Tag Archive | Báo Đại đoàn kết

Không thể hành xử như luật rừng

Liên quan đến một loạt các động thái của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trong thời gian gần đây, PV Đại Đoàn Kết đã có cuộc phỏng vấn Thiếu tướng Lê Kế Lâm, nguyên Chuẩn Đô đốc Hải quân, Chủ tịch Hội Biển TP.Hồ Chí Minh.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Tổ tiên ta giữ nước


Mỗi quốc gia có truyền thống dựng nước và giữ nước riêng. Ở vào một vị trí địa lý tự nhiên nhiều thuận lợi, lại phong phú tài nguyên khoáng sản nên việc dựng nước của Việt Nam đã khó, việc giữ nước càng khó hơn bội phần.

[Bài 1: Đặc sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam]
[Bài 2: Hòa hiếu – bản chất của dân tộc Việt Nam]
Bài 3: Một số chiến công hiên hách chống ngoại xâm
[Kỳ 1: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán nối lại nền độc lập]
[Kỳ 2: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư]
[Kỳ 3: Giặc dữ Mông – Nguyên ba lần đại bại]
[Kỳ 4: Lê Lợi – 10 năm trường kỳ kháng chiến quét sạch giặc Minh xâm lược]
[Kỳ 5: Quang Trung – 40 ngày thần tốc đại phá quân Thanh]
[Kỳ 6: Hào khí thời đại Hồ Chí Minh]
Bài 4: Kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập
[Kỳ 1: Chống phương Bắc đồng hóa – một sự thật kỳ diệu]
[Kỳ 2: Khoan thư sức dân – Quốc sách dựng nước và giữ nước]
[Kỳ 3: Hiền tài là nguyên khí quốc gia]
[Kỳ 4: Ông cha ta chống tham nhũng]
[Kỳ 5: Bài học vô giá: Đại đoàn kết dân tộc]
[Bài cuối: Sự kết tinh truyền thống giữ nước của dân tộc]

Chân lý “Sông núi nước Nam vua Nam ở” đã được tổ tiên ta tuyên ngôn hào sảng, từ đầu thiên niên kỷ thứ hai. Sau ngót ngàn năm, Hồ Chủ tịch tái khẳng định lại chân lý hiển nhiên và đanh thép: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Từ số báo này, Đại Đoàn Kết khởi đăng loạt bài: “Tổ tiên ta giữ nước” để mong sao góp một phần học hỏi những kinh nghiệm giữ nước của tổ tiên. Loạt bài sẽ đề cập đến những nét đặc sắc của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; khẳng định bản chất hòa hiếu của dân tộc Việt; nhấn mạnh tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm, đặc biệt là làm nổi bật những kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước.

Đại Đoàn Kết

Bài thơ thay lời hàng chục triệu dân Việt về Biển Đông

Bài cuối: Sự kết tinh truyền thống giữ nước của dân tộc

Năm 1954, trên đường về Thủ đô, nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn Quân tiên phong tại Đền Hùng, Bác Hồ nhấn mạnh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Những bài học lịch sử của dân tộc đã được kết tinh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ nước, bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Việt Nam từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên bao trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước. Trang sử giữ nước thật oai hùng, nhưng cũng thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt. Chúng ta hiểu điều đó, và bởi thế không khi nào chúng ta muốn chiến tranh. Chúng ta khát khao hoà bình, và có lẽ không có dân tộc nào muốn có hoà bình lại phải trải qua mất mát, hy sinh to lớn đến như thế! Nhưng chính giữ nước trong hoàn cảnh lịch sử ngàn năm ấy dạy chúng ta biết khoan dung, biết khép quá khứ, hướng tới tương lai, đồng thời cũng cho chúng ta bài học biết cầm vũ khí đánh giặc và thắng giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc.

Đoàn đại biểu 54 dân tộc trước bia chủ quyền đảo Song Tử Tây 3

Không phải chỉ những nhà nghiên cứu nước ngoài về Việt Nam, mà ngay chính chúng ta – những người Việt Nam cũng có lúc tự hỏi : vì sao chúng ta lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước đến vậy?

Trước tiên hãy phân tích nguyên nhân khách quan từ bên ngoài qua các thời kỳ.

Thời trung cổ, các Nhà nước phương Bắc được hình thành và xây dựng trên lưng ngựa, nghĩa là bằng sức mạnh quân sự, tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phục, chiếm lãnh thổ, xoá các Nhà nước yếu, sáp nhập vào nước mình, thống nhất thiên hạ. Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ như thế nào là một ví dụ. Hốt Tất Liệt chiếm Trung Nguyên lập nhà nước Đại Nguyên như thế nào lại là một minh chứng khác. Nhà Thanh chiếm Trung Quốc, sáp nhập vào Mãn Châu lập triều đại Mãn Thanh lại có kết cục lịch sử không còn Nhà nước Mãn Châu! Tuy kết cục có khác nhau, nhưng đánh chiếm đất đai, thâu tóm thiên hạ là trào lưu tư tưởng phổ biến của các triều đại phong kiến phương Bắc, kéo dài hàng ngàn năm hun đúc thành thứ chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa dân tộc Đại Hán theo hướng tiêu cực mà vẫn có người trong thời hiện đại chưa trút bỏ được. Việc đánh chiếm Đại Việt ( nước Việt Nam xưa), phần nhỏ còn lại của Bách Việt như là yêu cầu tất yếu khẳng định vị thế thiên triều và mục đích mở mang bờ cõi. Hơn nữa, Đại Việt nằm án ngữ con đường xuống vùng Đông Nam Á cả về đường bộ và đường thuỷ, như một vật cản tự nhiên đối với mưu đồ bành trướng của các triều đại phong kiến phương Bắc. Bởi vậy, việc đánh chiếm Đại Việt vừa là mục tiêu trước mắt, vừa là chiến lược lâu dài thực hiện mưu đồ bành trướng của các triều đại phong kiến phương Bắc. Ngoài nguyên nhân trên, còn một nguyên nhân khác là nội bộ các triều đại phong kiến phương Bắc thường diễn ra các cuộc chiến sinh tử giành ngôi vị và quyền lực, để giải quyết nó có một biện pháp tàn độc và ích kỷ đối với các dân tộc khác là giải quyết cuộc chiến nội bộ bằng cuộc chiến bên ngoài. Chính vì thế mà nước Đại Việt xưa luôn phải đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược từ Bắc phương.

Thời hiện đại, khi các nước tư bản phương Tây có nền công nghiệp và thương mại phát triển mạnh mẽ, đua nhau tìm kiếm thị trường và tài nguyên vì thế chiếm thuộc địa để có tài nguyên và thị trường là cách thức mới của chủ nghĩa đế quốc. Cách thức ăn cướp đất đai, tài nguyên và thị trường của chủ nghĩa thực dân cũ làm cho những nước đế quốc sinh sau hết phần ăn chia béo bở đã đẻ ra chủ nghĩa phát xít mà mục đích chủ yếu là phân chia lại thị trường thế giới. Các nước kém phát triển ở châu Á, kể cả Trung Quốc lần lượt trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa phát xít mới. Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam không thoát khỏi chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Vậy là gần một thế kỷ đánh Pháp rồi đứng về phe đồng minh đánh Nhật, tiếng súng không lúc nào ngớt trên dải đất hẹp bên bờ Biển Đông, làm cho nhân dân Việt Nam phải chịu biết bao tổn thất về người và của. Có dân tộc nào vừa thoát khỏi tay phát xít Nhật lại lọt vào tay thực dân Pháp để phải làm cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm mới có hoà bình trên một nửa nước như Việt Nam không?! Tưởng rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu góp phần chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ sẽ đến ngày Tổng tuyển cử Bắc Nam thống nhất, Việt Nam hoà bình, độc lập tự do, nhưng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lại làm cho nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt nhất thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh này còn có ý nghĩa ” ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, nên tính huỷ diệt bởi vũ khí hiện đại của hai phe đã đẩy chiến tranh tàn khốc không kém chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Theo dòng sự kiện ta thấy, với vị trí địa lý đặc biệt của mình, Việt Nam trở thành mục tiêu phải đánh của chủ nghĩa bành trướng, thôn tính các quốc gia nhỏ yếu lân bang thời trung cổ; Mục tiêu phải xâm chiếm của chủ nghĩa thực dân cũ và phát xít mới; Nơi đụng độ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa chủ nghĩa thực dân mới và phong trào giải phóng dân tộc.

Vậy là, chiến tranh từ bên ngoài như tất yếu “định mệnh” cho Việt Nam phải nếm trải. Tuy nhiên, cũng có những nguyên nhân chủ quan của các triều đại phong kiến Việt Nam dẫn đến các cuộc chiến tranh xâm lược.

Các triều đại phong kiến Việt Nam được lòng dân đã xây dựng nền thái bình thịnh trị, khi ấy địch có mạnh đến đâu cũng không dám phát động chiến tranh. Nếu có liều lĩnh phát động chiến tranh, đều bị đánh bại nhanh chóng, thậm chí còn bị đánh ngay khi chưa kịp châm ngòi chiến tranh xâm lược. Những sự kiện thời Lý, Trần đánh bại mưu đồ xâm lược của Tống, Nguyên minh chứng cho điều đó.Tiếc rằng, vua quan phong kiến khi tha hoá đã bóc lột, đàn áp nhân dân, nội bộ chia bè, kết phái, tranh quyền, đoạt vị… người trung thực vì dân, vì nước không được dùng, kẻ nịnh trên, nạt dân chiếm ưu thế làm cho thế nước suy yếu, kẻ địch lợi dụng mà phát động chiến tranh xâm lược. Lại thêm, trong cuộc chiến giành ngôi vị, có kẻ vì lợi ích riêng của mình đã cam tâm bán rẻ lợi ích dân tộc, ” cõng rắn cắn gà nhà” như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Hồ Quý Ly thoán ngôi nên đã mất lòng dân, mặc dù có những cải cách tiến bộ, chuẩn bị quốc phòng chu đáo nhưng vẫn là cái cớ để nhà Minh phát động chiến tranh xâm lược nước ta. Thời Lê – Trịnh, Trịnh – Nguyễn phân tranh là cơ hội tốt cho nhà Thanh xâm lược. Rồi phe chủ hòa nhà Nguyễn hèn nhát, không dám sống chết cùng toàn dân chống ngoại xâm nên mới mất nước vào tay thực dân Pháp để lại tiếng xấu trong lịch sử.

Nói tóm lại, thế lực cầm quyền thối nát, mâu thuẫn nội bộ, khối đoàn kết toàn dân bị lung lay là nguyên nhân chủ quan tạo cơ hội cho kẻ thù phát động chiến tranh xâm lược.

Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã phân tích, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng đã biết chiến đấu ngoan cường viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ để giải phóng dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam. Ôn lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ kinh nghiệm xương máu của cha ông trong đấu tranh giữ nước.

Ta chiến thắng trước tiên bởi ta chính nghĩa. Một dân tộc mà theo đạo lý nhân sinh phải được sống trong hoà bình, độc lập và tự do! Một nước ” vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia”, biên giới, lãnh thổ “rành rành định phận tại sách Trời” đứng lên quyết giữ vững độc lập tự do của mình là điều chính nghĩa không thể chối cãi. Một dân tộc có truyền thống lâu đời với ý chí sắt đá ” thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”; ” thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê.”; ” Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Dân tộc ấy không có sức mạnh nào khuất phục được.

Ta chiến thắng còn bởi vì ta biết ” lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo”. Sức mạnh của người khát khao hoà bình độc lập chống lại kẻ hiếu chiến bạo tàn đã làm nên chiến thắng tưởng như huyền thoại. Huyền thoại ấy là chuyện Thánh Gióng lớn nhanh như thổi với gậy sắt, giáp sắt, ngựa sắt phun ra lửa đánh tan giặc Ân, huyền thoại ấy là chuyện nỏ thần Cổ Loa, gươm thần của Lê Lợi, Quang Trung thần tốc tiến ra Thăng Long hẹn ăn Tết sau đại phá quân Thanh… Và huyền thoại ngay trong thời hiện đại với “Điện Biên Phủ trên không” giữa Thủ đô Hà Nội ta bắn hạ pháo đài bay B52 biểu tượng sức mạnh không lực Hoa Kỳ. Huyền thoại con đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không số nhỏ bé và thô sơ đã chở hàng trăm tấn vũ khí từ Bắc vào Nam chi viện cho tiền tuyến. Chiến thắng của người tự vệ phải ” lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh” như huyền thoại vì không thể dùng phép tính thông thường để đo sức mạnh làm nên chiến thắng, mà phải dùng sự thông tuệ của lý trí, sự nhạy cảm của trái tim mới hiểu được sức mạnh thần kỳ làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam với một nền văn hoá lâu đời. Nhà chiến lược quân sự tài ba một thời của Hoa Kỳ, ngài Mc. Na- ma- ra đã phải thú nhận trong hồi ký của mình về thất bại trong chiến tranh Việt Nam có nguyên nhân từ sự ” không hiểu văn hoá Việt Nam”!

