Thư viện

Bài phát biểu của TBT Lê Duẩn về “bè lũ phản động Trung Quốc” năm 1979

Để ghi nhớ 34 năm ngày bè lũ bành trướng Bắc Kinh phát động cuộc chiến tranh xâm lược các tỉnh biên giới phía bắc nước ta (17/02/1979), Đôi Mắt xin giới thiệu với các bạn bài phát biểu (được cho là) của TBT Lê Duẩn về “bè lũ phản động Trung Quốc”. Bài nói chuyện này nằm trong tài liệu “Bằng chứng mới về chiến tranh lạnh tại châu Á” (New Evidence on the Cold War in Asia) thuộc “dự án lịch sử chiến tranh lạnh thế giới” (Cold War International History Project – CWIHP) của Wilson Center.

Tiếp tục đọc

Đi tìm dấu tích Đội hùng binh Hoàng Sa (Phần 4)

Đi tìm dấu tích Đội hùng binh Hoàng Sa (Phần 4)Nội dung văn bản cổ mà dòng họ Đặng làng An Hải, huyện Lý Sơn truyền đời gìn giữ tròn 175 năm qua đã giúp chúng ta xác lập thêm một số danh tính, bản quán của những người đi lính Hoàng Sa, đã cho chúng ta hiểu hơn về sự kiện đi Hoàng Sa hằng năm của những phái viên, biền binh, thủy thủ dưới thời vua Minh Mạng…

Tiếp tục đọc

Họ là những ai trong “tờ lệnh” đi Hoàng Sa?

Họ là những ai trong (PetroTimes) – Trong văn bản cổ của dòng họ Đặng làng An Hải, Lý Sơn có nói rõ về thời gian ấn định để các phái viên, biền binh, thủy thủ đi Hoàng Sa, đó là: cứ vào hạ tuần tháng ba hàng năm. Sau đây là phần 2 của bài viết: “Đi tìm dấu tích Đội hùng binh Hoàng Sa”.

Tiếp tục đọc

Đi tìm dấu tích Đội hùng binh Hoàng Sa (Phần 1)

Đi tìm dấu tích Đội hùng binh Hoàng Sa (Phần 1)(PetroTimes) – Đội Hoàng Sa kiêm Bắc Hải là một chương vô cùng quan trọng trong nỗ lực của nhà Nguyễn nhằm thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên Biển Đông. Bài viết đăng trên trang thông tin Biển Đông (BĐN) của TS Nguyễn Đăng Vũ – Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi.

Tiếp tục đọc

Việt Nam – một thành viên có trách nhiệm của UNCLOS 1982

30 năm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982)

QĐND – Thứ Năm, 13/12/2012, 22:18 (GMT+7)
QĐND – Nhân kỷ niệm 30 năm ngày ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), Việt Nam đã cho lưu hành tại Liên hợp quốc Báo cáo về việc “Việt Nam thực thi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 với tư cách là một thành viên có trách nhiệm của Công ước”. Xin giới thiệu với bạn đọc nội dung của Báo cáo.

Việc 107 quốc gia cùng ký vào Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển tại Montego Bay, Gia-mai-ca 30 năm trước đây là một thành quả hết sức quan trọng của Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển. Sự ra đời của UNCLOS 1982 đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một chuẩn mực pháp lý quốc tế công bằng mang tính toàn cầu đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Quá trình xây dựng UNCLOS 1982 đã diễn ra nhiều năm với sự nỗ lực của hơn 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ. Đến nay, thành viên của UNCLOS 1982 đã lên tới 164 quốc gia. UNCLOS 1982 không chỉ quy định về quyền, nghĩa vụ của quốc gia ven biển mà còn đề cập đến quyền được tiếp cận với biển của các quốc gia không có biển, do vậy UNCLOS 1982 được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận. UNCLOS 1982 ra đời đã đặt nền tảng cho sự thiết lập một trật tự pháp lý mới liên quan đến các vấn đề biển và đại dương. Nội dung của UNCLOS 1982 đề cập toàn diện đến các lĩnh vực biển, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay nước đang phát triển, dù là nước nhỏ hay nước lớn, dù là nước có biển hay không có biển.

Từ khi có hiệu lực ngày 16-11-1994, UNCLOS 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng để điều phối các vấn đề liên quan đến biển, một công cụ pháp lý quan trọng để giải quyết, xử lý các tranh chấp biển và được coi là “Hiến pháp của đại dương”. Trong 30 năm tồn tại, UNCLOS 1982 đã được vận dụng khá hiệu quả để giải quyết nhiều tranh chấp biển phức tạp kéo dài, tránh được những nguy cơ xung đột tiềm tàng.

Là một quốc gia ven biển có bờ biển dài hơn 3.260km, Việt Nam có nhiều lợi ích lớn gắn liền với biển. Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng xây dựng UNCLOS 1982 và có nhiều nỗ lực trong việc thực thi UNCLOS 1982; luôn đề cao tôn chỉ và mục tiêu của Công ước, đồng thời có những hành động thiết thực vào việc thực hiện Công ước.

1. Từ trước khi UNCLOS 1982 ra đời, Việt Nam đã tích cực vận dụng các quy định liên quan của luật pháp quốc tế để xây dựng các văn bản pháp quy về biển. Căn cứ vào xu thế phát triển tiến bộ của luật biển quốc tế, năm 1977 Việt Nam ban hành “Tuyên bố của Chính phủ về các vùng biển Việt Nam” xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, cho phép mở rộng quyền của Việt Nam ra biển, không chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác. Với Tuyên bố này, Việt Nam cũng như các nước Kê-ni-a, Miến Điện (nay là Mi-an-ma), Cu-ba, Y-ê-men, Đô-mi-nic, Goa-tê-ma-la, Ấn Độ, Pa-ki-xtan, Mê-hi-cô, Xây-sen được coi như những nước đi tiên phong trong việc đưa khái niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán và sau này trở thành một nội dung quan trọng của UNCLOS 1982.

2. Việt Nam là quốc gia tham gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển tại Montego Bay, Gia-mai-ca. Ngay sau khi UNCLOS 1982 được thông qua, ngày 30-4-1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước. Trước khi Công ước có hiệu lực, ngày 23-6-1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”.

Nghị quyết phê chuẩn khẳng định chủ quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982 và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Nghị quyết khẳng định chủ trương của Việt Nam giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được quy định bởi những nguyên tắc của UNCLOS 1982.

3. Vận dụng các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường pháp lý cho công tác quản lý biển và các hoạt động kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới. Ngày 21-6-2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Luật Biển Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982, có tham khảo các thông lệ quốc tế và thực tiễn của các nước. Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương với 55 điều, đề cập đến các nguyên tắc quản lý và sử dụng biển; phạm vi và quy chế các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; quy chế các đảo, quần đảo; các hoạt động trong các vùng biển Việt Nam; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển; hợp tác quốc tế về biển. Với việc thông qua Luật Biển, Việt Nam đã làm cho các quy định của luật pháp về biển của mình hài hòa với các quy định của UNCLOS 1982. Việc Luật Biển Việt Nam khẳng định chủ trương giải quyết các tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 càng khẳng định rõ Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982, thể hiện quyết tâm của Việt Nam phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Trước đó, ngày 14-6-2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ luật Hàng hải Việt Nam sửa đổi, có hiệu lực thi hành từ 1-1-2006, điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam đã thông qua một số bộ luật khác liên quan đến quản lý và sử dụng biển như Luật Dầu khí (1993), Luật Tài nguyên nước (1998), Luật Bảo vệ môi trường (1993), Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Thủy sản (2004) và nhiều pháp lệnh, nghị định khác.

4. Căn cứ vào các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đã và đang tiến hành quản lý có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của mình phục vụ phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Chính phủ Việt Nam luôn bảo vệ những lợi ích hợp pháp của các đối tác nước ngoài trong hợp tác kinh tế, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên biển phù hợp với các quy định của UNCLOS 1982. Việt Nam cũng đã chủ động và hợp tác cùng các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường biển, cứu hộ, cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và triển khai các biện pháp phòng chống tội phạm trên biển, nhất là cướp biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của UNCLOS 1982.

Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển là vấn đề luôn được Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng và đã được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý biển của Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau như: Vận tải biển, dầu khí, nuôi trồng khai thác thủy hải sản và kiểm soát và tuần tra biển. Việt Nam cũng là quốc gia đã chủ động đưa ra nhiều sáng kiến liên quan khai thác bền vững nguồn tài nguyên biển và đại dương, liên quan đến bảo vệ môi trường biển, chống nước biển dâng cao.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác tìm kiếm và cứu nạn mà UNCLOS 1982 đặt ra cho các quốc gia ven biển, Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn theo quyết định số 780/TTg ngày 23 tháng 10 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ. Ủy ban có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tìm kiếm-cứu nạn người và phương tiện (tàu bay, tàu thuyền, thiết bị dầu khí…) bị lâm nạn trên không, trên biển và vùng trách nhiệm tiếp giáp giữa Việt Nam với các nước. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của Công ước về Tìm kiếm Cứu nạn và đang chuẩn bị để đàm phán với các nước liên quan về phân định vùng tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển.

5. Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả UNCLOS 1982 giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý, cụ thể là: Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về Phân định biển ngày 9-8-1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25-12-2000; ký với In-đô-nê-xi-a Hiệp định về Phân định Thềm lục địa ngày 26-6-2003. Việt Nam đang đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với In-đô-nê-xi-a và đang chuẩn bị đàm phán về vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác. Thực tiễn đàm phán, ký kết các văn kiện phân định biển của Việt Nam với các nước láng giềng đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của UNCLOS 1982, đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển. Kết quả đàm phán giải quyết phân định giữa Việt Nam với Thái Lan và Trung Quốc góp phần khẳng định xu thế không thể phủ nhận của việc sử dụng đường trung tuyến hoặc cách đều làm xuất phát điểm để đi tới một giải pháp phân định công bằng và xu thế sử dụng đường phân định đơn nhất cho phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Mặt khác, Việt Nam luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Theo đó, khi bàn về các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam kiên trì yêu cầu “tôn trọng luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982”, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển, đảo. Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); Tuyên bố 6 điểm ngày 20-7-2012 của ASEAN về Biển Đông. Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc ký ngày 11-10-2011. Điều đó cho thấy Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của UNCLOS 1982 mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các nội dung của Công ước.

6. Căn cứ vào khuyến nghị trong Điều 74 và Điều 83 của UNCLOS 1982, Việt Nam luôn sẵn sàng cùng các bên hữu quan tiến hành hợp tác cùng phát triển ở những khu vực thực sự có tranh chấp, phù hợp với các quy định của UNCLOS 1982. Năm 1992, Việt Nam đã ký với Ma-lai-xi-a Thỏa thuận về việc hợp tác khai thác tài nguyên khoáng sản khu vực thềm lục địa chồng lấn và thỏa thuận này đang được triển khai có hiệu quả. Hiện nay, Việt Nam đang cùng Thái Lan – Ma-lai-xi-a đàm phán về hợp tác tại khu vực biển chồng lấn 3 bên Việt Nam – Thái Lan – Ma-lai-xi-a.

7. Thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982, sau gần 3 năm nỗ lực (từ 2007 đến 2009), Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa bảo đảm chất lượng, xác định một cách có cơ sở khoa học và pháp lý phạm vi thềm lục địa mở rộng của Việt Nam ở Biển Đông theo đúng tiêu chuẩn, quy định của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc. Đầu tháng 5-2009, Việt Nam đã trình lên Liên hợp quốc Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Bắc và Báo cáo chung xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Nam với Ma-lai-xi-a theo đúng thời hạn quy định của Liên hợp quốc. Trong các ngày 27 và 28-8-2009, Việt Nam đã trình bày hai bản Báo cáo này tại Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc, đồng thời đề nghị Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc sớm thành lập các Tiểu ban để xem xét Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo đúng các quy định của UNCLOS 1982 cũng như Quy tắc hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa. Việc làm này khẳng định rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc thực thi UNCLOS 1982.

8. Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo UNCLOS 1982. Việt Nam là thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương và đã từng được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương. Việt Nam tham gia đầy đủ các Hội nghị của các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 được tổ chức hằng năm tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và luôn có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy thực thi hiệu quả Công ước; tham gia và có những đóng góp tích cực vào các hội nghị Cơ quan quyền lực đáy đại dương trong đó đề cao vai trò của UNCLOS 1982; ủng hộ tăng cường hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và ủng hộ vai trò tư pháp của Tòa án Luật biển quốc tế; đồng thời đóng góp đầy đủ niên liễm để các cơ quan được thành lập theo Công ước hoạt động. Tại các diễn đàn liên quan, Việt Nam luôn khẳng định: Trong hoạt động sử dụng biển, các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định trong UNCLOS 1982, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo UNCLOS 1982. Việt Nam đã tích cực tham gia thảo luận và ủng hộ thông qua hai Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về đại dương và về đánh cá trên biển phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững; tham gia tiến trình tham vấn không chính thức về các vấn đề đại dương và Luật biển hằng năm.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tham gia xây dựng nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh Hàng hải (INMARSAT), Hệ thống An toàn và Cứu nạn Hàng hải Toàn cầu (GMDSS)…, đồng thời đã lập hệ thống đài thông tin duyên hải đáp ứng thông tin liên lạc giữa các tàu và giữa các tàu với bờ. Việc tiến hành kiểm tra tại cảng biển các tàu luôn tuân thủ các Thỏa thuận khu vực về kiểm tra nhà nước tại cảng biển. Ngoài Công ước Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Việt Nam đã tham gia rất nhiều các Công ước của IMO khác bao gồm: Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm biển từ tàu, 1973 và Nghị định thư bổ sung 1978 (MARPOL 73/78), Công ước về tấn trọng tải (Tonnage 69), Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến đâm va giữa các tàu chung (COLREG 72), Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển (SOLAS 74), Công ước quốc tế về Mạn khô (Load Line 66), Công ước quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ chuyên môn và trực ca cho thuyền viên (STCW 78/95), Công ước quốc tế về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải (SUA 88) và Nghị định thư về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải đối với các giàn khoan cố định ở thềm lục địa; Công ước quốc tế về giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu (CLC 1992-Việt Nam tham gia ngày 1-7-2003 và Công ước có hiệu lực với Việt Nam từ 1-7-2004); Công ước về Tạo thuận lợi trong giao thông đường biển (FAL); Công ước về Tìm kiếm, cứu nạn (SAR 79).

Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định chung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN liên quan đến vận tải biển và dịch vụ hàng hải như: Hiệp định về tạo thuận lợi cho tàu biển bị nạn và cứu người trên tàu bị nạn ngày 15-5-1975, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa quá cảnh ngày 16-12-1998, Hiệp định khung về thương mại dịch vụ (GATS) tháng 12-1995, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải liên quốc gia ngày 26-3-2012.

Việc Việt Nam tham gia các văn kiện pháp lý liên quan đến biển của khu vực và quốc tế thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc thực thi đầy đủ những nội dung của UNCLOS 1982.

Tóm lại, 30 năm nay, UNCLOS 1982 đã thực sự trở thành căn cứ pháp lý quốc tế vững chắc để xác định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của quốc gia ven biển, đồng thời cũng là cơ sở để xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, kể cả những tranh chấp về biển. Là một quốc gia gắn liền với biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện UNCLOS 1982. Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng, nếu các quốc gia ven biển đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định bởi UNCLOS 1982 thì nhân loại không những sẽ tránh được những căng thẳng, xung đột trên biển mà sẽ có điều kiện tốt hơn để khai thác biển và đại dương phục vụ lợi ích con người.

Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hành động theo mục tiêu, tôn chỉ và các quy định của UNCLOS 1982; đồng thời yêu cầu, kêu gọi các quốc gia khác tuân thủ nghĩa vụ này.

Theo qdnd.vn
Vkyno (st)

Tham vọng bá quyền không dễ thắng ở biển Đông

Dù một số người sẽ thấy hiện đại hóa và hợp tác quân sự là phi lý đối với một hệ thống hòa bình, thịnh vượng và thương mại mở, những năng lực quân sự như vậy chỉ quan trọng trong việc ngăn ngừa xung đột để thương mại và hợp tác phát triển. 

>> Kỳ 1: Hợp tác trên cơ sở sức mạnh tại biển Đông
>> Kỳ 2: Chiến lược biển Đông mới của Trung Quốc
>> Kỳ 3: Gìn giữ an ninh biển và luật pháp quốc tế tại biển Đông

Hợp tác trên cơ sở tính ưu việt

Mỹ nên hợp tác trên cơ sở một vị trí mạnh nhằm bảo vệ một trật tự khu vực mở và dựa trên luật pháp. Một sự kết hợp giữa củng cố sự hiện diện của Hải quân Mỹ, tăng cường các quan hệ an ninh mới giữa các nước châu Á ngoài các liên minh truyền thống của Mỹ, huy động hợp tác đa phương dựa trên các nguyên tắc đi lại đã nhất trí, xây dựng một hệ thống thương mại khu vực mở, và thúc đẩy một quan hệ thực dụng với Trung Quốc có thể duy trì một trạng thái cân bằng thuận lợi cho hợp tác

Đảo lộn sự suy yếu của Hải quân Mỹ. Mỹ nên dẫn đầu với sức mạnh kinh tế và ngoại giao, nhưng các công cụ lãnh đạo này cần được hỗ trợ bởi sức mạnh quân sự. Biển Đông là mối đe dọa biển đầu tiên và trên hết, và mục tiêu cuối cùng của một lực lượng hải quân hiện đại là huy động không lực ở phía trước. Tuy nhiên, các năng lực ngày càng gia tăng của Trung Quốc đang đặt các tàu chiến của Hải quân Mỹ và các căn cứ cố định trước nguy cơ, từ đó đe dọa chấm dứt một giai đoạn dài trong đó Mỹ hoặc kiểm soát hoặc dọa kiểm soát các tuyến SLOCs quan trọng.

