xã đảo. Thậm chí, có người xây nhà nghỉ để phục vụ du khách đi du lịch tại xã đảo này.

“Trong tiêu chí nông thôn mới, Cam Bình đã thực hiện được 13/18 tiêu chí vì ở xã đảo không xét tiêu chí về thủy lợi,” ông Hóa nói.

Ông Trương Văn Căn, Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Cam Ranh cho hay, nhờ làm ăn hiệu quả, nhiều ngư dân ở Cam Bình đã đem tiền cho ngân hàng vay lại. Theo tính toán của ông Căn, có tới 30% số hộ dân từng vay vốn ngân hàng ở Cam Bình đã đem tiền tới gửi tiết kiệm.

Anh Lâm Tấn Hậu thì kể, dù đã có tiền song gia đình anh vẫn tiếp tục vay ngân hàng 70 triệu đồng để đầu tư thêm lồng nuôi tôm hùm bởi đây đã là con đường làm giàu phù hợp nhất với nhiều ngư dân ở xã đảo Cam Bình./.

Theo ông Nguyễn Xuân Huy, Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Khánh Hòa, đến cuối năm 2012, ngân hàng này đã cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn đạt 2.783 tỷ đồng, chiếm 73,6%. Riêng cho vay nuôi tôm hùm đạt 283 tỷ đồng.

Trung Hiền (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Nhổ neo, hướng ra Hoàng Sa

 – Sau những vụ việc tàu cá Việt Nam liên tiếp bị tàu Trung Quốc ngăn cản, bắn cháy khi đang đánh bắt, nhiều ngư dân vẫn quyết tâm ra Hoàng Sa đánh bắt, bất chấp hiểm nguy.

 Sáng 28/3, hàng chục con tàu của ngư dân xã Bình Châu (huyện Bình Sơn), xã An Hải, An Vĩnh (huyện Lý Sơn, Quảng Ngãi) vẫn nhổ neo hướng ra Hoàng Sa.

Hoàng Sa trong tim ngư dân trẻ

Đứng trên mũi tàu, ánh mắt đau đáu nhìn về phía biển Hoàng Sa, ngư dân Bùi Văn Phải (24 tuổi, thuyền trưởng tàu QNg 96382 TS – tàu cá bị bắn cháy vừa qua) nói:“Trong chuyến biển bị Trung Quốc bắn cháy, tàu của anh em chúng tôi bị thiệt hại rất nặng, nhưng chúng tôi đã hứa với lòng mình, không ngại khó khăn; trước mắt sẽ vay mượn tiền của người thân, gom góp sửa tàu, nhanh chóng trở lại Hoàng Sa, không bao giờ bỏ Hoàng Sa”.

Trung Quốc; tàu cá; Lý Sơn; Hoàng SaTàu QNg 96382 TS mới bị bắn cháy ca bin

Dù tuổi đời còn rất trẻ, nhưng Bùi Văn Phải đã có thâm niên đi biển hơn 10 năm, từng đối mặt không ít hiểm nguy trên biển, bị tàu Trung Quốc xua đuổi, bắt bớ…

Có thể nói, biển Hoàng Sa trở thành máu thịt, gắn chặt với tuổi trẻ của Phải.

“Chỉ có biển Hoàng Sa mới có cá, sản vật nhiều. Anh em trên tàu chúng tôi trước khi đi tâm niệm rằng, mình ra Hoàng Sa trước tiên là làm nghề kiếm sống, nuôi gia đình, giữ gìn vùng biển mà cha mình, ông nội của mình gắn bó sinh tử từ trước. Làm việc ở Hoàng Sa, chúng tôi có cảm giác được chính cha ông mình ở đó phù hộ, che chở khỏi những tai vạ của biển cả”, Phải tâm sự.

Từ suy nghĩ “ra Hoàng Sa là về với vùng biển thiêng liêng, truyền thống do chính cha ông gầy dựng”, sau hơn 10 năm đi chung tàu với những người đồng hương, Phải quyết định vay mượn bà con hơn 700 triệu đồng, đóng con tàu QNg 96382 TS để có thể vững vàng ra khơi.

Trước khi bị tàu Trung Quốc bắn cháy, con tàu của Phải đã có tổng cộng gần 10 chuyến ra Hoàng Sa đánh bắt.