Sức mạnh thần kỳ Việt Nam là bởi sức mạnh ấy được hun đúc và nhân lên gấp bội từ đời này qua đời khác, và vì nó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân thần thánh. Nhân dân bao giờ và ở đâu cũng là sức mạnh vô địch. Chiến tranh nhân dân sản sinh ra muôn vạn anh hùng! Chiến tranh nhân dân sáng tạo vô tận cách thức đánh giặc và thắng giặc mà không có sách nào ghi hết được.

Và cuối cùng ta chiến thắng bởi vì “mỗi khi đất nước bị xâm lăng” thì sức mạnh đại đoàn kết dân tộc sẽ kết lại thành làn sóng có sức nhấn chìm mọi kẻ thù xâm lược.

Người viết muốn nhấn mạnh điều có ý nghĩa lớn lao và thiết thực đối với chúng ta hôm nay là những bài học lịch sử của dân tộc đã kết tinh trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ nước độc lập tự do. Nổi bật hàng đầu và xuyên suốt Tư tưởng ấy là tư tưởng Đại Đoàn Kết. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công!”. Đoàn kết, trước tiên là đoàn kết đồng bào cùng là con cháu Lạc Hồng, không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, tôn giáo, nam, nữ… hễ là người Việt Nam yêu nước thì liên kết lại thành một khối thống nhất toàn dân tộc, chống kẻ thù xâm lược. Tinh thần đoàn kết ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi huy hoàng, giành độc lập tự do cho dân tộc. Đại đoàn kết còn là đoàn kết với nhân dân các nước, với các lực lượng hoà bình tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt vào các giai đoạn có tính bước ngoặt lịch sử, phải biết đứng về phía chính nghĩa, để có thêm sức mạnh đánh kẻ thù chung. Việt Nam đứng về phe đồng minh chống phát xít là một sự sáng suốt.

Đối với Đảng, lời cuối cùng Bác căn dặn: “Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” đủ cho thấy ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng Đoàn kết quan trọng đến như thế nào. Đảng là đội tiên phong, là tổ chức lãnh đạo toàn xã hội không thể mất đoàn kết vì mất đoàn kết là mất tất cả. Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã cho ta bài học về điều đó. Những kẻ có dã tâm đánh chiếm nước ta, chỉ chờ nội bộ ta bất hoà là chúng đã có thể khai thác chia rẽ để chèn ép. Nếu có kẻ “cõng rắn cắn gà nhà” kiểu Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, hay nhu nhược đớn hèn như phái chủ hoà của nhà Nguyễn, các phần tử hiếu chiến sẽ chớp cơ hội phát động chiến tranh xâm lược. Từ bài học xương máu của lịch sử, hơn lúc nào hết chúng ta cần đoàn kết trong Đảng từ Trung ương tới các chi bộ, xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hoá, tham ô, nhũng nhiễu làm mất lòng dân, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế, kiên trì chính sách ngoại giao đa phương với tôn chỉ ” Việt Nam là bạn đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế”, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của tất cả các nước, các tổ chức, cá nhân vì độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta. Hiện nay tình hình quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, nơi này, nơi kia còn có chiến tranh, cơn khát dầu mỏ và tài nguyên có vẻ đang trỗi dậy khiến cho chạy đua vũ trang như đang được khởi động… Tuy nhiên, tư tưởng dùng sức mạnh quân sự để thôn tính một quốc gia có chủ quyền hay chiếm đất, chiếm tài nguyên bằng sức mạnh quân sự đã quá lỗi thời, nếu còn đọng lại chỉ là số ít những phần tử hủ lậu, hiếu chiến và thiển cận mà thôi. Lãnh đạo các nước trong khối ASEAN, đặc biệt các nước láng giềng của Việt Nam như Trung Quốc, Lào, Campuchia đều đủ sáng suốt để nhận thấy rằng hoà bình, hữu nghị là lợi ích của tất cả các bên, là tiền đề của sự phát triển. Quán triệt Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh trước hết phải làm cho dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Trong điều kiện ngày nay, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế sẽ cho ta sức mạnh ngăn chặn ngay từ đầu mưu đồ đen tối, thiển cận, hẹp hòi của những phần tử hiếu chiến, kém hiểu biết lịch sử, tư duy lỗi thời, trái với xu thế hoà bình, dân chủ và phồn vinh chung. Tinh thần Đại đoàn kết vì độc lập tự do là sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam cho chúng ta niềm tin vào tương lai một Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

TS Nguyễn Viết Chức

Cùng bạn đọc !

Kể từ ngày 12-9-2011, Đại Đoàn Kết đã khởi đăng loạt bài với chủ đề “Tổ tiên ta giữ nước”, đến số báo hôm nay Đại Đoàn Kết đã đăng nhiều bài của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo… về chủ đề này. Những bài viết đó đã đề cập từ những vấn đề chung như nét đặc sắc của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tư tưởng hòa hiếu Việt Nam đến những vấn đề cụ thể như những chiến công hiển hách chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam; đặc biệt là nêu bật kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập từ các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần… đến thời đại Hồ Chí Minh.

Mặc dù kết thúc loạt bài song chúng tôi cũng như bạn đọc luôn nhận thức rằng, các bài học trong quá trình dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta luôn có giá trị trường tồn, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc như Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra.

Xin trân trọng cảm ơn bạn đọc, các cộng tác viên đã gửi bài viết và đã góp ý kiến cho chúng tôi về chủ đề “Tổ tiên ta giữ nước”. Do khuôn khổ có hạn của báo, chúng tôi không thể đăng tất cả các bài được gửi đến, mong bạn đọc thông cảm và tiếp tục cộng tác với báo trong thời gian tới.

Đại Đoàn Kết

Bài 4: Bài học vô giá: Đại đoàn kết dân tộc – Kỳ 5

Về phương diện chống xâm lược, hiếm có dân tộc nào trên thế giới như Việt Nam phải đương đầu với các thế lực bành trướng, đế quốc hùng mạnh, có quân đội thiện chiến và rất tàn bạo. Giặc Nguyên-Mông chiếm nửa thế giới, chiếm cả nước Trung Hoa rồi mới tiến công nước Đại Việt năm Đinh Hợi 1257 và từ đó đến năm 1287, tiến công nước ta hai lần nữa nhưng đều thất bại.

Hội nghị Diên Hồng

Hơn 120 năm sau, nhà Trần sụp đổ. Lợi dụng lúc đất nước ta đang còn rối ren, giặc Minh đã xâm chiếm nước ta. Giặc Minh quá mạnh, lúc đầu Lê Lợi còn phải nhịn nhục, ngậm đắng nuốt cay để bí mật chuẩn bị lực lượng, quy tụ nhân tài, Lê Lợi đã chịu đựng đến mức như Lê Quý Đôn đã viết trong Đại Việt thông sử: “nhận thấy thế quân địch đang mạnh nên ngài (Lê Lợi) càng ẩn trong bóng tối, không dám khinh động, thường đem báu vật năn nỉ, hối lộ cho bọn Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ (bọn trùm sỏ giặc Minh chiếm đóng nước ta), những mong được khỏi nạn, để nuôi thêm sức lực và chờ thời cơ”. Cuộc kháng chiến Lam Sơn kéo dài 10 năm, đến năm 1427 đã giải phóng hoàn toàn đất nước.

Cuộc kháng chiến 30 năm thắng Pháp rồi thắng Mỹ đã gây chấn động địa cầu. Một câu hỏi được nêu lên ở khắp nơi trên thế giới sau Đại thắng mùa Xuân 1975: “Tại sao Việt Nam là một nước nhỏ lại có thể đánh thắng Mỹ? Tại sao Mỹ là cường quốc số 1 lại chịu thua ở Việt Nam? Hàng ngàn cuốn sách đủ mọi thứ tiếng đã viết về cuộc chiến tranh Việt Nam, không thể đếm được bao nhiêu cuộc hội thảo ở Mỹ và nhiều nơi trên thế giới về những nguyên nhân Mỹ thua ở Việt Nam nhưng vẫn còn nhiều người chưa hết băn khoăn, trăn trở, chưa tìm được lời giải đáp thấu đáo, cặn kẽ như mong muốn. Chính vì vậy, cuốn hồi ký của cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mac Namara, từng nổi tiếng trong phái “diều hâu” ở Mỹ “Nhìn lại quá khứ – Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, năm 1995 mới xuất bản vẫn được mọi người tìm đọc. Cuốn hồi ký mở đầu bằng Lời nói đầu, trong đó Mac Namara bộc lộ ngay là ông đã quyết định không viết cuốn hồi ký này mặc dù gần một phần tư thế kỷ qua người ta đã liên tục thúc ép ông nói ra những quan điểm của ông về Việt Nam. Thế nhưng cuối cùng ông đã viết dù chiến tranh đã kết thúc 20 năm.

Cuốn sách có 11 chương, chương cuối cùng là “Những bài học Việt Nam”, tác giả đã mở đầu như sau:

“Việc dính líu của tôi tới Việt Nam đã kết thúc sau khi tôi rời Phòng họp phía Đông. Còn cuộc chiến tranh còn kéo dài thêm bảy năm nữa. Đến khi người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Nam Việt Nam năm 1973, chúng ta đã mất 58.000 người cả nam lẫn nữ, nền kinh tế của chúng ta đã bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý cho cuộc chiến tranh trong nhiều năm liền và sự thống nhất chính trị của xã hội chúng ta bị tan nát và hàng thập kỷ sau vẫn không khôi phục được. Liệu những cái giá cao đó có được biện minh hay không” (trang 313)

Những tổn thất lớn mang tính chiến lược do chiến tranh Việt Nam gây ra cho Mỹ phải tầm cỡ Mac Namara mới nói rõ được như vậy. Một trong những nguyên nhân chính gây ra thảm họa của Mỹ ở Việt Nam, cũng là bài học thấm thía với Mỹ, được ông viết như sau:

“Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩy một dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng), đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó và cho đến nay chúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trên thế giới. Sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũi nhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của dân tộc. Chúng ta đã không duy trì sự đoàn kết đó”. (trang 316, 317).

Thắng lợi không chỉ do vũ khí (nếu do vũ khí thì phần thắng bao giờ cũng thuộc về Mỹ), thắng lợi trước hết thuộc về sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc. Mac Namara thừa biết khi Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam, kho vũ khí của Mỹ vẫn chưa có nước nào sánh kịp, còn viện trợ cho hàng chục nước mỗi năm nhưng Mỹ vẫn phải rút, chấp nhận lần đầu tiên thất bại vì không thể đọ sức mãi với một cuộc chiến tranh nhân dân, trong đó mỗi người dân là một chiến sĩ. Đoàn kết trước hết là dân, trên hết là dân, triều đại nào coi dân là gốc đều phồn vinh, nếu có xâm lược đã có chỗ dựa vững chắc, cả một kho người không những biết cầm vũ khí còn đủ cả ngành nghề lớn, bé, già trẻ làm ra mọi thứ xã hội cần, tiền tuyến cần. Nghe tin giặc Nguyên-Mông sắp sửa kéo vào nước ta, vua Trần Nhân Tông rất lo, đánh hay hòa, Vua không dám quyết, cuối cùng đành hỏi dân, thông qua các bô lão họp tại Hội nghị Diên Hồng. Các bô lão đồng thanh xin đánh, vua và triều đình coi ý dân là mệnh lệnh đã quyết kháng chiến. Chống Nguyên-Mông đã để lại cho đời sau bài học sâu sắc về đoàn kết dân tộc. Thoát Hoan rút chạy đã để rơi cái tráp đựng đơn của các quan lại hèn nhát trong vùng địch còn tạm chiếm, xin địch cho tiếp tục được làm quan. Sau đại thắng, bình công định tội, triều đình tin chắc các quan lại phản bội sẽ chịu tội nặng. Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã làm cho cả triều đình kinh ngạc, ông lệnh cho đốt ngay cái tráp và tất cả đều thoát tội. Sau chiến tranh, hành hạ nhau, gây thù gây oán chỉ mắc mưu giặc, tốt nhất là để mọi người yên vui chiến thắng. Giặc Nguyên-Mông, giặc Minh, giặc Thanh đều mạnh hơn ta gấp trăm lần nhưng cuối cùng vẫn chịu thảm bại, phải rút chạy vì không thể phá vỡ khối đại đoàn kết muôn người như một. Bài học Lấy dân làm gốc, trong lòng dân tộc không có hận thù, không có giai cấp này chống giai cấp kia, đã là người Việt Nam tất cả dù chính kiến, dân tộc, tôn giáo giàu nghèo khác nhau đều thương yêu, đùm bọc, cưu mang nhau, đã mở đường cho kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ thành công. Không phải ngẫu nhiên mà sau hơn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, trở về nước đầu tháng 2-1941, Bác Hồ đã viết ngay “Lịch sử nước ta” làm tài liệu học tập, đào tạo cán bộ Việt Minh, thực hiện đoàn kết dân tộc theo Mặt trận Việt Minh, muôn người như một đúng như truyền thống của ông cha. Từng sống lâu năm ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp, ở Liên Xô, ở Trung Quốc, hoạt động cách mạng tại trung tâm văn hoá thế giới, cũng là những nơi diễn ra những cuộc cách mạng nổi tiếng, Bác Hồ đã có dịp điều tra tại chỗ, nghiên cứu, so sánh và thấy đoàn kết dân tộc như truyền thống của ông cha ta là đúng đắn nhất, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Lúc này trong Đảng đoàn kết còn hẹp hòi (trí, phú, địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ) tất cả đều chuyển sang đoàn kết như Việt Minh, lực lượng ta đang phân tán đã tập trung về một hướng lấy dân làm gốc, mạnh hơn hẳn, đông hơn hẳn vì không còn ai đứng ngoài Mặt trận Việt Minh. Bác Hồ đã viết bài báo nổi tiếng “Nên học sử ta” đăng báo Việt Nam Độc lập ngày 1-2-1942, kêu gọi mọi người ghi lòng tạc dạ bài học này của ông cha: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do.

Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh và Liên Việt
biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Ảnh: T.L

Cuối bài báo này tác giả nhắc nhở mọi người tìm mua quyển “Lịch sử nước nhà”, giá mỗi quyển 1 hào, ai muốn mua hỏi cán bộ địa phương. Trong 5 năm, “Lịch sử nước nhà” được tái bản 3 lần, mỗi lần đều có bổ sung để làm nổi bật những bài học ông cha để lại, trong đó quy tụ nhân tài, trọng dụng nhân tài là nội dung cốt lõi của khối đại đoàn kết dân tộc vì khi những người có thực tài không được trọng dụng thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ thiếu đi những tinh hoa, trí tuệ của những người như ông cha ta gọi là “những người biết lo”.

Mỗi lần nước mất, nhà tan, ngoại xâm đã ở trong lòng, đoàn kết đều muôn người như một nhưng khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng, không còn bóng tên xâm lược, chỉ còn ta với ta, đoàn kết dân tộc có thời điểm bị thu hẹp. Ngay sau Đại thắng mùa xuân 1975, có một thời gian giai cấp tư sản, các doanh nhân… không còn là thành viên Mặt trận, cho là thành phần “phi xã hội chủ nghĩa”. Liên hiệp xã tiểu thủ công, một tổ chức quần chúng của những thợ thủ công thuộc các ngành nghề cả nước khi đó cũng không còn là thành viên Mặt trận nữa vì đã bị quốc hữu hóa, trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ do một thứ trưởng phụ trách. Còn ngoại xâm trên đất nước ta thì đoàn kết muôn người như một và khi đất nước độc lập, thống nhất thì điều rất nhãn tiền là đoàn kết không còn rộng rãi nữa, lãng phí nhân tài là tổn thất lớn nhất kéo dài mấy chục năm qua.

Suốt thiên niên kỷ thứ hai, chống ngoại xâm đủ mọi màu da đều thắng lợi rực rỡ nhờ sức mạnh vô địch của đoàn kết muôn người như một. Ngày nay đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, đi vào sản xuất, kinh doanh, bài học vô giá ấy ông cha để lại cần được thực hiện nghiêm chỉnh, đặc biệt là quy tụ và sử dụng nhân tài thì mới có thể tồn tại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, nếu không sẽ bị loại ra khỏi cuộc cạnh tranh và nếu còn tồn tại sẽ cùng chung số phận với một số nước, chỉ như là vệ tinh của nước giàu, bị nước giàu chi phối, sẽ mãi mãi nghèo, và nếu có khá hơn cũng chẳng còn vượt ra khỏi cái bẫy thu nhập trung bình.

Thái Duy

daidoanket.vn

Bài 4: Ông cha ta chống tham nhũng – Kỳ 4

Sau ba lần đánh thắng giặc Nguyên – Mông, lần thứ ba vào năm Đinh Hợi (1287), nhà Trần thịnh vượng được hơn 60 năm. Đến đời vua Trần Dụ Tông (1341 – 1369) lên ngôi được một số năm, đã chăm lo đến dân bị thiên tai nhưng dần bị bọn gian thần đã lôi cuốn vua theo chúng, bóc lột tiền dân, sức dân xây cung điện, làm nhà cao, đắp tường đẹp, học đòi lối sống xa hoa, hưởng lạc. Dụ Tông ham đánh bạc, còn gọi người giàu ngoài phố vào cung đánh bạc. Riêng uống rượu, các quan nào tửu lượng cao còn được phần thưởng vua ban, thậm chí uống nhiều rượu còn được thăng chức.

Chu Văn An là bậc danh nho, gần xa cả nước đều biết tiếng. Một số người làm quan đến thượng thư, hành khiển như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát cũng đều giữ lễ học trò, khi đến thăm hỏi vẫn lạy dưới giường, được trò chuyện vài câu với thầy là mừng lắm. Có điều gì không phải thì quở trách, thậm chí quát mắng không cho vào. Chu Văn An nghiêm nghị như thế nên Thượng hoàng đã mời vào triều phong làm Tư nghiệp dạy Thái tử học. Chu Văn An làm quan trong triều, thấy Trần Dụ Tông chơi bời lười làm chính trị, quần thần nhiều người hại dân, hại nước, Chu Văn An can ngăn không được. Ông biết rõ những tên gian thần tội nặng nhất, ông dâng sớ lên vua xin chém đầu bẩy tên gian thần có thế lực rất được vua yêu. Dụ Tông không nghe ông, Chu Văn An liền treo ấn từ quan, về núi Chí Linh ở ẩn. “Thất trảm sớ” của Chu Văn An được sử gia trân trọng ghi lại như một hành động quyết liệt của người tài cao đức trọng đối với bọn quan lại tham nhũng. Sau khi mất, Chu Văn An được thờ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Người tài mất quá nhiều, đến Chu Văn An là đỉnh cao. Đại Việt sử ký tiền biên, quyển VII, trang 459 nhắc đến lòng dân ngao ngán khi không còn Chu Văn An, đã ghi lại nhận xét:

“Vua biết tôn trọng thầy dạy mà không biết bàn việc với thầy. Cho nên người hiền không nên chỉ làm vì. Chu Văn An bỏ đi, không có ai nói cho đạo tốt đẹp, như câu ta thường nói: Không tìm bậc nhân hiền thì nước trống rỗng – như không có người vậy”.

Dân trọng người tài, tin người tài, cần người tài đến như thế.

Từ Trần Dụ Tông đến mấy đời vua tiếp theo đất nước tan hoang, dân cực khổ đến nỗi kiếm được tấm cám để ăn cũng khó trong khi bọn gian thần nắm quyền giàu có, của ăn không hết. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim viết về cuối đời Trần suy vong như sau:

Quân Chiêm Thành bấy giờ ra vào nước Nam ta như đi vào chỗ không người, cho nên trong mấy năm vào phá kinh thành ba lần, ba lần Thượng Hoàng cùng Đế Hiển phải bỏ thành mà chạy. Thế mà đến khi giặc rút về rồi, cũng không sửa sang gì để phòng bị về sau, thật là làm nhục cái tiếng con cháu Trần Hưng Đạo Vương. Trong nước dân tình đói khổ, thuế má, ngày càng tăng, kho tàng trống rỗng, Vua bắt mỗi suất đinh mỗi năm đóng 3 quan tiền thuế. Thuế thân sinh ra từ đây. Vua quan chỉ còn lo đến thân, sợ giặc ngoài đến nỗi tiền của vơ vét của dân không dám để trong nhà, phải đem chôn giấu trên núi”.

Triều đình nhà Minh vẫn dòm ngó nước ta, đã không bỏ lỡ cơ hội nước ta như vô chủ, lấy cớ đánh bọn Hồ Quý Ly đã cướp quyền của nhà Trần, để chiếm nước ta. Con cháu của những người đã làm nên chiến thắng vĩ đại, đánh tan mọi cuộc tiến công của giặc Nguyên – Mông từng chiếm nửa thế giới và cả nước Tàu, đất nước ta mạnh hơn bao giờ hết nhưng khi chỉ còn ta với ta, sức tàn phá của triều đình tham nhũng ghê gớm đến mức biến dân dân tộc ta thành nô lệ cho bọn thống trị phương Bắc. Truyền thống đánh giặc giữ nước của nhân dân ta như những đốm lửa mãi mãi còn nhen nhóm, mỗi lần Tổ quốc lâm nguy, ngàn cân đã treo sợi tóc lại xuất hiện cứu tinh, lần này là Lê Lợi, xưng vương là Bình Định Vương, quê làng Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Anh hùng hào kiệt kéo nhau về Lam Sơn xin được đánh giặc dưới cờ khởi nghĩa của ông, trong đó có Nguyễn Trãi xin yết kiến ông và dâng lên Lê Lợi bản Bình Ngô Sách, một kế hoạch kháng chiến chống giặc Minh. Lê Lợi xem thấy hay, đã dùng Nguyễn Trãi là tham mưu thân cận, coi việc “nội mật” và soạn thảo những văn kiện quan trọng về nội chính và ngoại giao.

Chống giặc Minh, địch hơn ta gấp 100 lần, có lúc ta chịu giảng hòa với địch vì không còn lương ăn nhưng nhờ sự hy sinh không bờ bến của nhân dân, quân khởi nghĩa hồi phục lại được. Cuộc kháng chiến kéo dài 10 năm ta mới giành được thắng lợi cuối cùng. Ngay sau chiến thắng vĩ đại, Lê Lợi yêu cầu Nguyễn Trãi viết tổng kết cuộc kháng chiến để công bố cho toàn dân biết thắng lợi rực rỡ mở ra một thời kỳ độc lập, thái bình mới. Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô Đại Cáo, một áng văn bất hủ được coi là Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc ta.

Trong dân thuộc lòng từng đoạn Bình Ngô Đại Cáo, nhất là qua ngòi bút của Nguyễn Trãi, ca ngợi tinh thần quyết chiến quyết thắng của dân ta:

… Voi uống mà cạn hết nước sông.
Gươm mài mà khuyết mòn đá núi.
Đánh trận đầu sạch sanh kình ngạc.
Đánh trận nữa tan tác chim muông.
Thôi đô đốc gối quỳ phục tội.
Hoàng thượng thư tay trói nộp mình.
Tướng giặc bị bắt, xin thương hại vẫy đuôi cầu sống
Uy thần chẳng giết, lấy khoan hồng thể bụng hiếu sinh
Bọn Phương Chính, Mã Kỳ được cấp năm trăm thuyền
đã vượt biển vẫn hồn kinh phách lạc.
Lũ Vương Thông, Mã Anh được cho mấy nghìn ngựa,
 đã về nước còn ngực đập chân run…”.

Những lời tâm huyết thấm đượm lòng tự hào dân tộc của vị tướng kiệt xuất, cũng là nhà văn hóa lớn đã làm phấn chấn lòng người qua mọi thế hệ.

Ngay sau đại thắng giặc Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi nghĩ ngay đến bài học đời Trần, đã không còn giặc Nguyên – Mông nhưng lại để bọn quan lại tham nhũng nắm quyền sinh, quyền sát, cuối cùng nước mất, nhà tan. Lê Lợi đồng tình với hoài bão lớn của Nguyễn Trãi: cứu nước chưa đủ, còn phải cứu dân, giải phóng đất nước chưa đủ, vì mới giải phóng khỏi bọn thống trị nước ngoài, còn phải giải phóng dân, lúc nào cũng phải gắn liền nước với dân, chỉ nói “trung với nước” nhưng dân đói khổ thì nước làm gì còn. Tư tưởng lớn của Nguyễn Trãi đã vượt lên trên thời đại của ông, chính là đất nước đã được tự do, độc lập, không còn bóng bọn xâm lược, bọn thống trị nước ngoài, nhưng bằng mọi giá không được để xuất hiện và tồn tại bọn gian thần thống trị trong nước, như thế mới thực sự cứu dân, thực sự yêu dân, thực sự vì dân. Lê Lợi đã kịp thời có Chiếu cấm các đại thần, tổng quản cùng các quan ở viện, sảnh, cục tham lam, lười biếng… (do Nguyễn Trãi chấp bút), xin trích đoạn mở đầu:

“… Trước kia họ Trần cậy mình mạnh giàu, mặc dân khốn khổ, chỉ ham vui chơi, đắm đuối tửu sắc. Những việc vô ích bày ra hàng ngày, nào là đấu cờ, đánh bạc, chọi gà, thả chim, nào là chim rừng nhốt lồng, cá vàng nuôi chậu. Khoe tốt tài năng nhỏ mọn, giành lấy hơn thua. Quên hẳn thiên hạ lớn lao chẳng hề đoái nghĩ. Khanh tướng lập đảng riêng tây, triều đình thiếu người can gián. Cho đến nỗi con vua cháu chúa bị hại bởi kẻ gian thần, quyền lớn, việc to đều lọt vào tay xiểm nịnh. Nhân dân oán ghét mà không biết. Lòng Trời khiển trách mà chẳng kinh. Kẻ thân yêu được tôn hiển, người xu nịnh được tin dùng…

Ta đêm ngày lo nghĩ, không hề chốc lát lãng quên, chỉ sợ xe trước đã đổ, mà xe sau cũng lại đi theo lối ấy (trang 83 – Quân trung từ mệnh tập – Nguyễn Trãi – Nhà xuất bản Sử học – 1961).