Vì vậy, khuyến cáo đầu tiên đối với các nhà hoạch định chính sách của Mỹ là kìm hãm sự suy yếu của sức mạnh Hải quân Mỹ nhằm duy trì một tương quan lực lượng đủ để kiểm soát – hoặc ít nhất là bảo vệ – khả năng tiếp cận với các SLOCs ở trong và xung quanh biển Đông.

Trong chiến tranh hiện đại, các khu vực trời, biển, không gian và mạng ảo không thể không khớp nhau. Chuẩn bị cho các cuộc tấn công dựa trên các mạng lưới tấn công quan trọng trong không gian mạng và ngoài vũ trụ, đồng thời ngăn chặn tiến bộ của Trung Quốc về tên lửa đường dài có thể với tới các tàu sân bay và các tàu khác ngoài khơi sẽ là nền tảng để đảm bảo đủ khả năng huy động sức mạnh Mỹ.

Dù một số người sẽ thấy hiện đại hóa và hợp tác quân sự là phi lý đối với một hệ thống hòa bình, thịnh vượng và thương mại mở, những năng lực quân sự như vậy chỉ quan trọng trong việc ngăn ngừa xung đột để thương mại và hợp tác phát triển. Đặc biệt, khi ngày càng có nhiều nước mua tàu chiến và tàu ngầm, tác động tích tụ của sức mạnh răn đe quốc gia đó có thể củng cố hòa bình hoặc ít nhất là đảm bảo sự vắng bóng của chiến tranh giữa các quốc gia, bằng cách đảm bảo rằng bất cứ kẻ xâm lược nào cũng không thể dễ dàng giành chiến thắng. Nói cách khác, sức mạnh biển và tiến bộ kinh tế không hẳn xung đột với nhau, và có thể phụ thuộc lẫn nhau vì một Đông Á ổn định và tăng trưởng.

Báo cáo này không kêu gọi một lực lượng Hải quân và Không quân lớn mạnh hơn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiện nay. Nó cũng không nói rằng kinh tế và ngân sách quốc phòng của Trung Quốc sẽ tiếp tục tăng trưởng như hiện nay; một cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội tại Trung Quốc chắc chắn không bị loại trừ. Không ai nói trước được tương lai.

Tuy nhiên, Hải quân và Không quân ít nhất nên duy trì các năng lực hiện diện của mình tại Thái Bình Dương. Mỹ không thể giảm quân số nhóm tàu sân bay chiến đấu hoặc máy bay đường dài tại khu vực này. Khi các năng lực quân sự của Trung Quốc tiếp tục được cải thiện trong thập kỷ này, Mỹ nên xây dựng hạm đội tàu chiến 346 tàu như khuyến cáo năm 2010 trong Báo cáo Quốc phòng 4 năm/lần của lưỡng đảng – và kinh tế cho phép điều này – thay vì giảm xuống còn 250 tàu như đã nói ở trên. Hơn nữa, Mỹ nên đưa thêm nhiều tàu khu trục và tàu ngầm – thay vì chỉ dùng các tàu chiến ven biển loại nhỏ hơn – tới vùng biển Ấn Độ – Thái Bình Dương. Các tàu chiến cỡ lớn sẽ hữu ích hơn trong việc cung cấp các hỗ trợ cần thiết để răn đe một lực lượng quân đội Trung Quốc đang ngày càng được cải thiện. Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng hạm đội gồm 346 tàu chỉ là một mục tiêu dài hạn và việc khôi phục một nền kinh tế mạnh – nền tảng cho mọi nền quốc phòng – phải là một ưu tiên chiến lược của Mỹ. Khi kinh tế tăng trưởng lành mạnh trở lại trong tương lai, Mỹ nên đầu tư vào một lực lượng Hải quân rộng lớn hơn.

Thúc đẩy một mạng lưới mới gồm các đối tác an ninh. Xây dựng một mạng lưới gồm các đối tác và đồng minh mạnh hơn tại Đông Nam Á sẽ là một mục tiêu dài hạn quan trọng của Mỹ. Thay vì cố ở vị trí trung tâm của mọi quan hệ, Mỹ sẽ được chia sẻ gánh nặng và hưởng sức mạnh răn đe của một loạt các năng lực và quan hệ được phân bố rộng hơn.

Trong bối cảnh khu vực ngày càng chống lại một Trung Quốc nổi lên, và lo ngại về nguy cơ suy yếu của Mỹ, các nước châu Á đang dần thiết lập một quan hệ đối tác an ninh mới với nhau. Mạng lưới liên kết mới manh nha này trên toàn khu vực – không chỉ bao gồm các quốc gia Đông Nam Á mà cả các mối quan hệ giữa từng nước Đông Nam Á với các nước ngoài khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Ấn Độ – đang diễn ra và sẽ phát triển mạnh mẽ trong những năm tới. Mô hình quan hệ sức mạnh đang nổi này sẽ mở ra một kỷ nguyên mới với các tác động tới cam kết của Mỹ tại khu vực.

Mô hình “nan hoa xe đạp” giữa Mỹ với các đồng minh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Thái Lan và Philippines đang bị lu mờ bởi một mạng lưới rộng lớn hơn, phức tạp hơn và khuyếch tán hơn gồm các quan hệ trong đó các nước châu Á là động lực chính. Hiện tại, cả Nhật Bản và Hàn Quốc đã thông báo đang hợp tác an ninh ngày càng chặt chẽ với các nước trong khu vực, bao gồm cả Australia, Ấn Độ và một số thành viên ASEAN; đây chính xác là xu hướng mà Mỹ nên khuyến khích. Bên cạnh đó, khi Ấn Độ và các trung tâm quyền lực khác nổi lên, khu vực này sẽ chuyển từ khu vực châu Á – Thái Bình Dương thành khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.

Chủ nghĩa dân tộc ở các quốc gia biển Đông như Việt Nam và Indonesia – cũng như ở các nước ngoài khu vực như Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc – có thể là cơ sở tốt nhất để kết hợp các lợi ích chung trong một mạng lưới lỏng lẻo và ảo gồm các quốc gia đang gia tăng các năng lực biển nhằm ngăn chặn sự bá chủ của Trung Quốc. Việt Nam có lợi trong việc không bị Trung Quốc “Phần Lan hóa”. Indonesia có lợi khi bảo vệ các nguồn dự trữ năng lượng các kho cá đồ sộ ngoài khơi của mình. Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều là các cường quốc có quyền tìm kiếm sự cân bằng chống lại Trung Quốc. Chủ nghĩa dân tộc đang gia tăng.

Dù một liên minh an ninh kiểu NATO đã không thể ra đời tại châu Á và sẽ vẫn là không tưởng trong tương lai, nhưng Mỹ nên đồng thời thúc giục các quan hệ an ninh mới trên toàn khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương nói chung, trong khi tăng cường năng lực biển căn bản của từng đối tác và đồng minh tại Đông Nam Á nói riêng. Hai yếu tố phụ trợ này của việc xây dựng đối tác có thể tạo ra một phương tiện ít tốn kém và ít khiêu khích nhằm gìn giữ hòa bình và làm phức tạp các kế hoạch của bất cứ kẻ xâm lược nào trong khu vực.

Mỹ nên khuyến khích sự liên minh và các quan hệ đối tác chiến lược hiệu quả giữa chính các nước châu Á – Thái Bình Dương với nhau, coi đây như một phương tiện khác nhằm giúp định hình một môi trường vững chãi và hợp tác cho một Trung Quốc nổi lên. Một năng lực quân sự mạnh hơn và mở rộng hơn sẽ cải thiện khả năng duy trì và bảo vệ cả các eo biển phía Nam dẫn tới biển Đông và vùng địa lý quan trọng chiến lược ngay bên ngoài vùng biển này (bao gồm các quần đảo và đảo san hô vòng ở Riau Archipelago, Palau, quần đảo Admiralty, quần đảo Marshall và Bắc Solomons).