Búc xúc không kém, thuyền trưởng Phạm Quang Thạnh nói: “Tàu Trung Quốc bắn tàu là để bắt nạt, dọa dẫm ngư dân, làm cho mình nhụt chí không dám ra biển Hoàng Sa nữa. Bây giờ mình nhụt chí là họ lấy luôn biển của ngư dân mình, sau này còn nơi nào cho ngư dân đánh bắt nữa. Bởi vậy, anh em chúng tôi sẽ sớm sửa lại tàu, quyết ra Hoàng Sa thôi !”.

“Cần có biện pháp mạnh bảo vệ ngư dân”

Theo nhiều ngư dân, hành động ngăn cản, xua đuổi, dùng vòi rồng xịt nước, bắn vào tàu cá của ngư dân do tàu Trung Quốc làm đã diễn ra rất nhiều lần.

Trung Quốc; tàu cá; Lý Sơn; Hoàng SaNgư dân Bùi Văn Phải và Phạm Quang Thạnh đang sửa chữa lại con tàu bị Trung Quốc bắn cháy, sớm trở lại Hoàng Sa

“Hầu như chuyến biển ra Hoàng Sa nào cũng bị tàu Trung Quốc đuổi, quấy rối. Có tàu còn bị đuổi đến 3-4 lần/chuyến biển. Họ dùng đủ cách để ức hiếp ngư dân mình như chĩa súng vào bắn, dùng vòi rồng xịt nước cho chìm tàu…

Tàu Trung Quốc càng ngày càng hung hăng, trong khi ngư dân mình không có một dụng cụ gì để bảo vệ trong tay, khiến họ càng ngang ngược” – ngư dân Nguyễn Văn Thân, ngụ xã Bình Châu kể.

Ông Phùng Đình Toàn, Phó chủ tịch Hội nghề cá Quảng Ngãi cho biết, theo thống kê, từ đầu năm 2013 đến nay có gần 20 trường hợp tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, cản trở không cho khai thác thủy sản.

“Hành động bắn cháy tàu của ngư dân Bùi Văn Phải không phải duy nhất. Chúng tôi từng nghe thông tin ngư dân phản ánh như hành động các tàu Trung Quốc cản trở, không cho khai thác trên biển; dùng vòi rồng phun nước vỡ kính, cho hỏng máy; dùng đạn lửa bắn vào tàu, sau đó dùng vòi rồng xịt vào tàu để chữa cháy, sau đó lại bắn đạn lửa tiếp cho cháy lại…”, ông Toàn nói.

“Trước những vụ việc liên tiếp ngư dân bị bắn phá này, Hội nghề cá Quảng Ngãi kiến nghị cần phải có biện pháp mạnh mẽ hơn để bảo vệ ngư dân, không thể để ngư dân chịu thiệt, bị tàu Trung Quốc xua đuổi, bắn cháy tàu như vậy được”, ông Toàn kiến nghị.

Sáng 28/3, Trung ương Đoàn TNCS HCM đã trao huy hiệu “Tuổi trẻ dũng cảm” cho 2 ngư dân Bùi Văn Phải (24 tuổi) và Phạm Quang Thạnh (33 tuổi).Đây là 2 ngư dân đi trên tàu QNg 96382 TS bị tàu Trung Quốc bắn cháy tàu, đã có hành động dũng cảm bảo vệ tàu, bảo vệ những ngư dân khác.

Tỉnh đoàn Quảng Ngãi cũng trao 20 triệu đồng cho 2 ngư dân trên vì đã kiên cường, dũng cảm bám biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Sông Trà
vietnamnet.vn

6,5 triệu USD viện trợ ngư dân nghèo vùng ven biển

Ngư dân có cơ hội đổi đời nhờ được ngân hàng hỗ trợ vốn. (Ảnh có tính minh họa – T.H/Vietnam+)

Ban Giám đốc Điều hành Nhóm Ngân hàng Thế giới ngày 29/3 đã phê duyệt một khoản viện trợ bổ sung trị giá 6,5 triệu USD cho dự án phát triển bền vững các nguồn tài nguyên ven biển của Việt Nam.

Nguồn viện trợ này đến từ Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF)-một quỹ tín thác do Ngân hàng Thế giới quản lý nhằm hỗ trợ giải quyết sáu lĩnh vực môi trường quan trọng bao gồm: Đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu, vùng biển quốc tế, suy giảm ô zôn, suy thoái đất và ô nhiễm hữu cơ kéo dài.