Lê Lợi còn một Chiếu nữa (do Nguyễn Trãi chấp bút) gửi các đại thần, tổng quản cấm không được xây cung điện, cung thất và căn dặn những nhà cửa hiện có đã đủ để ở và làm việc. Lê Lợi và Nguyễn Trãi mong xây dựng một Nhà nước “tận trung với nước, tận hiếu với dân” để tránh đi vào vết xe đổ của nhà Trần nhưng hai ông đã lực bất tòng tâm. Ngay sau khi đất nước được giải phóng, quyền lực chủ yếu đã vào tay bọn gian thần, chúng thấy ý thức dân chủ của vua quan, triều thần có chiều hướng đi lên, đe dọa nghiêm trọng địa vị, quyền lợi, vận mệnh của chúng, chúng tìm mọi cách loại bỏ, hãm hại các công thần yêu dân yêu nước. Chúng đã tổ chức bình công, sự thật là để tranh công, khen thưởng những người có công đánh thắng giặc Minh, trong 221 người được khen thưởng không có Nguyễn Trãi, cũng không có Trần Nguyên Hãn, một vị tướng công lao rất lớn. Bọn gian thần còn dựng chuyện Nguyễn Trãi chống lại triều đình để gấy áp lực buộc Lê Lợi bắt Nguyễn Trãi và giết Trần Nguyên Hãn. Một thời gian sau chúng trả lại tự do cho Nguyễn Trãi, lại giao việc cho ông nhưng chỉ còn những “hư hàm” chứ không còn thực chức. Sau giải phóng, Lê Lợi, Lê Thái Tôn lên làm vua mới 10 tuổi. Lê Sát làm phụ chính nhân danh nhà vua cầm quyền trị nước. Lê Sát kính trọng Nguyễn Trãi nên Nguyễn Trãi vẫn giúp ích cho triều chính mới trong một số năm nhưng áp lực mạnh mẽ của bọn gian thần có thế lực buộc Lê Sát không còn dám giao việc cho Nguyễn Trãi nữa.

Một nhà vua đang tuổi trưởng thành, sống trong xa hoa giữa một lũ bầy tôi chuyên làm nghề gièm pha, nịnh hót với cả một triều chính đầy rẫy những con người thèm khát quyền vị, mọi mưu mô, mọi sự thêu dệt giữa bọn tiểu nhân giành giật nhau từng miếng lợi lộc là câu chuyện thường xuyên. Trong sách “Nguyễn Trãi đánh giặc giữ nước”, nhà sử học Nguyễn Lương Bích đã viết về nội bộ triều đình nhà Lê khi Nguyễn Trãi đã thất sủng như sau:

“Một số tướng lĩnh của nghĩa quân Lam Sơn lúc này cũng trở thành những công thần mở nước, quyền cao chức trọng hơn hết một thời. Họ đương từ những quân nhân cầm vũ khí đánh giặc bỗng trở thành những người làm chính trị, những người lãnh đạo chính quyền, điều khiển mọi việc dân, việc nước, đương từ những người dân bình thường, những người “lấy giáp trụ làm chăn áo, lấy đồng cỏ làm cửa nhà”, cơm ăn sớm tối không được hai bữa, áo mặc đông hè chỉ có một manh” bỗng trở nên những nhà quyền quý tột bậc “đẹp cung thất, cao đài tạ”, hợp thành một tầng lớp trên của giai cấp phong kiến đương thời. (trang 516)

Một con người có danh tiếng quá lớn, một học vấn quá uyên bác và một đạo đức quá thanh cao như Nguyễn Trãi đã thấy rất sớm mối họa của đất nước khi bọn gian thần trong nước cầm quyền và hoàn toàn không ngờ, đất nước đã sạch bóng giặc Minh nhưng không sao ngăn chặn được bọn gian thần trong nước cầm quyền. Nhân dân cực khổ bao nhiêu, vẫn đói ăn thiếu mặc như thời còn kháng chiến, còn bọn cầm quyền giàu có, thừa thãi mở yến tiệc hàng ngày. Và còn bi kịch nào lớn hơn nữa, Nguyễn Trãi không chỉ phải chịu dưới quyền điều khiển của chúng mà chức vụ cuối cùng chúng bắt ông làm là giữ chùa. Ở Côn Sơn, quê Nguyễn Trãi, có chùa Tư Phúc của triều đình, đã lâu không có người trông nom, nay giao cho Nguyễn Trãi.

Thế nhưng bọn gian thần vẫn chưa dừng ở đây, Nguyễn Trãi còn sống thì dù giữ bất cứ chức vụ gì và ở đâu, ý kiến của ông bao giờ cũng hợp lòng người, được mọi người khao khát chờ đợi. Chúng phải tìm mọi cớ giết ông. Ngày 27-7 năm Nhâm Tuất (1442) Vua Lê Thái Tôn rời khỏi kinh thành lên miền Đông để duyệt binh ở Chí Linh. Khi trở về, Vua vãng cảnh Côn Sơn, Nguyễn Trãi đã đưa Vua đi thăm Côn Sơn, Nguyễn Thị Lộ, thiếp của Nguyễn Trãi cũng đi theo hầu vua. Dọc đường, Vua mắc bệnh nặng và chết đột ngột. Bọn gian thần đổ mọi tội cho Nguyễn Trãi đã đầu độc vua và chúng đã giết ông và tru di tam tộc (giết cả ba họ).

Trong bài báo “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc” đăng báo Nhân dân ngày 19-9-1962, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đánh giá cái chết của Nguyễn Trãi như sau:

“Đối với triều định nhà Lê lúc bấy giờ, sau khi “bốn biển đã yên lặng”, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thương của Nguyễn Trãi bị “tru di” ba họ là ở đó”.

Khi tham quan ô lại đã nắm quyền thì “trung thực, nhân nghĩa, thanh liêm” đều là tội lớn, không thể dung thứ. Tham nhũng và hiền tài như là nước và lửa không thể cùng tồn tại, dứt khoát như vậy nên nhìn vào lịch sử nước nhà từ đời Lý, đến đời Trần, đời Lê và đời Nguyễn sau này, nhân tài không được trọng dụng bị trù dập, nhân tài bị hãm hại hoặc phải về ở ẩn, vì bọn thống trị nước ngoài không nhiều, mà rất trớ trêu lại do chính bọn cầm quyền tham nhũng không tin dùng. Nhà Trần sụp đổ vì triều đình tham nhũng nên mới nước mất nhà tan, nhà Lê suy sụp cùng vì tham nhũng nên đất nước rối loạn, các phe phái phong kiến Mạc – Trịnh và Trịnh – Nguyễn xung đột, đất nước bị chia cắt hơn 200 năm.

Đến Nhà Nguyễn, thế kỷ 19, tháng 4-1863, đúng vào năm triều đình vua Tự Đức ký hòa ước nhượng đất cho Pháp, nhà canh tân Nguyễn Trường Tộ đã viết bản điều trần “bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ” gửi triều đình, trong có đoạn như sau:

“Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vua vui lòng, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái, khuynh loát nhau, như vậy cũng đã hiểu, ngoài các tỉnh thì quan tham lại xưng hùng xưng bá, tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi… cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu mục, nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình, dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài, mà ở ngay trong nước vậy”.

Bài học lớn ông cha ta để lại, mãi mãi rất thiết thân với cháu con là bất cứ thời nào để tham nhũng hoành hành, không đẩy lui được tham nhũng thì bộ máy Nhà nước không thể còn người đức và như ông cha ta đã nhìn ra từ thế kỷ 13, khi không còn người tài đức tham gia an dân, trị nước thì đất nước trở nên “trống rỗng, như không có người vậy”.

Thái Duy

daidoanket.vn

Bài 4: Hiền tài là nguyên khí quốc gia – Kỳ 3

Dân tộc ta ra đời và phát triển trong một hoàn cảnh thường xuyên bị đe dọa bởi thiên tai và địch họa. Thật khó có thể tồn tại nếu không có tinh thần yêu nước, ý chí tự cường và khát vọng độc lập, tự do luôn cháy bỏng. Trên nền tảng địa – chính trị phức tạp cộng hưởng với các yếu tố tinh thần đặc biệt ấy, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt đã không ngừng xuất hiện những tài năng lỗi lạc củng cố thêm niềm tin và sức mạnh của toàn dân tộc, cùng với cả dân tộc vượt qua bao gian nguy thử thách, bao phen đã làm cho những kẻ xâm lược mạnh nhất hành tinh phải khiếp sợ.

Thầy giáo Chu Văn An

Đó chính là những bậc hiền tài của đất nước, là nguyên khí của quốc gia. “Nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh mà càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cấp bách”, bia đá dựng ở Văn Miếu hơn 500 năm trước còn ghi lại lời văn của danh sĩ Thân Nhân Trung vâng mệnh vua thể hiện rõ tư tưởng coi trọng hiền tài của các bậc minh quân thời bấy giờ. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, không còn dừng lại trong phạm vi xã hội thời Lê, giờ đây nó đã mang một ý nghĩa phổ quát đối với mọi quốc gia qua mọi thời kỳ lịch sử. Điều đó cũng chính là một trong những bài học vô giá, quan trọng và đầu tiên của tổ tiên ta trong các kế sách dựng nước, giữ nước và củng cố nền độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ cho dân tộc.

Năm 938, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng kết thúc 1.000 năm Bắc thuộc, mở ra thời kỳ xây dựng nền độc lập tự chủ của dân tộc. Các triều đại phong kiến đầu tiên của Việt Nam ngay lập tức phải đối mặt với nhiều khó khăn không chỉ xuất phát từ phương Bắc, mà còn từ nội tình trong nước loạn lạc khắp nơi đe dọa sự sống còn của nền độc lập non trẻ. Kể từ khi Ngô Quyền lên ngôi cho tới khi nhà Đinh mất chỉ vẻn vẹn có 4 thập niên ngắn ngủi thế mà biết bao biến cố đã xảy ra làm lòng người ly tán. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên ngôi trong lúc thế nước như “nghìn cân treo sợi tóc”. Các phe phái trong nước nổi lên tranh giành quyền lợi riêng tư, trong khi giặc xâm lăng hùng hậu đã ngấp nghé chực chờ nơi biên ải. Là người trong cuộc, xuất thân võ biền, Lê Hoàn không biết chia sẻ nổi lo âu với ai để tìm cách thống nhất lòng người, củng cố nguồn lực để bảo vệ lãnh thổ và nền độc lập tự chủ của dân tộc.

May mắn thay bên cạnh nhà vua lúc đó xuất hiện nhiều bậc hiền tài xuất thân từ tầng lớp tu sĩ Phật giáo. Cần nhớ rằng, Phật giáo du nhập vào Việt Nam rất sớm, qua con đường Ấn Độ, do đó Phật giáo Việt Nam thời Lê Hoàn mang đậm bản sắc riêng biệt khác hẳn khi bị ảnh hưởng bởi các dòng thiền Trung Hoa sau này. Giới tăng sĩ Phật giáo là một trong số rất ít người có học, được tiếp thu các tinh hoa văn hóa của dân tộc và thế giới vào thời bấy giờ. Quan trọng hơn, tri thức và sự minh triết của giới tu sĩ đã cho họ có nhận thức rất sớm về tinh thần độc lập và tự chủ của dân tộc trước âm mưu đồng hóa của ngoại bang. Càng may mắn hơn cho dân tộc, khi đích thân nhà vua tìm tới các vị thiền sư để bày tỏ và chia sẻ nỗi lo âu của mình trước thế nước “nghìn cân treo sợi tóc”. Lê Hoàn đã gặp thiền sư Pháp Thuận và hỏi: “Vận nước rồi sẽ ra sao?”. Pháp Thuận đáp: “Quốc lộ như đằng lạc, Nam thiên lý thái bình, Vô vi cư điện các, Xứ xứ tức đao binh” (có nghĩa là: Vận nước như cây leo, Trời Nam mở thái bình, Vô vi trong chính sách, Chốn chốn hết đao binh). Pháp Thuận đã khuyên nhà vua nên đi theo con đường tùy duyên mà ứng xử để hóa giải thế nước “nghìn cân treo sợi tóc”. Ngày nay, dưới ánh sáng của tư duy biện chứng khoa học, con đường “tùy duyên” đó cũng hết sức phù hợp với các giải pháp và phương thức giải quyết vấn đề phù hợp với các nguyên lý tự nhiên và các quy luật tâm lý. Sự minh triết của bậc hiền tài bắt gặp tinh thần cầu thị của người cầm quyền cao nhất bấy giờ đã mang lại thêm những thành quả mới cho dân tộc. Biết rõ nhà vua xuất thân võ biền, Pháp Thuận đã khuyên vua nên thay đổi cách hành xử, cần phải uyển chuyển, linh hoạt như tính chất của loài cây leo, tuy yếu nhưng biết nương vào những thân cây to thì vẫn có thể luôn tiến lên và cuối cùng sẽ vươn tới ánh sáng mặt trời. Tiếp đó, ông khuyên vua nên thi hành các chính sách vô vi nhằm đem lại sự ổn định cho quốc gia. Có nghĩa là làm việc cho muôn dân không phải với suy nghĩ vì mình là vua ban ơn mưa móc nên mọi người phải biết ơn mình, mà một lòng vì hạnh phúc của muôn dân, xem hạnh phúc của muôn dân là hạnh phúc của chính mình. Thi hành những chính sách khoan dung, trọng dụng hiền tài, không kể quá khứ, dòng họ, phe phái trước đây, giúp mọi người nhận thức được rằng đất nước này là của toàn dân tộc chứ không phải của riêng ai, nên phải cùng nhau bảo vệ và vun đắp cho sự giàu mạnh, trường tồn. Nghe theo những lời khuyên của Pháp Thuận, vua đã thu phục được lòng người, củng cố lực lượng và đã cùng với toàn dân làm nên một chiến công hiển hách trong lịch sử, hoàn thành thắng lợi cuộc kháng chiến chống xâm lược của ngoại bang, tiếp tục khẳng định vững chắc nền độc lập tự chủ non trẻ của nước Việt Nam.

Trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của người Việt, các triều đại phong kiến tiếp tục sau nhà Tiền Lê như Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn đều coi trọng hiền tài và luôn đặt làm “quốc sách” hàng đầu trong kế sách trị quốc, an dân, giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc. Bất kỳ triều đại nào nếu thực hiện đúng đắn và đầy đủ “quốc sách” này thì triều đại đó đều ghi lại những chiến công hiển hách, những dấu ấn tinh hoa rực rỡ nhất trong các trang sử vàng của dân tộc. Ngay sau khi Lý Thái Tổ ra quyết định lịch sử đời đô về Thăng Long để “chọn nơi trung tâm, lo cho nghiệp lớn, tính toán cho con cháu muôn đời sau”, vua đã thấy cần phải có nhiều biện pháp tìm kiếm hiền tài ra giúp nước. Tư tưởng này tiếp tục được các vua nhà Lý đời sau thực hiện ngày càng cụ thể và sâu rộng hơn. Năm 1070, vua Lý Nhân Tông đã cho dựng Văn Miếu, coi trọng sự học, bồi dưỡng và hun đúc nhân tài cho đất nước. Năm 1076, vua tiếp tục cho mở Quốc Tử Giám, trở thành trường đại học đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Nhà Lý cũng bắt đầu quan tâm tới việc tổ chức thi cử để tuyển chọn nhân tài mà các triều đại trước chưa làm được. Khoa thi đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam được tổ chức vào tháng 2-1075, thời vua Lý Nhân Tông. Lê Văn Thịnh, người làng Bảo Tháp, xã Đông Cữu (nay thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh) trở thành thủ khoa đầu tiên trong lịch sử và được chọn làm thầy dạy cho Thái tử. Trong thời nhà Lý rất nhiều hiền tài đã ra giúp nước và cùng với nhân dân lập nên nhiều chiến công hiển hách bảo vệ vững chắc nền độc lập tự chủ của dân tộc như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành… khiến cho nhà Tống ở phương Bắc, Chân Lạp, Chiêm Thành ở phương Nam đều khiếp sợ, phải công nhận nền độc lập của Đại Việt. Tương truyền, Lý Thường Kiệt sáng tác bài thơ “Thần” để động viên tinh thần binh sĩ chống xâm lược, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của Đại Việt. Bài thơ được xem như là bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của người Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước: “Sông núi nước Nam vua Nam ở, Rành rành định phận ở sách Trời, Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

Bia đá tại Văn Miếu ghi công trạng
các nhân tài đất nước thời xưa

Ảnh: T.L

Nhà Trần kế tục nhà Lý, ngoài việc duy trì Quốc Tử Giám còn lập thêm Quốc Học Viện dành cho các bậc học nâng cao. Tại các địa phương triều đình cho mở thêm nhiều trường dạy học cho dân chúng. Thời nhà Lý tuy có mở khoa thi tam trường, nhưng các khoa thi chỉ mở khi nào triều đình cần người tài giỏi ra giúp nước chứ chưa thành định kỳ. Năm 1232, vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi Thái Học Sinh để lấy tiến sĩ theo định kỳ cứ 7 năm một lần. Năm 1247, vua lại đặt ra khảo thí tam khôi để lấy trạng nguyên, bảng nhãn và thám hoa. Nhà sử học Lê Văn Hưu là người đầu tiên đậu bảng nhãn trong kỳ thi này. Do rất quan tâm tới việc cầu hiền nên thời nhà Trần xuất hiện nhiều bậc hiền tài kiệt xuất không thuộc dòng dõi hoàng tộc ra giúp nước như: Nguyễn Thượng Hiền, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Yết Kiêu, Dã Tượng… Đặc biệt là “bậc thầy của muôn đời” Chu Văn An với tờ “Thất Trảm Sớ” nổi tiếng, ngày nay đang được thờ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Chính nhờ quy tụ được nhiều hiền tài nhà Trần đã làm nên nhiều chiến công hiển hách, trong đó có kỳ tích ba lần chiến thắng quân Nguyên – Mông. Ngày nay đọc lại “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo càng thấy sự quan tâm sâu sắc và thấu hiểu của người cầm quân đối với tướng sĩ của mình như thế nào. Qua đó càng hiểu vì sao nhà Trần, mà đặc biệt là danh tướng Trần Hưng Đạo có thể quy tụ xung quanh mình những nhân tài kiệt xuất. Trần Hưng Đạo từng nói: “Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ vào sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy cũng chỉ là chim thường mà thôi”.

Không phải chỉ ngay sau khi dẹp tan giặc Minh, Lê Lợi mới cho dựng lại Quốc Tử Giám, giao cho quan Nhập nội hành khiển Nguyễn Trãi soạn chiếu cầu hiền, mở trường học ở các địa phương và tổ chức các khoa thi để chọn lựa nhân tài ra giúp nước. Trong “Đại Việt Thông Sử” của Lê Quý Đôn có chép chuyện Lê Lợi trong thời kỳ quẫn bách nhất, bị quân Minh vây hãm, có thể bị bắt, bị giết bất cứ lúc nào cũng vẫn không ngừng tuyển mộ nhân tài làm quân sư, mưu sĩ. Tháng 2-1427, khi giặc Minh còn đang mạnh, Lê Lợi đã ra lệnh cho các lộ quân phải tiến cử hiền tài, nói rõ “nếu trong địa hạt có người tài mà không tiến cử sẽ bị giáng chức và cách chức”. Sau khi giành lại độc lập cho nước nhà Lê Lợi đã ban “Chiếu cầu hiền” nổi tiếng năm 1429, có đoạn: “Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cần người hiền giúp việc mà chưa được người”.

Trong kỳ thi Đình năm 1442, đích thân vua Lê Thái Tông ra đề bài: “Trẫm từ khi lên ngôi tới nay, gắng sức trị nước, thế mà việc chọn nhân tài vẫn mờ mịt thăm thẳm. Sao người quân tử khó tìm, kẻ tiểu nhân khó biết như vậy? Các ngươi hãy đem hết hiểu biết của mình trả lời, trẫm sẽ đích thân xem xét”. Thí sinh Nguyễn Trực khi ấy trả lời: “Bệ hạ muốn quân tử tiến tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần gũi bề tôi khí tiết, sử dụng kẻ sĩ chính trực để họ đưa vua đi đúng hướng và đặt vua vào chỗ không lầm lỗi”. Rồi lại nói thẳng với vua rằng: “Vua có nhân, không ai không có nhân. Vua có nghĩa, không ai không có nghĩa. Vua chân chính, không ai không chân chính. Trước hết, vua chân chính rồi cả nước sẽ bình yên”. Nguyễn Trực cho rằng đạo làm vua là phải biết tự mình chọn người tài, song tiến cử tài năng cho đất nước phải là chuyện thường xuyên của các bậc đại thần. Nếu đại thần mà ngầm nuôi mưu gian, ghen ghét người tài, chỉ cất nhắc bè lũ, phe cánh chẳng ra gì thì làm sao có nhân tài ra giúp nước. Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên khoa thi đó và trở thành vị trạng nguyên đầu tiên của triều Lê. Tấm bia ghi chép về khoa thi này cũng là tấm bia đầu tiên ở Văn Miếu được dựng năm 1484. Cũng trên tấm bia này Thân Nhân Trung viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.

Thông điệp của người xưa rất rõ ràng, hiền tài là nguyên khí quốc gia, hiền tài quan hệ mật thiết tới vận mệnh hưng vong của đất nước. Vì thế các bậc minh quân luôn coi việc tuyển chọn hiền tài là quốc sách hàng đầu, thường xuyên liên tục và luôn trong tình trạng cấp bách. Việc lựa chọn hiền tài là của nhà vua, tuy nhiên tiến cử phải là việc của những người mang trọng trách trong triều đình. Khi có được hiền tài thế nước sẽ mạnh. Ngược lại, nếu để bọn sâu mọt chui vào hàng ngũ quan lại triều đình thì sẽ khiến cho nhà vua có thể lầm đường lạc lối, thế nước suy vong.

Hữu Nguyên

daidoanket.vn

Bài 4: Khoan thư sức dân – Quốc sách dựng nước và giữ nước – Kỳ 2

Thời gian này, tôi cơ bản đang đi thực tế để xây dựng kịch bản phim tài liệu về vũ khí của người Việt trong tiến trình tự vệ, đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ và xây dựng đất nước. Tôi rất băn khoăn, ở một điểm, vũ khí của người Việt, của cha ông ta cơ bản là rất thô sơ, giản phác, hiệu năng chiến đấu không cao, cũng có thể là do thất tán hoặc công tác lưu giữ, sưu tầm, hệ thống chưa đúng mức.

Do ưa thích lịch sử và nghề nghiệp, tôi luôn nghiên cứu nghiền ngẫm hàng chục năm nay và rất đỗi tự hào, nhiều lúc lấy làm kinh ngạc về các võ công của dân tộc, những thành tựu rực rỡ trong khoảng bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước.

Tìm hiểu nguyên nhân để có những thành tựu ấy, tôi càng ngạc nhiên, cũng dần dần thấy được căn nguyên sâu xa nhưng hết sức khoa học đã làm nên sức mạnh dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Đó là một quá trình tiếp nối, hoàn thiện, phát triển rất đặc sắc, mới mẻ và nhiều điểm khác thường về những kế sách dựng nước và giữ nước của ông cha mà sách lược Khoan thư sức dân đứng vào hàng thượng sách.

Theo sử cũ và truyền thuyết, vua Tổ Hùng Vương thứ nhất dựng nước và các vua Hùng nối đời kế nghiệp đã sớm biết chăm dân, dưỡng dân, dạy dân, kéo dài sự hưng thịnh của triều đại mình. Ngay khi lập Quốc đô ở Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ), các vua Hùng đã biết chia nước ra làm các bộ để chăm lo đời sống của dân. Chính vì biết lưu tâm dưỡng sức dân, Nhà nước Văn Lang thời đại Hùng Vương là một Nhà nước sớm có các thiết chế, tổ chức xã hội hoàn thiện, đất nước có quy củ, người dân yên hưởng thái bình. Vì thế mà kẻ thù ngoại bang không thể làm gì được trong suốt một thời gian dài. Về thời đại Hùng Vương, thiết nghĩ, trong thời gian tới, những người làm sử Việt Nam nhất định phải lưu tâm và làm rõ một cách khoa học những thành tựu đạt được của thời đại này. Việc chăm dân, giữ dân để dân hết lòng tín phục là một trong những thành công đặc biệt của thời đại Hùng Vương. Chính vì điều này, nhân dân các dân tộc Việt Nam vẫn đời đời nhớ về công đức của tổ tiên. Hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, toàn dân hướng về ngày Quốc lễ – Giỗ Tổ – cúng tế hết sức trọng thể. Từ già đến trẻ luôn thuộc lòng và nhắc nhủ nhau:

Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba

Không phải ngẫu nhiên mà 18 đời vua Hùng được truyền nối. Trong nhiều lý do, chắc chắn có một lý do là lòng dân đã tạo ra thế vững chắc cho thời đại các vua Hùng.

Tiếp đến thời Thục An Dương Vương mà tiêu biểu là Thục Phán lập nước Âu Lạc đã mạnh dạn dời kinh đô về đồng bằng, chọn đất Kẻ Chủ thuộc bộ Vũ Ninh để định đô (nay thuộc Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) đây cũng là kinh đô đầu tiên của người Việt tại đồng bằng, kề sát trung tâm Hà Nội ngày nay. Chúng tôi cho rằng, việc định đô ở Cổ Loa cũng là dựa vào tâm nguyện và ý chí của nhân dân. Chính vì biết dưỡng sức dân, mở đất, chăm dân nên việc định đô ở địa hình bằng phẳng rộng lớn, dựa vào các địa thế sông hồ cũng là biểu hiện trí tuệ của nhân dân là vô hạn mà những người đứng đầu Nhà nước Âu Lạc đã biết cách sử dụng. Thành Cổ Loa trải hơn hai nghìn năm lịch sử hiện vẫn đang là một di chỉ văn hóa lịch sử quan trọng, chứng minh bàn tay lao động tài tình của nhân dân Nhà nước Âu Lạc.