Các cam kết mới này có thể cho phép Mỹ có những hải cảng thân thiện để neo đậu tàu và chuyển hàng hóa, hoặc sử dụng sức mạnh quân sự. Trong nhiều trường hợp, các địa điểm như vậy cần được sử dụng thay cho các căn cứ và có thể đòi hỏi đầu tư thêm một chút nhằm đạt mục tiêu căn bản là tăng tính bất chắc của bất kỳ quốc gia nào có các kế hoạch xâm lược. Rõ ràng, nếu các mối đe dọa trực tiếp được hiện thực hóa, thì khi đó các bước tiếp theo sẽ phải được thực hiện nhằm đảm bảo rằng các thỏa thuận tiếp cận mới và các bước hợp tác này là hiệu quả và chống lại được các chiến dịch tiềm ẩn.

Hiện tại, Mỹ đang hướng tới tăng cường năng lực của cả các đối tác cũ và mới. Ví dụ, họ đã chuyển giao công nghệ, tiến hành nhiều cuộc tập trận và các trao đổi quân sự, và thương lượng nhiều thỏa thuận tiếp cận cho các lực lượng của Mỹ với hầu hết các quốc gia biển Đông Nam Á. Nhưng các nỗ lực này vẫn là chưa đủ.

Các quốc gia nhỏ hơn ở Đông Nam Á bị giới hạn bởi các thách thức trong nước và sự bắt buộc phải duy trì hợp tác với Trung Quốc, một đối tác thương mại lớn của tất cả các nước trong khu vực bao gồm cả Mỹ. Hiện nay, các mục tiêu nên tập trung vào tăng tính bất chắc của mọi kẻ xâm lược bằng cách xây dựng các năng lực hợp tác hữu ích. Xây dựng các chức năng cảnh sát và bảo vệ bờ biển của các quốc gia trong khu vực có thể khuyến khích họ có trách nhiệm hơn trong việc duy trì một cán cân quyền lực và một hệ thống dựa trên luật pháp.

Philippines, và đặc biệt là Việt Nam, là các tác nhân quan trọng trong tương lai của biển Đông. Trong khi Philippines gần đây đã được chú ý và được chuyển giao một xuồng canô của Lực lượng Bảo vệ bờ biển lớp Hamilton đã lỗi thời của Mỹ, đồng thời được thông báo rằng một chiếc thức hai sẽ được chuyển giao vào năm 2012, thì Việt Nam được cho là quốc gia bản lề quan trọng khi nói tới biển Đông. Nếu Việt Nam không chống lại sức mạnh đang lên của Trung Quốc, thì các nước yếu hơn và ít xác quyết hơn, như Philippines, có ít cơ hội ngăn chặn sự bá quyền của Trung Quốc.

Việt Nam đã chống lại sức mạnh Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử của mình. Gần đây, Việt Nam đã tìm cách xích lại gần hơn với Mỹ; nhưng nếu sức mạnh Mỹ suy giảm, Việt Nam sẽ không có giải pháp thay thế nào ngoài việc phải sống chung với sự bá quyền khu vực của Trung Quốc.

Trong khi đó, Mỹ có một lý do để lo lắng về một quan hệ mạnh hơn giữa Việt Nam và Mỹ, đó là vì Mỹ cũng cần phải hợp tác với Trung Quốc. Lợi ích chiến lược tối thượng của Việt Nam là bằng mọi cách ngăn cản Trung Quốc. Hơn nữa, Trung Quốc chắc chắn sẽ coi hoạt động quân sự song phương trực tiếp, như các cuộc tập trận hải quân Việt – Mỹ, là một sự khiêu khích cần chống lại bằng một loạt các biện pháp quân sự, ngoại giao và kinh tế của mình.

Và cũng sẽ là không hề tình cờ khi Trung Quốc và Việt Nam đạt một thỏa thuận song phương hồi tháng 10/2010 nhằm giảm căng thẳng. Thỏa thuận này cho phép Trung Quốc chứng tỏ rằng họ có thể giải quyết mọi vấn đề với Việt Nam một cách song phương và rằng Việt Nam không cần phải tìm sự giúp đỡ từ Mỹ.

Vì Mỹ cần duy trì quan hệ hợp tác với Trung Quốc, đối tác chiến lược tay đôi của Mỹ với Đông Nam Á sẽ là những nền tảng chính của một liên minh khu vực ngầm, vốn chỉ có thể kết thành một nhóm khi có một mối nguy hiểm rõ ràng và hiện hữu. Các quan hệ đối tác chiến lược dựa trên các lợi ích chung mạnh (trên thực tế chính là các liên minh ngầm) có thể mạnh hơn các liên minh chính thức, và ít khả năng gây ra một phản ứng hiếu chiến của Trung Quốc, từ đó tránh phân cực hóa khu vực. Điểm cuối cùng này sẽ đặc biệt đúng nếu khu vực tiếp tục xây dựng sự hiểu biết lẫn nhau và hợp tác thực dụng với Trung Quốc.

Mỹ cũng cần một chiến lược liên kết để tái phân bố sự hiện diện quân sự của mình trên toàn khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Ít nhất, Mỹ cần phải bù vào sự hiện diện truyền thống của mình tại Nhật Bản và Hàn Quốc bằng sự hiện diện tại các khu vực khác có thể gây phức tạp các kế hoạch của Trung Quốc (hoặc bất kỳ quốc gia nào) chống lại Mỹ (dù chỉ trên lý thuyết).

Để duy trì một sự hiện diện quân sự lớn mạnh trong khu vực, Mỹ nên tiếp tục tìm thêm nhiều địa điểm, chứ không phải nhiều căn cứ: tức là các thỏa thuận tiếp cận quân sự tinh vi thay vì chủ quyền ảo đối với lãnh thổ nước ngoài. Các lực lượng của Mỹ cần tiếp tục hiện diện tại Hàn Quốc và Nhật Bản, dù vẫn có khả năng giảm hơn nữa gánh nặng đè lên các nước sở tại, đặc biệt ở Okinawa, nơi đồn trú các lực lượng lớn nhất của Mỹ tại đất nước Mặt trời mọc trên một diện tích bằng 6% lãnh thổ Nhật. Duy trì các căn cứ lớn của Mỹ ở Đông Bắc Á cần phải bù đắp bằng việc tạo ra nhiều khu vực tiềm năng hơn và sôi động hơn cho các lực lượng đồn trú. Điều này phải được tiến hành sao cho giảm thiểu các va chạm có thể khiến các đối tác của Mỹ dễ bị mắc vào sự ép buộc của Trung Quốc.

Châu Giang (dịch theo CNAS)
vietnamnet.vn

Gìn giữ an ninh biển và luật pháp quốc tế tại biển Đông

An ninh biển đã chế ngự nhiều chương trình nghị sự ngoại giao gần đây ở Đông Nam Á, bao gồm Diễn đàn Khu vực năm 2010 và 2011 và các hội nghị liên quan tại Việt Nam và Indonesia.

>> Kỳ 1: Hợp tác trên cơ sở sức mạnh tại biển Đông
>> Kỳ 2: Chiến lược biển Đông mới của Trung Quốc

An ninh biển ở cả góc độ quân sự và thương mại dân sự bao gồm ba mặt: các đòi hỏi chủ quyền và lãnh thổ chồng lấn, đặc biệt liên quan đến hai quần đảo lớn là Trường Sa và Hoàng Sa; các quyền cơ bản trên biển, vì các nước đưa ra các căn cứ khác nhau cho các yêu sách của mình và cũng tìm cách áp dụng luật quốc tế như cách hiểu của Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS); và tự do hàng hải, bao gồm kiểm soát các tuyến SLOCs và các hoạt động được phép tiến hành bên trong các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Dù các căng thẳng về an ninh biển đã leo thang tại biển Đông trong hai hoặc ba năm gần đây, song các căng thẳng này chưa trực tiếp bị quân sự hóa như các tranh chấp bùng phát từ năm 1988 -1995, trong đó có cuộc giao tranh giữa Trung Quốc và Việt Nam liên quan đến đảo Gạc Ma và giữa Trung Quốc với Philippines liên quan đến đảo Vành Khăn. Ở đây không đề cập đến câu hỏi tại sao các quốc gia lại nhanh chóng chuyển sang đối đầu quân sự trong thời kỳ trước như vậy. Có thể khi đó, đúng giai đoạn cuối và ngay sau Chiến tranh Lạnh, các nước cảm thấy được thoải mái sử dụng vũ lực mà không sợ rằng các cuộc xung đột có thể dẫn tới kịch bản hạt nhân.

Tuy nhiên, đó là trước kỷ nguyên toàn cầu hóa hiện nay. Ngày nay, các quốc gia sử dụng sức mạnh cứng một cách mềm dẻo và gián tiếp hơn, che giấu thông tin về các sự cố lãnh thổ ở vùng xa xôi hải đảo, tiến hành các chiến dịch quân sự ngoài con mắt dư luận (nhất là ở dưới lòng đại dương và ngoài không gian) hoặc kiên trì theo đuổi hiện đại hóa quân sự một cách đều đặn.