Dự án ban đầu, với nguồn vốn 100 triệu USD từ tín dụng của Hiệp hội Phát triển quốc tế-IDA, được Ngân hàng Thế giới phê duyệt ngày 10/5/2012 gồm bốn hợp phần: Tăng cường năng lực thể chế để quản lý thủy sản bền vững; thực hành nuôi trồng thủy sản tốt; quản lý bền vững nghề đánh bắt thủy sản gần bờ; quản lý, giám sát và đánh giá dự án.

Dự án được triển khai tại tám tỉnh là Cà Mau, Sóc Trăng, Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hóa.

Khoản viện trợ bổ sung từ GEF sẽ tài trợ quy hoach liên ngành cho các khu vực ven biển và đồng quản lý khai thác thủy sản gần bờ. Khoản viện trợ sẽ hỗ trợ trực tiếp cho khoảng 140 cộng đồng ngư dân nghèo ở 8 tỉnh trong việc lập kế hoạch và triển khai kế hoạch đồng quản lý nghề cá ven biển, qua đó đóng góp vào mục tiêu tăng cường quản lý bền vững nghề cá ven biển trong vùng dự án./.

Hùng Võ (Vietnam+)
vietnamplus.vn

Hội nghề cá VN tuyên dương ngư dân kiên cường bám biển

(ĐVO) – “Với ngư trường Hoàng Sa, ngư dân của mình vẫn kiên trì bám biển khai thác hải sản để đảm bảo cuộc sống, đồng thời bám biển cũng là khẳng định độc lập chủ quyền của mình trên biển, không ai có thể cản phá mình được, đấy là tinh thần chung của chúng tôi”- ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam.

Thời gian qua, việc đánh bắt hải sản của ngư dân Việt Nam trên vùng biển Hoàng Sa liên tục bị tàu nước ngoài quấy phá, gây ra nhiều thiệt hại về mặt kinh tế, để bảo vệ ngư dân tiếp tục báo biển, theo ông Nguyễn Việt Thắng, Chủ tịch Hội nghề cá Việt Nam, hiện nay ngoài lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, chúng ta đã có thêm lực lượng Kiểm ngư.

“Tuy nhiên, cũng phải nói thêm, hiện nay khu vực biển Hoàng Sa, lực lượng Cục kiểm ngư vẫn chưa hiện diện, chủ yếu là Hải quân và Cảnh sát biển”, ông Thắng cho biết, vì theo ông Kiểm ngư mới có một vài tàu đóng ở Hải Phòng được chuyển sang từ lực lượng khai thác và bảo vệ nguồn lợi hải sản, chủ yếu giúp ngư dân ở vùng ven bờ là chính.

tau-ca-ra-ngu-truong-hoang-sa-Baodatviet.vn.jpgCác đội tàu ngư dân Quảng Ngãi khởi hành ra khơi.

Theo ông Thắng, Kiểm ngư là bảo vệ nguồn lợi hải sản trên vùng biển của ta. Nguyên tắc vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của ta phải có sự hiện diện của Kiểm ngư ở khu vực đó, nhưng thực tế chưa có tàu lớn nên chưa thể đi xa được.

Vì vậy hiện nay ngư dân vẫn phải chủ động bảo vệ mình, đi xa đánh bắt theo đoàn, theo đội để hỗ trợ lẫn nhau, trong thiên tai, tai nạn và cả trong chống lại tàu lạ xâm phạm vùng biển của ta. “Người dân tự bảo vệ mình vẫn có hiệu quả, Hội nghề cá Trung ương và các Hội nghề các tỉnh cùng chính quyền các tỉnh phải luôn luôn yêu cầu ngư dân chủ động, tự mình bảo vệ mình, phương án này hiện nay có hiệu quả hơn”, ông Thắng nhìn nhận.

Về sự chống phá, quấy nhiễu của tàu lạ và tàu Trung Quốc, theo ông Thắng, mức độ quấy phá, sự hiện diện của Trung Quốc đã tăng nhiều hơn trước và đã ảnh hưởng nhiều tới việc khai thác hải sản của ngư dân. Ngư dân ta chủ yếu bị họ xua đuổi, bắt giữ cướp thành quả đánh bắt được và tài sản, thiết bị trên tàu.