Thời Trưng Nữ Vương kéo không dài đã được các nhà nghiên cứu lịch sử phân tích khá thấu đáo nhưng theo chúng tôi, sở dĩ việc lập nước và giữ nước không được lâu bền phần lớn do kẻ thù quá tàn bạo đã gần như giết sạch người dân mà chúng bắt được hoặc những người đứng đầu các bộ lạc bấy giờ chưa cố kết được các tầng lớn nhân dân để giành lại nước.

Trong suốt chiều dài của lịch sử của dân tộc, trong điều kiện phải thường xuyên đối phó với các thế lực ngoại xâm lớn mạnh hơn bội phần, tồ tiên ta không chỉ dựa vào sức mạnh của Nhà nước, của quân đội mà còn phải dựa vào sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Để động viên được đông đảo nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ đất nước, thực hiện “toàn dân vi binh”, “cử quốc nghênh địch”, bí quyết thành công trong lịch sử giữ nước của dân tộc ta trải qua nhiều triều đại là “dựa vào dân” và chính sách “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc”.

Trong lịch sử dân tộc, rất nhiều triều đại nhờ khoan thư sức dân, chăm lo cho dân mà hưng thịnh và phát triển rực rỡ. Sử sách còn chép lại:

Năm 1010, khánh thành cung Thúy Hoa, vua Lý Thái Tổ đại xá cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều miễn cả.

Năm 1070, đời Lý Thánh Tông, đại hạn, phát thóc và tiền, lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.

Năm 1103, thời Lý Nhân Tông, Thái hậu Ỷ Lan phát tiền ở kho nội phủ để chuộc những người con gái nhà nghèo phải bán mình đi ở đợ, đem gả cho người góa vợ.

Năm 1200, đời Lý Cao Tông, gặp đói to, phát thóc chẩn cấp cho dân nghèo.

Năm 1242, Trần Thái Tông miễn thuế thân đánh cho người không có ruộng đất, hạn hán, miễn một nửa tô ruộng.

Năm 1288, Trần Nhân Tông, sau thắng Nguyên lần thứ ba, đại xá thiên hạ, những nơi bị binh hỏa cướp phá nhiều, thì miễn toàn phần tô, dịch, các nơi khác thì miễn giảm theo mức độ khác nhau.

Năm 1290, đời Trần Anh Tông, gặp đói to, nhiều người bán ruộng, đất, con trai, con gái làm nô tỳ, xuống chiếu phát thóc công chẩn cấp dân nghèo, miễn thuế nhân đinh.

Năm 1303, Thượng hoàng Nhân Tông mở hội Vô lượng phép (một hình thức sinh hoạt của Phật giáo) bố thí vàng bạc tiền, lụa để chẩn cấp dân nghèo trong nước.

Năm 1343 đời Trần Dụ Tông, hạn hán, xuống chiếu giảm một nửa thuế nhân đinh.

Năm 1354 đời Trần Dụ Tông, sâu cắn lúa, giảm một nửa tô ruộng.

Năm 1358, đời Trần Dụ Tông, hạn hán, sâu cắn lúa, xuống chiếu khuyến khích nhà giàu ở các bộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo.

Năm 1362, đời Trần Dụ Tông, đói to, xuống chiếu cho nhà giàu dâng thóc để phát chẩn cho dân nghèo, bàn tính theo thứ bậc khác nhau.

Năm 1375, đời Trần Duệ Tông, xuống chiếu cho những người giàu ở các lộ đem dâng thóc, được ban tước theo thứ bậc khác nhau…

Truyền thống tịch điền được sự ngưỡng mộcủa người dân từ xa xưa đến nay

Ảnh: T.L

Trong triều đại phong kiến, đối với nhà vua “ý trời lòng dân” trở thành lý do định vị. Tuy nhiên một khi đã lên ngôi thì quyền lực của nhà vua là toàn năng và tối thượng, vua lại được coi là “Thiên tử” (con trời) “thế thiên hành đạo” (thay trời cai trị) và là cha mẹ của muôn dân. Vua Lý Thái Tông thì yêu dân như con còn vua Lý Thánh Tông đã từng nói: “Ta yêu con ta như lòng ta làm cha mẹ dân”. Vua Trần Anh Tông có lần khẳng định: “Trẫm là cha mẹ dân, nếu thấy dân lầm than thì phải cứu giúp ngay, há nên so đo khó dễ lợi hại”. Trong “Lộ bố văn”, Lý Thường Kiệt khẳng định: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”. Như vậy, với quan niệm lúc đó, vua tuy là tối thượng nhưng lại có quan hệ và trách nhiệm của mình đối với dân chúng. Có khi nhà vua coi đó là một tiêu chuẩn chính trị để tự răn mình.

Thời Lý có thể được coi là một thời đại cực thịnh của Đại Việt, thời kỳ Nho, Phật, Lão đồng nguyên, trong đó đạo Phật là Quốc giáo. Ngay sau khi lên ngôi, Lý Công Uẩn đã hạ chiếu miễn giảm sưu thuế trong nhiều năm. Trong gần 18 năm ông cầm quyền đã 3 lần miễn, giảm sưu thuế cho nhân dân. Đây có lẽ là một trong những vị vua hiền sáng nhất dân tộc Việt. Ông cũng là người quyết định rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Chiếu dời đô có đoạn viết: “…Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.”… đủ thấy tấm lòng của những ông vua hiền sáng bao giờ cũng hướng đến nhân dân vậy.

Chính vì luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân nên Quốc gia Đại Việt thời Lý luôn có biên cương vững chắc, quốc thổ thống nhất, có võ công, có văn hiến, kinh tế, đặc biệt là các nghề nông ta phát triển rực rỡ. Lý Công Uẩn vừa khai sinh triều Lý, vừa đưa thế nước vươn cao khiến các nước lân bang phải nể trọng.

Bước sang vương triều Trần, một vương triều có võ công hiển hách của dân tộc Việt: Đến nay nước sông tuy chảy hoài/ Mà nhục quân thù khôn rửa nổi (Bạch Đằng Giang phú – Trương Hán Siêu), mà để có được những võ công ấy thì việc dưỡng sức dân, đồng cam cộng khổ với nhân dân luôn là kế sách hàng đầu. Người đứng đầu cho tư tưởng này chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Chính ông có câu nói nổi tiếng cũng là tư tưởng xuyên suốt cuộc đời ông, triều đại nhà Trần mà các triều đại ở những giai đoạn tiến bộ sau đó đều tiếp thu trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

Đến nay, sau hơn 700 năm đại thắng Nguyên – Mông, các nhà nghiên cứu quân sự, sử gia, chính trị gia, các danh tướng mọi thời đại trong và ngoài nước vẫn không ngừng tìm hiểu và tôn vinh thiên tài quân sự Trần Quốc Tuấn. Cách dùng binh độc đáo, nghệ thuật quân sự kỳ tài, tấm gương đạo đức của ông mãi mãi là tài sản vô giá không riêng của dân tộc Việt Nam. Tìm hiểu diễn biến và cục diện chiến tranh trong toàn bộ cuộc đời Hưng Đạo Vương thấy rõ một điều ông không chỉ chủ động trên chiến trường đang diễn ra mà luôn dành toàn bộ tài năng, tâm huyết, chuẩn bị mọi mặt từ trước đó và cả sau khi chiến tranh đã kết thúc.

Tài năng kiệt xuất của Hưng Đạo vương chính là việc nhận thức rõ nhân dân mới là nguồn sức mạnh giữ nước, nguồn sức mạnh vô địch, nguồn sức mạnh mà không một kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục. Ông luôn chăm lo sức dân ngay từ thời bình cũng như trong thời chiến. Chủ trương sâu sắc của ông mà đỉnh cao là tư tưởng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc mới là thượng sách giữ nước”.

Cũng chính Hưng Đạo Vương, sau các chiến thắng lừng lẫy đã xác định, đại ý: “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục nên quân địch đã phải bị bắt”. Yếu tố đoàn kết từ thượng tầng triều đình đến hạ tầng dân chúng, đoàn kết quân dân, đoàn kết toàn quân, xây dựng đội quân “phụ tử chi binh” chính là khơi dậy mạch nguồn sức mạnh từng bước tiến tới toàn thắng. Đó là nguồn sức mạnh vô địch mà nhân dân Đại Việt không những đứng vững mà còn chiến thắng đế quốc Nguyên – Mông.

Hưng Đạo Vương không những là vị thống soái quân sự cao nhất mà còn là một nhà lý luận, nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Điển hình của lý luận quân sự của ông thể hiện cao nhất ở Hịch tướng sĩ và sau này là bản Di chúc lịch sử thể hiện tinh hoa khí phách dân tộc Đại Việt trong việc đánh giặc giữ nước. Tư tưởng khoan thư sức dân, dựa vào dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, toàn quân và triều đình để làm kế sách giữ nước của ông là tư tưởng vượt qua mọi thời gian, đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đầy sức sống, luôn có mặt trong mọi thời đại mà hậu thế đã tôn vinh.

Tóm lại, muốn ổn định đất nước, muốn cho thế nước được mạnh, đánh thắng giặc ngoại xâm, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc thì phải làm sao giữ được lòng dân, đoàn kết được toàn dân trên cơ sở những chính sách tiến bộ của mình. Khoan thư sức dân luôn luôn là quốc sách và thượng sách giữ nước.

Nhà văn Phùng Văn Khai

daidoanket.vn

Bài 4: Kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập – Kỳ 1

Có một sự thật đau đớn và kiêu hãnh trong lịch sử thế giới rằng: Bất cứ mọi quốc gia nhỏ yếu nào khi số phận địa lý mặc định phải ở bên cạnh nước lớn thì đều phải gồng mình chống đồng hóa dân tộc. Có những dân tộc biến mất tăm mất tích vào một dân tộc lớn; có dân tộc đi xâm lăng, đi đồng hóa thì “gậy ông đập lưng ông” bị đồng hóa lại mà bi kịch người Mãn (dù triều đình nhà Thanh cai trị Trung Nguyên suốt 200 năm) là một ví dụ. Chống đồng hóa thực ra là chống đồng hóa văn hóa dân tộc. Giáo sư sử học Trần Văn Giàu nói rằng: “Bị đô hộ hàng mười thế kỷ bởi một nước có văn hóa cao hơn, số dân đông hơn gấp bội mà sau mấy ngàn năm – Ta vẫn là ta – hẳn không phải vì mũi tên nhọn hơn, bắp thịt cứng hơn mà chủ yếu là nhờ văn hóa, nhờ đạo lý, nhờ hệ giá trị tinh thần của riêng mình, chứ văn hóa lấy sức đọ sức, lấy số đọ số thì dân Việt Nam, nước Việt Nam chỉ còn là đối tượng khảo cổ học”.

KỲ 1: CHỐNG PHƯƠNG BẮC ĐỒNG HÓA – MỘT SỰ THẬT DIỆU KÌ

1. Thủ đoạn đồng hóa của phương Bắc.

Tư tưởng Hán hóa của các thế lực phong kiến phương Bắc chinh phạt phương Nam để sát nhập lãnh thổ, biến nước ta thành quận huyện của người Hán. Đầu tiên thể hiện ở việc di dân tự do một cách ồ ạt cả dân thường và quan lại, để người Hán sống quần cư quần canh, lẫn lộn với các dân tộc Âu Lạc, nhằm phá vỡ cơ cấu dân cư truyền thống sản xuất lúa nước nhiệt đới. Trong cuộc di cư cưỡng bức từ phương Bắc này, ngoài các công dân trung bình, hoặc tinh hoa, còn cả tội phạm, trộm cắp, tù tội, kẻ bị lưu đày; cả những người bất mãn, đầu bò đầu bướu, thất sủng với quan lại phải bỏ xứ hành phương Nam, mà nước Âu Lạc chúng ta là cái túi phải hứng chịu. Áp đặt chế độ chính trị và một hệ thống quan lại người Hán cai trị..vv. Tình trạng đau đớn này bắt đầu từ năm 179 TCN, khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc, chia thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân.

Sách Hậu Hán thư chép rằng: “Xưa thời Bình đế, Tích Quang người Hán Trung làm Thái thú Giao Chỉ, dạy dỗ dân Di (người Việt), dần dần hóa theo lễ nghĩa, danh tiếng ngang với Nhâm Diên”. Thực chất, Tích Quang là Thái thú Giao Chỉ, và Nhâm Diên là Thái thú Cửu Chân đem cách ăn mặc, cưới xin, ma chay… lễ nghĩa của người Hán áp đặt vào đời sống người Việt.

Có một câu chuyện lưu truyền trong huyền sử mấy ngàn năm cho đến tận ngày nay rằng: Năm 43, Mã Viện tiêu diệt cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã phát lệnh thu hết trống đồng, nấu chảy thành dung dịch lỏng rồi đúc ngựa kiểu, đúc thành đồng trụ và khắc chữ vào: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gẫy, Giao chỉ mất)… Tích cột đồng Mã Viện như một ghi nhớ không thể nào quên về sự hủy diệt văn hóa Việt, và chính sách đồng hóa của phong kiến phương Bắc.