Các nước trong khu vực, nhất là các nước thành viên ASEAN, muốn Mỹ duy trì cam kết và sự hiện diện quân sự nhằm gìn giữ một tương quan lực lượng trên biển. Nhưng các nước này dường như cũng đang bảo vệ những cái tốt nhất của mình bằng cách làm sâu sắc hơn các chương trình hiện đại hóa quốc phòng và các thỏa thuận quốc phòng với nhau. Điều này giúp giải thích tại sao các nước châu Á nhìn chung dẫn đầu thế giới về hiện đại hóa quân sự, đặc biệt là không quân, hải quân và không gian vũ trụ. Sự hiện đại hóa này dễ thấy nhất trong việc mua – hoặc quan tâm đến việc mua – tàu ngầm. Tàu ngầm, bất kể năng lực công nghệ thế nào, luôn giúp gây ra cảm giác bất chắc trong đầu của một đối thủ tiềm ẩn về thời điểm nó có thể nổi lên. Khi Việt Nam lần đầu tiên mua tàu ngầm lớp Kilo của Nga (với sự hỗ trợ của Nga trong việc tân trang cảng Cam Ranh, nơi các tàu ngầm đó có thể nhả neo từ năm 2013), vị tướng khẳng định điều này đã nói rõ rằng Việt Nam mua chúng để ngăn cản các nước láng giềng – đặc biệt là Trung Quốc – gây bất lợi với Việt Nam.

Tất nhiên, Trung Quốc dẫn đầu quá trình hiện đại hóa quân sự trong khu vực, và có vẻ thích huy động một lực lượng hải quân và không quân với các tên lửa và năng lực không đối xứng như vũ khí chống vệ tính và các năng lực chiến tranh trong không gian có thể gây nguy hiểm cho mạng lưới chiến tranh công nghệ cao của Mỹ. Dù những người chỉ trích ghi nhận các giới hạn của một số hệ thống hiện nay của Trung Quốc (kể cả tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D mà họ khoe khoang rất nhiều), nhưng dường như một Trung Quốc quyết đoán và thịnh vượng hơn sẽ nhiều khả năng khai thác các năng lực cần thiết để theo đuổi một chiến lược chống can thiệp, đe dọa đến khả năng tiếp cận tự do tới khu vực biển này.

Dù tăng cường quân sự, Trung Quốc cũng tìm cách làm giảm những lo ngại về an ninh biển và tăng thiện chí, cũng như uy tín. Bằng chứng là thành công của họ trong Diễn đàn Khu vực ASEAN năm 2011 và các biện pháp xây dựng lòng tin sau đó của họ với Việt Nam và các đầu tư mới vào Philippines, Trung Quốc dường như nhanh chóng có khả năng pha trộn thái độ xác quyết với các hoạt động ngoại giao và kinh tế mang tính trấn an hơn.

Tuy nhiên, trong khi gần như tất cả các nước đều có chung mối lo trước sức mạnh ngày càng gia tăng của Trung Quốc, họ cũng đều được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế và thương mại của Trung Quốc – điều mà Mỹ đã không quan tâm nhiều trước khi ký kết một loạt thỏa thuận thương mại gần đây và đăng cai Hội nghị kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ở Hawaii hồi tháng 11/2011. Năm 2011, thương mại của Trung Quốc với các nước ASEAN đã đạt tới 400 tỷ USD và đang tiếp tục tăng.

Sự cân bằng về sức mạnh quân sự sẽ tạo ra sự đảm bảo tối cao cho tự do đối với Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia và Brunei – cũng như đối với các nước ngoài khu vực này, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Duy trì một sự tương quan lực lượng thuận lợi đòi hỏi phải có đủ tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ để đảm bảo rằng Mỹ vẫn giữ một vị trí đỉnh cao về chất lượng, ít nhất trong nhận thức của giới tinh hoa quân sự ở Trung Quốc và trong các nước mày Mỹ tìm cách bảo vệ.

Dù các quan chức quốc phòng Mỹ vẫn tự tin vào các năng lực của Mỹ, nhiều nước trong khu vực đang lo ngại về các xu hướng hiện nay. Các nước ngoài biển Đông, đặc biệt là Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, đang đo độ bền bỉ của Mỹ không chỉ bằng phép đo kinh tế mà còn bởi khả năng của Mỹ trong việc đối phó với các thách thức tại biển Đông. Một nhà ngoại giao cấp cao của Đông Nam Á cảnh báo nếu Mỹ rút một nhóm tàu sân bay chiến đấu khỏi Tây Thái Bình Dương, đó sẽ là một “yếu tố lật ngược ván cờ”, đẩy các nước ven bờ biển Đông vào tình thế Phần Lan hóa. Đây là một điểm không nhỏ. Một nhóm chiến đấu bao gồm một tàu sân bay, nhiều tàu khu trục, tàu tuần dương, các tàu khu trục nhỏ và tàu ngầm. Với việc chỉ có 11 nhóm tấn công như vậy đang trải ra toàn cầu, thì dù chỉ thiếu một nhóm tại châu Á sẽ tạo ra các tác động lớn. Bởi đơn giản, các nhóm tàu sân bay tấn công chính là nguyên tắc tổ chức sức mạnh hải quân của Mỹ.

Triển vọng của việc tăng cường khả năng của các tác nhân khác trong khu vực nhằm có trách nhiệm hơn trong việc đảm bảo an ninh biển của khu vực sẽ như thế nào? Theo James Holmes, các đồng minh sẽ mạnh nhất khi hai hoặc nhiều nước cùng chịu chung một mối đe dọa và có chung mục đích. Các liên minh lỏng lẻo hơn, bao gồm các liên minh ngầm hay không chính thức, khó thành lập và ít khả năng hành động nếu không có một biến cố rõ ràng khơi mào cho chiến tranh. Tại các khu vực duyên hải quanh biển Đông, Mỹ tìm cách củng cố các liên minh cũ với những nước như Philippines và xây dựng các liên minh mới với những nước như Việt Nam và Indonesia đúng vào lúc sức mạnh hải quân của Mỹ đang suy yếu. Vì vậy, việc xây dựng liên minh của Mỹ phải đối mặt với chướng ngại kép. Ở đây có yếu tố địa chính trị. Các trường hợp Việt Nam và Philippines cho thấy, nếu Mỹ hy vọng bênh vực các nước có cùng lợi ích trong việc tự do hàng hải trên biển Đông và sự ổn định tại khu vực này, thì họ phải hiểu rằng họ sẽ vấp phải sự chống cự nếu thúc ép quá nhiều. Ví dụ, giống như bất cứ quốc gia nào khác, Ấn Độ cũng nghi ngại Trung Quốc, nhưng mặc dù vậy họ sẽ không muốn trở thành một kẻ thù công khai của Trung Quốc. Đơn giản là có những giới hạn mà các nước khác không thể vượt qua vì ít nước muốn gây thù chuốc oán với Trung Quốc. Dù các quốc gia duyên hải không bị ràng buộc bởi việc giảm ngân sách quốc phòng như các nước châu Âu, những họ bị ràng buộc bởi việc coi Trung Quốc là một láng giềng và đối tác thương mại gần như lớn nhất của mình.

Không nước nào lo ngại về an ninh biển của mình khi sức mạnh hải quân của Mỹ có thể yếu đi nhiều như Việt Nam, nước đã phải trải qua một cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979 ở phía Bắc. Năm đó, Việt Nam đã chứng kiến đồng minh của mình là Liên Xô bỏ rơi họ vào đúng lúc họ cần nhất; vì vậy Việt Nam sẽ khó tin vào một quan hệ đồng minh với một quốc gia cách họ nửa vòng trái đất như Mỹ. Tuy nhiên, Việt Nam đang muốn một quan hệ đối tác gần hơn với Mỹ, có thể là mối quan hệ bắt đầu bằng một cuộc đối thoại chiến lược về việc làm thế nào để ràng buộc Trung Quốc, nhưng không bao gồm các hợp tác quân sự hữu hình. Các cuộc tập trận hải quân song phương với Việt Nam chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc chú ý, và một bước đi như vậy sẽ không nên tiến hành một cách khinh suất, bởi Trung Quốc từng rất nghi ngờ nước láng giềng phương Nam trong suốt lịch sử của mình đến mức nào. Trên thực tế, một cuộc tập trận hải quân Việt – Mỹ trong bối cảnh này sẽ mang tính khiêu khích.

Nói như vậy có nghĩa là Mỹ và Việt Nam đang nhanh chóng xích lại gần nhau hơn trong các mục tiêu chiến lược. Diễn biến này cũng là sự kế thừa từ một cuộc chiến giữa thế kỷ 20. Chính xác là vì Việt Nam đã chiến thắng Mỹ về quân sự trong những năm 1960 -1970, họ không có một mảnh vỡ nào thời thuộc địa trên vai và giờ có thể đường hoàng gặp Mỹ như một đồng đẳng về ngoại giao.