“Chúng tôi luôn kiến nghị tàu bé bị thiệt hại do đánh bắt trên vùng biển của mình mà bị tàu lạ hoặc tàu Trung Quốc làm thiệt hại thì mình phản đối Trung Quốc, yêu cầu họ phải đền bù thiệt hại. Phía mình thì tương trợ lẫn nhau, các địa phương hỗ trợ và sau đó thì Hội nghề cá cũng có Quỹ nhân đạo nghề cá để hỗ trợ cho bà con. Cái đó là thường xuyên”, ông Thắng cho biết thêm.

Còn về mặt tinh thần, theo ông Thắng, Hội thường xuyên động viện bà con ngư dân bám biển, nhưng cũng phải củng cố lại lực lượng. Chẳng hạn, đi lẻ loi một mình thì cũng bất tiện, nên khôi phục lại việc tổ chức ra khơi theo đoàn, đội, trước khi đi cũng phải kiểm tra đã an toàn tối đa chưa.

Ngoài ra, Hội nghề cá Trung ương sẽ làm động tác là tuyên dương những ngư dân kiên trì bám biển, vượt qua khó khăn, nguy hiểm. Đồng thời cũng đề nghị các địa phương quản lý trực tiếp động viên tinh thần, khen thưởng ngư dân tùy cấp độ. Trước khi động viên tinh thần cũng phải có hỗ trợ vật chất, không bà con đi làm cũng có những nguy hiểm của nó.

“Với ngư trường Hoàng Sa, ngư dân của mình vẫn kiên trì bám biển khai thác hải sản để đảm bảo cuộc sống, đồng thời bám biển cũng là khẳng định độc lập chủ quyền của mình trên biển, không ai có thể cản phá mình được, đấy là tinh thần chung của chúng tôi”, ông Thắng khẳng định.

Lê Việt
baodatviet.vn

Quảng Ngãi: Ra quân khai thác hải sản

Sau Lễ mở cửa biển vào sáng Mồng Ba Tết, sáng 17/2, hàng trăm tàu đánh bắt xa bờ của các địa phương trong tỉnh Quảng Ngãi đã đồng loạt ra khơi.

Các tàu thuyền mở cửa biển đầu năm

Theo thống kê của các địa phương, số tàu ra khơi trong sáng 17/2 khoảng 50% số lượng tàu, thuyền của địa phương.

Tại huyện đảo Lý Sơn, đã có hàng chục tàu thuyền của ngư dân ra Khu vực biển Hoàng Sa để khai thác. Các địa phương khác như: Tư Nghĩa, Bình Sơn, Đức Phổ ước tính hơn 1/2 số tàu đánh bắt xa bờ của địa phương cũng đã rời bến.

Trước đó, do thời tiết thuận lợi, nhiều nơi, ngư dân đã đưa tàu xuất bến từ ngày Mồng Hai Tết Nguyên đán.

Theo QĐND
petrotimes.vn

Nhiều tàu cá ở Bạc Liêu ra khơi mở biển đầu năm

Liên tiếp từ mùng 2 Tết Quý Tỵ đến nay, 1.236 tàu, thuyền trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu với hơn 6.600 thuyền viên đã ra khơi mở biển đầu năm; trong đó có 455 tàu đánh bắt xa bờ, thời gian bám biển kéo dài từ 60-90 ngày/chuyến.

>> Quảng Ngãi: Ra quân khai thác hải sản

Tàu cá trong Lễ hội Nghinh Ông ở cửa biển Gành Hào, Bạc Liêu

Theo thông tin từ các đồn biên phòng quản lý các cửa biển Nhà Mát (thành phố Bạc Liêu), Cái Cùng (huyện Hòa Bình) và Gành Hào (huyện Đông Hải), các chủ tàu cá đều thực hiện tốt đăng ký, đăng kiểm.

Theo quan niệm của ngư dân vùng biển, chuyến đi biển đầu năm có ý nghĩa rất quan trọng. Do đó, ai cũng hy vọng thuận buồm xuôi gió, kiếm được nhiều cá tôm để mang lại may mắn cho cả năm.

Trong tháng 1 vừa qua, các tàu ở Bạc Liêu đã khai thác được trên 7.100 tấn hải sản, tăng 16% so cùng kỳ, trong đó có 1.028 tấn tôm, góp phần đáng kể giảm áp lực thiếu tôm nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu của các nhà máy trên địa bàn.

Theo Vietnamplus
petrotimes.vn