Tình trạng này, sau nhà Hán là bộ máy cai trị tiếp theo là nhà Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, Tùy, Đường… thực hiện càng nghiệt ngã hơn kéo dài suốt ngàn năm Bắc thuộc và được áp dụng thêm 20 năm thời Minh thuộc (1407 – 1427). Đại Việt Sử Ký toàn thư chép: “Nhà Minh cấm con trai con gái không được cắt tóc; phụ nữ mặc áo ngắn, quần dài, đồng hóa theo phong tục phương Bắc”

Nhiều các công trình kiến trúc như đình, chùa, miếu… và các tác phẩm nghệ thuật từ thời Lý, Trần đều bị tàn phá, đốt bỏ. Các nhà Nho, thợ thủ công lành nghề, thầy thuốc giỏi… cũng bị bắt đưa về Yên Kinh phục vụ cho triều đình nhà Minh.

Từ thời Tây Hán, Nho giáo đã bắt đầu du nhập vào nước ta. Đến thời Sĩ Nhiếp làm Thái thú Giao Chỉ thì sự học chữ Hán và Nho học mới trở thành quy củ và thịnh hành. Bọn phong kiến phương Bắc sử dụng Nho giáo như một công cụ thống trị.

Chúng ta hãy hình dung: khi người Hán vượt sông Dương Tử tiến xuống phía Nam chinh phạt nền văn minh lúa nước của người Bách Việt thì hầu hết cộng đồng bị Hán hóa. Nước ta bi kịch chồng bi kịch đồng hóa bởi người Hán và cả những người Bách Việt đã bị Hán hóa nữa. Vậy mà, thật lạ lùng và diệu kì là dân tộc ta chỉ là một bộ phận nhỏ của cộng đồng Bách Việt mà “ta vẫn cứ là ta”, không bị đồng hóa. Vì sao?

Trống đồng – một biểu tượng của văn hóa Việt Nam

Ảnh: THÁI AN

2. Dân tộc Việt kiên cường, bền bỉ chống đồng hóa

Công cuộc chống đồng hóa dân tộc Việt Nam thật vô cùng bền bỉ, dai dẳng trong suốt quá trình vừa duy trì, gìn giữ, phát triển văn hóa bản địa, vừa tiếp thu có chọn lọc để làm phong phú văn hóa dân tộc. Người Việt chúng ta không có nhu cầu đồng hóa, không chịu bị đồng hóa.

Chống đồng hóa trước hết là giữ gìn tiếng nói Việt – tiếng mẹ đẻ. Suốt ngàn năm Bắc thuộc dài đằng đẵng vẫn không thể biến cả dân tộc ta “ăn theo nói leo” thành người Hán, nói tiếng Hán. Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã khẳng định rằng: Tiếng tiếng mẹ đẻ – tiếng Việt hơn 1000 năm trước đây dù có biến đổi theo thời đại nhưng so với ngày nay cơ bản là không khác mấy. Thực sự, thời nước ta sống trong ngàn năm Bắc thuộc tăm tối chỉ có một bộ phận nhỏ trí thức và quan lại ở kinh kỳ, phố thị mới học nói tiếng Hán, viết chữ Hán. Còn ở làng xã thì lại quá xa xôi, mờ mịt. Làng vẫn tồn tại với tiếng Việt.

Làng xã Việt Nam là một cơ cấu kinh tế – xã hội hạ tầng thật kì diệu vừa có nhiều khiếm khuyết nhưng cũng thừa ưu việt. Nó đóng cửa trong tù túng, cố thủ chối từ hội nhập nhưng trong thời đại lịch sử đặc biệt suốt ngàn năm Bắc thuộc lại là sức mạnh đề kháng cường tráng chống lại sự đồng hóa và đã chống đồng hóa thành công. Cây tre hiền hòa gắn liền với người Việt. Nếu bình chọn “quốc cây”, tôi xin đề cử cây tre. Người ta thường lấy lũy tre bao quanh làng xã để nói đến tính cố kết, quây quần của cộng đồng. Làng nọ cách làng kia chỉ một cánh đồng, hay một con ngòi nhỏ cũng có thể… khác nhau vài ba nếp văn hóa dân gian; mỗi làng thờ một ông Thành hoàng làng, mỗi làng một hội làng khác nhau… Thậm chí trong một làng, mỗi dòng họ cũng tự thân cố kết và giữ gìn bản sắc, nếp nhà nếp dòng họ để không lẫn với dòng họ khác, nhà khác. Lịch sử đã chứng minh: Nước ta đã nhiều phen mất nước nhưng chưa bao giờ mất làng. Làng là đơn vị hành chính – kinh tế – xã hội – nơi cố thủ cuối cùng trước nạn đồng hóa của phương Bắc. Ấy là chưa kể cách đây cả ngàn năm địa lý nước ta hiểm trở, xa xôi, rừng rú hoang dã đầy lam sơn chướng khí, người Hoa Hạ xứ lạnh không chịu nổi khí hậu nhiệt đới ẩm ướt gió mùa. Quan lại người Hán có thể “với” xuống châu, huyện, chứ chưa bao giờ cắm xuống tận làng. Làng vẫn do người Việt điều hành và “lũy tre làng” cứ như một bức tường vòng tròn vô hình ngăn chặn thế giới văn hóa Hán xâm nhập.

Ngay cả tầng lớp trí thức ở kinh kỳ, phố thị khi bị cưỡng bức tiếp nhận Nho học khuôn thước quy củ thì cũng bị văn hóa trồng lúa nước với nguyên lý MẸ làm mềm đi đến mức khúc xạ Nho giáo. Chẳng hạn, Nho giáo áp đặt xã hội, dòng họ, gia đình theo một hệ thống tôn ti trật tự với nguyên tắc “tam cương”, ngũ thường”. Nước có quốc pháp, nhà có gia quy thì cái trật tự nghiêm ngặt này lại hoà trộn với lối ứng xử Mẹ – Nước mềm mại: “Con hơn cha là nhà có phúc”, “Giàu vì bạn, sang vì vợ”. Nho giáo áp đặt “tam tòng tứ đức”, “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” trọng nam khinh nữ… thì người Việt lại phải kháng bằng “Thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn”, “Của chồng công vợ”. Thực tế trong lịch sử người Việt đã thờ Mẹ – Âu Cơ, đề cao, khâm phục Bà Trưng Bà Triệu, nữ tướng Lê Chân…

Cái căn nguyên phản kháng, chối từ Nho học trọng nam khinh nữ có từ gốc, từ nền tảng văn hóa dân tộc Việt. Trước khi Nho học du nhập sang Giao Chỉ thì người Việt cổ đã gọi mẹ là Cái: sông Cái, ngón chân Cái, đường Cái, cột Cái… “Con dại Cái mang”. Mẹ nguyên bản của người Việt gắn với những gì to lớn, kì vĩ, cơ bản, trụ cột chứ không phải người cha… Vua Mai Hắc Đế lấy họ mẹ chứ không phải học cha, sau này nhiều quan lại nhà Lý cũng mang họ mẹ. Chính nguyên lý Mẹ trong văn hóa người Việt là đã chứa đựng nội tại tiềm tàng sức kháng cự kiên cường chống đồng hóa.

Sau khi Tần Thủy Hoàng chinh phạt vùng Lĩnh Nam của cộng đồng Bách Việt thì sai Nhâm Ngao và Triệu Đà cai trị. Và Triệu Đà đã thực hiện chiến lược “Hoà tập Bách Việt”, xin Tần Thuỷ Hoàng di dân 50 vạn người Hoa Hạ từ Trung Nguyên xuống Lĩnh Nam để thực hiện cuộc trộn lẫn người Bách Việt và người Hoa Hạ, gọi là “Hoa Việt dung hợp”.

Nhưng rồi, chính Triệu Đà và những người Hán di cư đi đồng hóa thì lại bị đồng hóa lại. Ly khai nhà Tần, chống lại nhà Tần, đến khi Lục Giả theo lệnh Hán Cao Tổ xuôi Nam phủ dụ thì Triệu Đà đã biến thành người Việt lúc nào không biết: Triệu Đà ở nhà sàn, ăn trầu cau bôi vôi, đôi khi còn bôi răng đen và vẽ hình săm trên mình để hòa nhập (hay là mị dân, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của người Việt?) Trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng chép về “vua Triệu Đà”: “Khi sứ đến, vua ngồi xổm mà tiếp Lục Giả”… Vua ra dáng sợ hãi, đứng dậy nói: “Tôi ở đất này lâu ngày quên mất cả lễ nghĩa”. Sức mạnh văn hóa tiềm tàng của người Việt như một dòng nước ngầm âm thầm chảy trong lòng đất đã làm cho văn hóa ngoại lai dần dần biến đổi ra thuần Việt đến mức không nhận ra.

Ngày nay, các nhà khảo cổ đã cố công đi tìm và chứng minh “Cột đồng Mã Viện” ở đâu. Lĩnh Nam đại đáp của Chu Khứ Phi đời Tống và Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt Sử Ký toàn thư đều chép: “Cột đồng tương truyền dựng ở trên động Cổ Lâu, thuộc châu Khâm”. Khâm Châu thuộc Quảng Tây – Trung Quốc. Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn chép: Cột đồng Mã Viện dựng ở Lâm Ấp. Học giả Đào Duy Anh tin câu chuyện Mã Viện dựng cột đồng là có thật và cụ phán đoán nó được dựng ở ở núi Thành (núi Đồng Trụ) ở Nghệ An… Tất cả đều là giả thiết, nhưng có một chi tiết trong huyền thoại là: Biết cột đồng có ghi dòng chữ: “Cột đồng gẫy, Giao Chỉ diệt” người dân Việt bị ám ảnh, có thể sợ nên mỗi ai đi qua đều bỏ một hòn đá vào bên cột đồng. Lâu ngày, cột đồng bị đá lấp không còn dấu vết. Tôi tin không phải dân Việt ám ảnh và sợ hãi bị diệt, mà chính là tinh thần phản kháng dân tộc, kiên quyết chối từ văn hóa vật thể lạ cũng như văn hóa phi vật thể là lời dọa dẫm, uy hiếp của Phục ba tướng quân Mã Viện.

Nói đến việc chống đồng hóa, dân gian vẫn lưu truyền một nhân vật tên là Cao Biền giỏi địa lý và phong thủy vâng lệnh vua Đường sang nước ta vừa cai trị vừa đi trấn yểm long mạch, huyệt thiêng… để phá đất phát tích đế vương. Bỏ qua màu sắc mang tính dị đoan thì chúng ta cũng đọc được tư tưởng, âm mưu, thủ đoạn của tập đoàn phong kiến phương Bắc quyết triệt hạ văn hóa dân tộc ta, và dập tắt ý đồ xưng đế vương chống lại “thiên triều” để dễ bề dồng hóa. Trong truyện cổ tích “Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non” do Học giả Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, có chi tiết: Cao Biền cưỡi diều ném cái búa bằng gang để yểm bùa ở Núi Rồng-Nghệ An, bay đến Thanh Hóa “thấy con rồng đó què một chân, cho rằng nếu có phát đế vương thì không thể phát to được” nên Cao bỏ đi. Việc làm hủy diệt hồn khí thiêng sông núi nước Nam của Cao Biền bị nhân dân ta căm ghét và một lần Cao Biền lại bay đi trấn yểm thì bị dân chúng vùng Ninh Bình dùng cung nỏ bắn rơi. Cao Biền bị thương phải về Trung Quốc cứu chữa, còn cái diều rơi xuống một quả núi ở Ninh Bình về sau người ta gọi là núi Cánh Diều. Lịch sử được ghi lại bằng chữ viết và hình ảnh, nhưng lịch sử cũng được ghi bằng huyền thoại dân gian. Bắn rơi cánh diều của Cao Biền như một thông điệp của nhân dân gửi đi toàn cõi về cuộc chiến chống đồng hóa.

Mặc dù suốt ngàn năm đô hộ, phong kiến phương Bắc dùng đủ mọi thủ đoạn để Hán hóa dân tộc ta, nhưng người Việt vẫn kiên cường giữ gìn văn hóa dân tộc. Quan lại Hán và các thương gia người Hán mang nước tương, ngũ vị hương với cách nấu chiên xào của người Hoa Hạ du nhập vào nước ta, nhưng cho đến ngày nay cơ cấu bữa ăn của phần lớn cư dân Việt vẫn là nước mắm, hành tỏi, nghệ, giềng, bữa ăn thì ít thịt mà nhiều cá, rau củ quả, luộc hấp và ăn tươi sống là chính.

Người Việt không chịu được cái tiết tấu nhịp điệu hùng tráng, thậm chí ồn ã của nhã nhạc, kinh kịch, diễn xướng Trung Hoa nên vẫn cứ duy trì nhạc dân gian trữ tình nhẹ nhàng là các điệu hát xoan, hát giặm, chèo, tuồng… Các tục nhuộm răng đen, ăn trầu cau, dùng quan tài hình thuyền, hoặc đục khoét rỗng thân cây để đựng chôn người chết, xăm mình…vẫn được giữ nguyên suốt mấy ngàn năm; chúng chỉ mai một đi theo thời gian cách đây mấy chục năm để phù hợp với thời đại khoa học – kỹ thuật mới.