Tương tự, cũng có những giới hạn nghiêm khắc mà Philippines, một đồng minh hợp đồng của Mỹ, phải tuân thủ nhằm tăng cường các năng lực cảnh sát của mình. Như Holmes đã ghi nhận, thực tế là một tàu chiến của Lực lượng bảo vệ bờ biển Mỹ thời những năm 1960 đã được bán cho Philippines và lập tức trở thành tàu đô đốc của lực lượng hải quân quốc đảo này cho thấy rõ các giới hạn của họ. Thông báo về việc một xuồng canô thứ hai sắp được chuyển giao cho Philippines sẽ vẫn chỉ khiến Hải quân Philippines có khả năng khiêm tốn ở ven bờ. Hơn nữa, dù Nhật Bản và Philippines đã ký một thỏa thuận đối tác chiến lược, hầu hết sự hỗ trợ của Nhật Bản sẽ chỉ liên quan đến các khả năng ven bờ.

Các chuẩn mực luật pháp quốc tế

Luật pháp và các chuẩn mực quốc tế tạo ra một cơ sở cho hợp tác, hành động hợp pháp cũng như các kỳ vọng của quốc gia. Hòa bình và thịnh vượng tùy thuộc vào các mong đợi dựa trên chuẩn mực như vậy và các cơ chế pháp lý để giải quyết bất đồng một cách hòa bình.

Sự nổi lên của Trung Quốc làm dấy lên lo ngại về tưong lai của toàn cầu hóa dựa trên khả năng tiếp cận thị trường mở và các thể chế quốc tế. Trung Quốc không chỉ tìm cách “xé bó đũa”, giải quyết với từng nước láng giềng nhỏ bé, mà còn thiết lập và áp dụng luật pháp của riêng mình, trong đó có luật 1992 điều chỉnh các quyền ở trong và xung quanh biển Đông, để xác định cái gì đúng cái gì sai. Trung Quốc muốn cho phép tàu nước ngoài nào được vào EEZ của họ và tàu nào, như tàu thăm dò của Mỹ chẳng hạn, không được phép vào vùng dài 200 hải lý này.

Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia ủng hộ cách hiểu luật pháp quốc tế của Mỹ, theo đó đây phải là nơi được phép qua lại một cách hòa bình theo UNCLOS. Mỹ và hầu hết các nước ASEAN sẽ muốn giải quyết bất đồng thông qua một cơ chế đa phương dựa trên đồng thuận và một nền tảng luật pháp quốc tế.

Các đòi hỏi đặc quyền của Trung Quốc ban đầu dựa trên đường 9 đoạn, bao chùm phía Nam từ bờ biển Trung Quốc gần biên giới với Việt Nam và Malaysia đến tận Singapore, và phía Bắc dọc đảo Sarawak và Sabah của Malaysia, tới Brunel và Philippines, chiếm toàn bộ phần trung tâm biển Đông. Nhưng như một chuyên gia phân tích đã chỉ ra, nhiều chuyên gia của Trung Quốc cũng phải thừa nhận rằng đường 9 đoạn này “không được hiểu là chủ quyền đầy đủ đối với toàn bộ biển Đông”.

Trên thực tế, chính sự rất mập mờ của đường đứt khúc này khiến các nước ven biển tức giận. Giới chức Trung Quốc nói rằng họ kế thừa đường lịch sử này từ các chính phủ đầu thế kỷ 20, và vẫn chưa rõ Bắc Kinh giờ đây quan tâm đến tính hợp pháp của đường này như thế nào.

Tuy nhiên, bất kỳ lãnh đạo nào của Trung Quốc thừa nhận đường đứt đoạn này không có quy chế pháp lý sẽ bị tấn công bởi những người theo chủ nghĩa dân tộc trong nước. Vấn đề là một số yêu sách của Trung Quốc theo luật pháp quốc tế lại chệch với các yêu sách khác của Trung Quốc và đây có lẽ là sản phẩm của một chính phủ đang bị chia rẽ. Nói tóm lại, chưa rõ liệu Trung Quốc có đang theo đuổi một chiến lược nhất quán tại biển Đông hay không. Nhiều tác nhân khác nhau đang thực thi luật pháp Trung Quốc, bao gồm các cơ quan dân sự, các chính sách và tuyên bố của họ không phải lúc nào cũng thống nhất. Chính phủ Trung Quốc dường như đang cố giải quyết vấn đề này bằng cách thiết lập một tiến trình liên ngành mới nhằm kết nối vô số các cơ quan quân sự và dân sự của chính phủ với các trách nhiệm trên biển Đông.

Nếu sự kết nối đại chính sách này giúp làm rõ các yêu sách mập mờ của Trung Quốc – nhiều yêu sách dựa trên các hình thái lãnh thổ chìm dưới mặt nước biển vốn không được luật pháp quốc tế gọi là đảo – thì các nước trong khu vực có thể yên tâm hơn. Ví dụ, Trung Quốc có thể thu hẹp yêu sách của mình từ chỗ dựa trên các quyền lịch sử rộng lớn thành các yêu sách dựa trên luật pháp theo UNCLOS về các quyền trên biển xung quanh các hình thái lãnh thổ tại biển Đông.

Xây dựng các quy tắc đồng thuận cho khu vực này là việc không hề đơn giản. Luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, có thể có ích dù Thượng viện Mỹ chưa phê chuẩn công ước này. Mỹ có thể vẫn khẳng định rằng họ thừa nhận hầu hết các điều khoản của công ước này như luật pháp quốc tế thông thường, và đây sẽ là nền tảng cho chiến lược biển của Mỹ tại biển Đông. Họ có thể tiếp tục thúc đẩy các lập luận của đa số các bên tham gia UNCLOS là ủng hộ hoạt động quân sự hòa bình tại EEZ bên ngoài lãnh hải.

(Còn tiếp)

Tác giả: CHÂU GIANG DỊCH THEO CNAS
tuanvietnam.vietnamnet.vn

Chiến lược biển Đông mới của Trung Quốc

Trung Quốc bị thúc ép tiến xa hơn về phía biển Đông vì lý do địa lý, lịch sử, tài nguyên và một ham muốn rõ ràng là được kiểm soát các tuyến SLOCs quan trọng đối với chính họ – các hải trình tại eo biển hẹp Malacca hay Lombok, Makassar và Sunda đều đang ngày càng dễ bị tổn thương.

>> Phần 1: Hợp tác trên cơ sở sức mạnh tại biển Đông

Trên thực tế, nếu eo biển Malacca bị đóng dù chỉ một ngày, sự gián đoạn nguồn cung năng lượng sẽ có thể gây rối loạn xã hội tại Trung Quốc, theo một quan chức có tiếng nói trong Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA). Tính dễ bị tổn thương của eo biển này khiến Trung Quốc quan tâm tới các hải trình thay thế để vận chuyển năng lượng và các hàng hóa khác.

Sự nổi lên nhanh chóng của Trung Quốc, đến mức một lực lượng hải quân phòng thủ biển xa sắp ra đời, đang đặt ra nguy cơ bất chắc về trật tự tương lai ở Đông Á. Chiến lược của Mỹ có từ chiến tranh thế giới thứ nhất, và đặc biệt là trong chiến tranh Lạnh, tập trung vào đề phòng bất cứ cường quốc đơn lẻ nào đứng lên chế ngự đại lục Á – Âu. Tuy nhiên, khi sức mạnh kinh tế và quân sự chuyển từ phía Tây sang cực Đông của Á – Âu – bằng chứng là cuộc khủng hoảng đồng euro và sự thu hẹp ngân sách quốc phòng của các nước châu Âu – một Trung Quốc mạnh hơn sẽ chắc chắn tìm cách thể hiện chủ nghĩa dân tộc, quyền lịch sử và nhu cầu kinh tế và tài nguyên thông qua gia tăng sức mạnh hải quân.Ngược lại, sức mạnh hải quân của Trung Quốc có thể dễ dàng tập trung vào biển Đông, nơi hợp dòng của hai đại dương là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Trung Quốc cũng muốn xây dựng một lực lượng hải quân biển xa nhằm giúp đảm bảo các tuyến SLOCs của mình ở mọi hướng xung quanh vùng ven biển Á – Âu tới vùng sừng châu Phi. Khó mà tin rằng ham muốn giành quyền kiểm soát các tuyến SLOCs trên biển của Trung Quốc không liên quan gì đến mối đe dọa đối với quyền tự do hàng hải.

Trung Quốc có những động lực mạnh, bao gồm các lý do lịch sử hợp pháp, để bảo vệ các tỉnh duyên hải giàu có ven biển Đông, nơi chiếm một nửa diện tích duyên hải của nước này. Sự giàu có thịnh vượng của các tỉnh này phụ thuộc vào sự an toàn của các hải trình trên biển Đông mà Trung Quốc chắc chắn có quyền bảo vệ. Hơn nữa, đại đa số năng lượng và hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc đi qua biển Đông, và biển cũng chứa trong lòng nó những kho cá dồi dào, các mỏ khí hydrocarbons và khoáng sản. Chính sự giàu có tiềm ẩn này đã trở thành động lực cho các yêu sách của Trung Quốc.

Trung Quốc dẫn đầu khu vực về hiện đại hóa vũ khí, dù họ tìm cách giữ vẻ ngoài bình lặng. Tàu ngầm của Trung Quốc chạy bằng điện diesel, trong khi tàu ngầm Mỹ chạy bằng năng lượng hạt nhân. Các tàu chạy bằng điện diesel thường không gây ồn và thích ứng tốt hơn với các vùng biển đông đúc và âm u như vùng duyên hải Đông Á. Trung Quốc có hơn 60 tàu ngầm và sẽ có khoảng 75 chiếc trong vài năm tới, nhiều hơn của Mỹ một chút (và chỉ 55% tàu ngầm của Mỹ được đóng tại Thái Bình Dương). Theo hai chuyên gia về hải quân, Trung Quốc đã “vượt Mỹ về số tàu ngầm mới, ở mức 4-1 từ năm 2000 và 8-1 từ năm 2005, trong khi các lực lượng chiến tranh chống tàu ngầm của hải quân Mỹ đã suy giảm.

Các chuyên gia bình luận và giới chức Trung Quốc phủ nhận mọi ác ý liên quan đến Mỹ tại biển Đông và hát lại điệp khúc thường nghe thấy rằng suy nghĩ được ăn cả ngã về không đó đã lỗi thời. Nhưng dù chiến tranh Lạnh đã đi vào dĩ vãng, nền chính trị sức mạnh lại không phải như vậy. Sự phủ nhận trên che giấu các lợi ích quốc gia của Trung Quốc. Dù Trung Quốc trong lịch sử từng là một cường quốc lục địa hướng vào trong lục địa Á – Âu, nhưng nước này đang ngày càng trở thành một cường quốc hải quân, một xu hướng được tạo điều kiện bởi thành công của Trung Quốc trong việc hóa giải căng thẳng tại nhiều đường biên giới trên bộ của mình.

Trong ba thập kỷ trước, lực lượng Hải quân của PLA đã lớn mạnh từ một lực lượng phụ trợ, chuyên hỗ trợ các chiến dịch lưỡng cư chống Đài Loan, tới một lực lượng phòng thủ bờ biển và thành một lực lượng hải quân biển xa nhằm đuổi các lực lượng hải quân nước ngoài ra khỏi các “vùng biển gần” của mình.

Các nguồn tài nguyên và hàng hóa của Trung Quốc được vận chuyển chủ yếu qua các đại dương, và ít nhất về điểm này, địa lý dường như là số phận. Vì hầu hết các nước trong khu vực phụ thuộc vào Trung Quốc để phát triển kinh tế và thương mại, nên hầu hết đều muốn thận trọng hơn trong cách đối xử với Bắc Kinh, và sẽ cố gắng tin vào các ý định tốt lành của Trung Quốc.

Sức mạnh của Trung Quốc không thuần túy là một vấn đề nhiều tàu ngầm hơn hay các phương tiện quân sự mới, mà còn dựa vào sức nặng dân số, sự chế ngự về kinh tế và vị trí trung tâm về địa lý của nước trong khu vực. Trung Quốc sẽ hăm hở thúc đẩy các quan hệ của mình tại biển Đông để tạo dựng tầm vóc một cường quốc bá chủ và khai thác sự nhượng bộ hoặc các điều kiện thuận lợi.

Mặt khác, các quốc gia càng hướng tới Trung Quốc thì họ sẽ càng muốn chống lại sức mạnh của nước này. Dù Trung Quốc cố gắng dùng sức mạnh cứng một cách mềm dẻo (ví dụ bằng cách dùng lực lượng thực thi luật pháp dân sự thay vì sức mạnh hải quân để hỗ trợ cho các yêu sách biển ở biển Đông), nhưng các nước láng giềng đôi khi chùn bước trước ngay cả sức mạnh mềm của Trung Quốc dưới dạng thương mại, hỗ trợ và hợp tác.

Những năm gần đây cho thấy hầu hết các nước trong khu vực đều muốn duy trì sự hiện diện của các tàu chiến và máy bay chiến đấu của Mỹ như một mạng lưới đảm bảo an toàn. Nhưng đồng thời họ không muốn chứng kiến Mỹ căng thẳng với Trung Quốc, vì vậy ngay sau khi Mỹ mới chỉ “giương cơ” một chút, khu vực đã dấy lên những bàn tán quanh câu hỏi phải chăng Mỹ đang xúi giục một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Giới chức Trung Quốc đang tìm cách khai thác tâm trạng giằng xé này bằng những biện pháp trấn an ngoại giao thường xuyên hơn, bên cạnh các nỗ lực khẳng định đòi hỏi của mình. Trung Quốc sẽ muốn tránh mọi hành động ngăn chặn sự nổi lên của nước này.

Ngoài yếu tố địa lý, có một nguyên nhân khác sâu xa hơn đẩy Trung Quốc hướng ra biển Đông và tới các bờ biển của Nhật Bản, Đài Loan, Philippines và Indonesia. Nếu không hiểu những gì đã xảy ra tại Trung Quốc trong 150 năm trở lại đây, người ta sẽ không thể hiểu điều gì thúc đẩy Trung Quốc ngày ngay phải hướng ra biển Đông.

Vào thế kỷ 19, khi nhà Thanh suy yếu ở Đông Á, Trung Quốc đã mất rất nhiều đất đai – mất các chư hầu phía Nam cho Nepal và Myanmar cho Anh; mất Đông Dương cho Pháp; mất Đài Loan và các chư hầu Hàn Quốc, và Sakhalin cho Nhật Bản; mất Mông Cổ, Amuria và Ussuria cho Nga. Vào thế kỷ 20, xảy ra vụ đánh chiếm đẫm máu của Nhật Bản giành bán đảo Sơn Đông và Mãn Châu ở ngày trái tim của Trung Quốc. Tất cả những điều này lại cộng thêm cảm giác nhục nhã của người Trung Quốc khi phải ký các thỏa thuận đặc quyền ngoại giao thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, mà qua đó các nước phương Tây giành quyền kiểm soát nhiều thành phố của Trung Quốc – gọi là hiệp ước Hải cảng Mở (Treaty Ports). Trung Quốc, sống sót qua cơn ác mộng đó và đã đạt đến vị trí cao nhất của một cường quốc đại lục và ổn định lãnh thổ chưa từng thấy kể từ triều đại nhà Minh thế kỷ thứ 16 và triệu đại Thanh thế kỷ 18, giờ muốn hướng ra biển để bảo vệ các tuyến SLOCs của mình tới Trung Đông và từ đó bảo vệ sự thịnh vượng kinh tế cho lương dân cư đông đảo nhất thế giới của mình. Việc Trung Quốc kêu gọi một không gian chiến lược mở chính là cách để tuyên bố rằng họ sẽ không bao giờ có ý định để cho nước ngoài “đè đầu cưỡi cổ” mình như trong hai thế kỷ trước.

Một khi Trung Quốc có đủ ảnh hưởng, biển Đông đối với nước này sẽ giống như Đại Caribbea (bao gồm Vịnh Mexico) đối với Mỹ trước đây – một sự thể hiện về vật chất và mang tính biểu tượng của vai trò bá chủ khu vực. Hãy nhớ rằng, chính việc bá chủ lòng chảo Đại Caribbea đã tạo cho Mỹ vai trò chế ngự đối với Tây Bán cầu trong thế kỷ 20, giúp Mỹ rảnh tay để tác động tới cán cân quyền lực ở Đông Bán cầu. Một sức mạnh tương tự có thể xảy ra khi Trung Quốc trở thành người bá chủ biển Đông.

Yêu sách của Trung Quốc đối với biển Đông, bên cạnh nguyên nhân về địa lý cũng có nguyên nhân lịch sử. Các chuyên gia phân tích của Trung Quốc cho rằng tổ tiên của họ đã phát hiện ra các quần đảo trên biển Đông từ triều nhà Hán thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Họ cũng cho rằng vào thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên, một phái bộ của Trung Quốc tới Campuchia đã đề cập tới các nhóm đảo tại Trường Sa và Hoàng Sa; rằng từ thế kỷ thứ 10 đến 14 (dưới triều đại nhà Tống và nhà Nguyễn), nhiều sổ sách chính thức và không chính thức của Trung Quốc đã cho thấy biển Đông nằm trong biên giới lãnh thổ quốc gia Trung Quốc; rằng từ thế kỷ 15 – 19 (dưới triều nhà Minh và Thanh), nhiều bản đồ đã đưa quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ Trung Quốc; và rằng đầu thế kỷ 20 (cuối triều nhà Thanh), Chính phủ Trung Quốc đã tìm cách thể hiện quyền tài phán đối với quần đảo Hoàng Sa. Các lập luận trên không nói gì về các quyền trên thực tế rằng các ngư dân Trung Quốc đánh bắt tại biển Đông từ nhiều thế kỷ và các sổ sách mà họ giữ lại về các hòn đảo lớn nhỏ cũng như các vỉa đá, bãi cát ngàm ở đây. Bên cạnh đó, nhiều bản đồ chính thức khác nhau được làm dưới thời Chính phủ Quốc dân Đảng trước và sau chiến tranh thế giới II đã sáp nhập các hình thái đất tại biển Đông vào lãnh thổ Trung Quốc. Các bản đồ này cũng vẽ đường 9 đoạn lịch sử, mà các chuyên gia phân tích của Trung Quốc đưa ra như một cách hiểu luật pháp quốc tế đương đại. Đường 9 đoạn này bao gồm 90% diện tích biển Đông.

Vậy đâu là lợi ích lớn của Trung Quốc tại biển Đông và Đông Á về địa chính trị và thực tế? Rốt cuộc, cũng như bất kỳ quốc gia nào khác, Trung Quốc quan tâm đến thương mại quốc tế. Sự ổn định xã hội tùy thuộc vào một dòng chảy đều đặn về tài nguyên và hàng hóa ra và vào Trung Quốc thông qua biển Đông. Vì vậy, sự ổn định của Trung Quốc tùy thuộc vào một nền kinh tế thịnh vượng, mà sự thịnh vượng này lại phụ thuộc vào thương mại. Trung Quốc không có động cơ đế quốc lấn chiếm lãnh thổ như trong các quan hệ quốc tế thế kỷ 19 và đầu 20. (Trung Quốc chắc chắn không phải là đế quốc Nhật sau thời Minh Trị Phục hưng).

Tuy nhiên, vị trí trung tâm về địa lý của Trung Quốc trong khu vực khiến họ muốn đóng một vai trò tích cực hơn trong việc định hướng các vấn đề khu vực. Cách tiếp cận đôi khi mạnh tay của Trung Quốc trong việc quản lý nước ở châu thổ sông Mekong có thể báo trước cách đối xử của Bắc Kinh với các nước khác ở ven bờ biển Đông.

Trật tự của Trung Quốc hiện được duy trì bởi tính hợp pháp, thể hiện là tăng trưởng kinh tế. Nếu kinh tế Trung Quốc duy trì được tăng trưởng mạnh – và đây là một chữ nếu to đùng – thì Trung Quốc sẽ rất mong muốn các nước khác phải từ bỏ một số quyền tự do hành động của mình để đổi lại sự lãnh đạo rộng lượng của Trung Quốc, được hợp pháp hóa bởi cách quản lý kỹ trị của họ.

Một quan chức quân sự Trung Quốc từng nói rằng nước này chỉ sử dụng tấn công quân sự khi còn yếu, trong những năm đầu lập nước, trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và chống lại Ấn Độ. Tuy nhiên, phiên bản lịch sử này chưa nói tới một Trung Quốc mạnh hơn sử dụng vũ lực khi Việt Nam đang phải vật lộn trong giai đoạn cuối cuộc chiến tranh Việt Nam. Đó chính xác là thời điểm Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa, ở phần phía Tây Bắc biển Đông mà hiện giờ vẫn đang tranh chấp.

Trung Quốc rốt cuộc sẽ dân chủ hơn, nhưng một Trung Quốc dân chủ không hẳn sẽ đảm bảo là một Trung Quốc bớt xác quyết hơn. Một Trung Quốc dân chủ có thể năng động hơn về kinh tế và văn hóa, với một chủ nghĩa dân tộc bén rễ hơn, và từ đó có nhiều tiền hơn dành để mua sắm trang thiết bị quân sự. Ngược lại, đó là một Trung Quốc tiếp tục độc đoán, hay dù chỉ là bán độc đoán, với một mức độ xác quyết có thể buộc các nước trong khu vực phải hợp tác với nó. Việc tương lai của chính quyền Trung Quốc sẽ đi theo hướng dân chủ hay độc đoán sẽ không đặt ra những vấn đề như chúng ta nghĩ, bởi địa chiến lược của Trung Quốc sẽ vẫn như vậy.

Ít người cho rằng Trung Quốc đang tìm cách gây xung đột. Nhưng trên thực tế, điều ngược lại đang xảy ra. Trung Quốc có thể thích một cách tiếp cận gián tiếp hơn và mong muốn tạo ảnh hưởng mà không phải dùng đến vũ lực bạo tàn. Nếu Trung Quốc có thể thay đổi cán cân quyền lực theo hướng có lợi cho mình, họ có thể ngày càng chế ngự các nước láng giềng nhỏ hơn trong khi tăng cường khiêu khích hải quân Mỹ và đi xa hơn chuỗi đảo đầu tiên ở Tây Thái Bình Dương.

Các chuyên gia trong khu vực mô tả điều đó là chính sách Phần Lan hóa. Khái niệm này được xác định bởi sự đa nghĩa của nó: sự chế ngự của Liên Xô đối với chính sách đối ngoại của Phần Lan trong Chiến tranh Lạnh nói chung là không công khai. Nhưng Phần Lan biết là có những giới hạn mà họ không thể vượt qua, và vì vậy chủ quyền của họ rõ ràng đã bị tổn thương. Đây chính là điều mà Việt Nam, Malaysia, Singapore, Brunei và Philippines đang lo ngại. Đài Loan, ở cực Bắc của biển Đông, có thể đang rơi vào tình trạng Phần Lan hóa rồi, khi 1.500 tên lửa đạn đạo tầm ngắn từ Đại lục đang chĩa thẳng về phía họ, dù hàng trăm chuyến bay thương mại vẫn hàng ngày qua lại với Trung Quốc.

Trung Quốc có thể tìm cách chế ngự các nước láng giềng thông qua sự kết hợp giữa hợp tác và ép buộc. Chính sách của Trung Quốc là có thể đoán trước và rất nhất quán, nó là sự đan xen giữa trấn an và mở rộng ảnh hưởng; một số nước Đông Nam Á đã chế giễu về chính sách của Trung Quốc là “miệng nói tay làm”.

Khái niệm Phần Lan hóa có thể giải thích tại sao Trung Quốc sẽ ép buộc các nước láng giềng. Rốt cuộc, nếu Trung Quốc có thể giảm mong muốn và khả năng các nước láng giềng phối hợp với Mỹ như một đối trọng với sức mạnh của Trung Quốc, thì họ có thể thể hiện quyền lực khu vực, bao gồm cả việc buộc một Đài Loan bị cô lập trở thành một liên minh chặt chẽ hơn.

Ngay cả các đồng minh lâu năm của Mỹ cũng không thể làm ngơ trước ảnh hưởng của sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Trung Quốc đã phủ một cái bóng dài lên Thái Lan, một đồng minh hợp đồng của Mỹ, trong khi Philippines với bộ máy chính quyền yếu kém có thể một ngày sẽ ngừng kháng cự tầm ảnh hưởng của Trung Quốc dù họ có những yêu sách chồng lấn với nước này tại quần đảo Trường Sa.Nếu nền kinh tế Trung Quốc giữ được đà tăng trưởng, các diễn biến này có thể xảy ra.

Trung Quốc dứt khoát từ chối quốc tế hóa các tranh chấp tại biển Đông thông qua các đàm phán đa phương. Bằng cách giải quyết song phương, Trung Quốc có thể chia rẽ và thuyết phục; các cơ chế đa phương có thể đặt Trung Quốc trong một vị thế yếu hơn. Khi Trung Quốc thấy các nước trong khu vực bắt đầu đoàn kết lại trong một chính sách chung nhằm duy trì nguyên trạng hồi mùa hè năm 2011 (với sự tạo điều kiện của Mỹ), Bắc Kinh đã đổi giọng và chấp nhận một bộ nguyên tắc mập mờ để hướng dẫn thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC). Trung Quốc xử trí bằng cách cải thiện quan hệ song phương với hai nước lớn tiếng nhất trong số các nước cũng đòi chủ quyền tại biển Đông, là Việt Nam và Philippines. Rõ ràng mối đe dọa quốc tế hóa các tranh chấp trên biển Đông và rọi đèn vào các hành động của Trung Quốc đã khuyến khích nước này đi theo hành động ngoại giao.

(Còn tiếp)

Tác giả: CHÂU GIANG DỊCH THEO CNAS
tuanvietnam.vietnamnet.vn