Thời xưa, dù Nho giáo rất khó thâm nhập vào làng quê, nhưng vẫn có làng cổ có vài ba sĩ tử đi thi trượt về làm thân phận một ông đồ bất đắc chí mở trường dạy học. Đến giờ thì sạch bóng, có lẽ ông đồ trong thơ Vũ Đình Liên sau đó biến mất là hình ảnh cuối cùng của chợ chiều Nho học. Thời đại và dân Việt đã chối từ Nho học đồng hóa vừa nhọc nhằn vừa nhẹ nhõm.

Tất nhiên, trong quá trình chịu bị kịch Hán hóa, người Việt cũng tiếp thu chọn lọc những tinh hoa văn hóa của người Hoa Hạ. Một số lượng lớn từ Hán – Việt trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam là một ví dụ sinh động của việc tiếp thu thành quả văn minh nhân loại. Điều đó cũng chứng tỏ: Người Việt khôn ngoan, chống đồng hóa, không đánh mất mình, giữ bản sắc, nhưng cũng không từ bỏ cơ hội tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để tự lớn và để “mấy ngàn năm ta vẫn cứ là ta”.

Nhà văn SƯƠNG NGUYÊT MINH

[Bài 1: Đặc sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam]
[Bài 2: Hòa hiếu – bản chất của dân tộc Việt Nam]
Bài 3: Một số chiến công hiên hách chống ngoại xâm
[Kỳ 1: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán nối lại nền độc lập]
[Kỳ 2: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư]
[Kỳ 3: Giặc dữ Mông – Nguyên ba lần đại bại]
[Kỳ 4: Lê Lợi – 10 năm trường kỳ kháng chiến quét sạch giặc Minh xâm lược]
[Kỳ 5: Quang Trung – 40 ngày thần tốc đại phá quân Thanh]
[Kỳ 6: Hào khí thời đại Hồ Chí Minh]

daidoanket.vn

Bài 3: Quang Trung – 40 ngày thần tốc đại phá quân Thanh – Kỳ 5

Năm 1771 tại ấp Tây Sơn (Bình Định), xuất hiện một thế lực hùng mạnh của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, một thời gian sau thanh toán thế lực họ Nguyễn Đàng Trong, năm 1778 thành lập Vương triều Tây Sơn, năm 1786 tiến ra Thăng Long thanh toán thế lực Trịnh, giúp Vương triều Lê giữ lấy chính triều.

Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, Vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm lăng Đại Việt. Sau khi vượt qua kháng cự, quân Thanh vào chiếm đóng Thăng Long từ trước Tết Kỷ Dậu (1789) chờ đến ngày 6 tháng giêng Kỷ Dậu động binh tiến quân vào Nam. Từ ngoài Bắc cấp báo vào cho Nguyễn Huệ, ngày 24-11 Mậu Thân, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế Quang Trung tại Phú Xuân và ngày 25-11 chỉ huy 10 vạn quân thần tốc ra Thăng Long theo kế hoạch định sẵn và sẽ đập tan quân xâm lược ngay trước ngày chúng động binh, đó chính là chiến thắng Đống Đa ngày 5 Tết Kỷ Dậu.

Lễ hội Gò Đống Đa

Ảnh: Thái An

Nguyên cớ trực tiếp để quân Thanh vào Đại Việt

Xâm lược Đại Việt vẫn là mưu đồ của thế lực bành trướng xưa nay. Nhà Minh sau thất bại bởi Lê Lợi buộc phải thừa nhận Lê Lợi là Quốc vương An Nam, chịu “thần phục” nhà Minh, buộc thường kỳ Đại Việt phải nộp cống hai người vàng tượng trưng cho chánh và phó tướng Liễu Thăng bị chết trận năm 1427 (lệ này về sau bị bỏ). Cũng có lần sứ bộ nhà Minh đã hạch sách (sứ bộ Đại Việt là Nguyễn Văn Giai (1554 – 1628) rằng họ Trịnh đã cướp ngôi họ Lê thì được trả lời rằng họ Trịnh phò Lê và cộng sự của họ Lê nên họ khó có cớ xâm lăng. Nhà Thanh lên từ năm 1616, song nhà Lê lấy cớ “thuộc” Minh, mãi đến năm 1668 mới chính thức “phục” nhà Thanh. Trong hơn 160 năm, nhiều lần nhà Thanh tạo cớ thôn tính Đại Việt, song cơ may chưa đến, và lần này, tự thân Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh. Lời cầu vừa đến tai Càn Long, thì quân tướng binh lương nhà Thanh đã sẵn sàng lên đường, gồm 29 vạn quân theo ba hướng vào Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, hướng về Thăng Long. Quân Thanh xuất quân vào tháng 10 âm lịch, trên đường đến Thăng Long không gặp trở ngại gì, đến như một vạn quân mà Quang Trung giao cho Ngô Văn Sở chỉ huy đóng ở sông Cầu cũng phải rút lui về Tam Điệp để bảo toàn lực lượng đợi đại quân Quang Trung từ Huế. Mọi thông tin được cấp báo về Huế và mọi kế hoạch được Quang Trung vạch sẵn.

Hoàng đế Quang Trung trên đường ra Bắc Hà

Tranh minh họa

Quang Trung thần tốc đại phá quân Thanh

Quân Thanh tiến vào Đại Việt, đến tận Thăng Long một cách dễ dàng không bị kháng cự nào, tạo cho chúng thái độ chủ quan rằng quân dân Đại Việt ở Bắc Hà nghênh tiếp chúng một cách hoan hỉ và mục tiêu cuối cùng của chúng là Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Cho nên quân lính của chúng ở lại Thăng Long ăn Tết xả láng. Ở Phú Xuân, Hoàng đế Quang Trung chỉ còn chẵn 40 ngày để đưa quân đến tận Thăng Long đánh úp vào quân xâm lược đang phè phỡn, mất cảnh giác. Cả Tôn Sĩ Nghị cũng không tính được đến mùng 6 Tết quân Quang Trung có thể đến Thăng Long.

Bốn mươi ngày đường, khoảng cách 1.200 dặm, tổng số quân 10 vạn có 5 vạn từ Huế và 5 vạn tại Thanh Nghệ cùng 300 thớt voi, nếu muốn đến Thăng Long thì 1 ngày phải đi được 30 dặm (tức 15km), và phải đi liên tục không có ngày nghỉ nào cả. Vào thời điểm đó, từ Huế ra Thăng Long chỉ có hai tuyến đường chính: Đó là đường dịch trạm hay đường thiên lý (gần trùng với Quốc lộ 1A hiện nay) và tuyến Thượng đạo, men theo đồi núi trung du phía Tây, giãn cách với Quốc lộ 1A từ 30 – 40km đến 70 – 80km.

Với cuộc hành quân cấp tốc này của Quang Trung, cho đến nay hoàn toàn bí mật. Đương thời Quang Trung không tiết lộ, các tài liệu đương thời không có ai ghi chép, có lẽ đây là bí mật tuyệt đối không được tiết lộ cho ai kể cả tướng lĩnh tâm phúc nhất của Quang Trung, thậm chí quân lính chỉ chấp hành tiến theo từng chặng theo hướng dẫn, mà chẳng định vị đó là con đường nào. Muốn đi thần tốc, Quang Trung phải chọn một trong hai tuyến đường đó, và tuyến đường nào sẽ là tuyến hành quân chiến lược của đại quân Quang Trung?

Tuyến Lai Kinh (Quốc lộ 1A) có ưu điểm là ngắn hơn (nhưng không bao nhiêu), nhưng đó là đường đất và đặc biệt có từ 5 – 10 km là sông hồ, cầu đò, hai bên bờ sông lầy thụt, hàng vạn quân cùng 300 thớt voi sẽ khó vượt qua cầu đò để đạt tốc độ ngày 10 – 15km. Có thể khẳng định chắc chắn rằng đại quân, voi và phương tiện chiến tranh không thể nào vận hành theo tuyến Lai Kinh. Cũng có người cho rằng con đường nối Huế – Nghệ An, Nghệ An – Tam Điệp, Tam Điệp – Thăng Long theo trục Lai Kinh là đường hành quân của đại quân Quang Trung theo phương thức hành quân chia thành tốp 3 người, ngoài tư trang 3 người phải mang theo một chiếc thuyền thúng vừa thay nhau cáng để một người ngủ, và cả 3 cùng qua sông. Thật ra thuyền thúng chỉ là phương tiện đi lại trên ao đầm sông cạn, không thể là phương tiện chở người qua sông, nếu cho thuyền thúng xuống sông Gianh, sông Cả, sông Mã… thuyền chỉ có thể trôi theo dòng không thể qua bến bờ bên kia được. Vả lại một chiếc thuyền nặng đến 10kg, sẽ là một trọng lượng lớn cho hành quân đường xa. Lại nữa, các bờ sông lầy thụt trên tuyến Lai Kinh của vài ba chục dòng sông, sẽ nhấn chìm hết voi chiến. Nhiều tài liệu đến nay cũng cho rằng, đại quân Quang Trung theo tuyến Lai Kinh, được nghỉ lại ở Nghệ An 10 ngày, ở Tam Điệp 10 ngày. Như thế chỉ còn 20 ngày hành quân, mỗi ngày phải đi được 30 – 40km. Lịch sử hành quân của những đạo quân đương thời với Quang Trung cũng chỉ đạt 10 – 15km là tối đa. Đi bộ 1 ngày 40km có thể đi được (nhưng chỉ 1 ngày) còn liên tục là khó thực hiện đối với đông đảo quân lính. Đó là chưa nói nói đến việc, nếu đại quân Quang Trung tiến theo đường Lai Kinh sẽ không lọt qua tai mắt thám thính của bọn xâm lược và tay sai, nhất là các thế lực chống lại Tây Sơn. Trong nghệ thuật chọn con đường tốt nhất tiếp cận mục tiêu, ngoài các yếu tố địa hình, hậu cần, còn phải bảo đảm yếu tố bí mật đến tuyệt mật, trong binh pháp có tổng kết “lai vô ảnh, khứ vô hình” là muốn ám chỉ sự bí mật của đường đi.

Bia khắc lời vua Quang Trung trước khi

xuất quân đánh giặc Thanh xâm lược

Ảnh: Từ Khôi

Tuyến Thượng đạo có dài hơn một ít so với tuyến Lai Kinh nhưng địa hình đồi núi trung du, chỉ qua sông đầu nguồn và những con suối cạn. Chỉ có vài ba con sông lớn như sông Lam, sông Mã… Đây là Thượng đạo có từ xa xưa và các cuộc hành quân của các triều đại trước thường sử dụng. Đại thể có mấy chặng: Từ Huế – Quảng Bình trùng Quốc lộ 1A; Quảng Bình – Nghệ An trùng với đường sắt Đồng Hới – Vinh, nhưng đến Linh Cảm thẳng ra Nam Đàm; từ Nam Đàn thẳng ra Tân Kỳ – Như Xuân – Vĩnh Lộc – Thạch Thành (Thanh Hóa); từ đó ra Nho Quan, đến Chương Mỹ rồi vào Thăng Long (bỏ qua Tam Điệp). Như vậy quân sĩ, voi có thể theo Thượng đạo một cách bí mật thần tốc và đi bình thường 15km hàng ngày suốt 40 ngày đêm không mệt mỏi.

Với tuyến Thượng đạo, vấn đề qua sông suối là dễ dàng, 300 thớt voi đã có chuối rừng và cỏ làm thứ ăn thuận tiện. Và điều quan trọng là quân địch không thể nào phát hiện có sự động binh của Quang Trung ra Bắc. Nếu cứ theo tuyến Lai Kinh, đại quân sẽ đi qua các vùng có nhiều tai mắt của quân Thanh, chắc rằng quân Thanh sẽ động binh sớm hơn kế hoạch dự định.

Từ nghệ thuật chọn đường hành quân, tạo cho đại quân Quang Trung nhanh chóng – bất ngờ tiếp cận mục tiêu không để chúng kịp thời đối phó. Đại quân Quang Trung đến vùng Ninh Bình, kịp vào Tết Nguyên Đán. Đại quân đóng ở Nho Quan và ở Tam Điệp là căn cứ tập kết cũ. Từ hai địa điểm đó các cánh quân khinh binh từ Tam Điệp tiến theo Quốc lộ 1A và đường sông về Thăng Long và Hải Dương, đánh quân địch tại các đồn từ Thanh Quyết đến Hạ Hồi, Ngọc Hồi; Đại quân theo Thượng đạo vẫn bí mật bám sát tiến trình của khinh binh. Đêm mùng 4 rạng mùng 5 từ Chương Mỹ, đại quân chia làm 2 mũi, một mũi do Đô đốc Long đánh thẳng vào Đống Đa, nhanh chóng tiêu diệt Đống Đa. Thái Thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử. Cùng lúc và muộn hơn chút ít, khinh binh tấn công đồn Ngọc Hồi, tiêu diệt một vạn quân Thanh. Hai vạn quân địch vòng lên phía Tây Bắc định về Thăng Long liền bị cánh quân do Đô đốc Bảo từ Chương Mỹ qua Thanh Trì đánh làm hai vạn quân địch bị dìm chết tại Đầm Mực khiến cho quân Thanh kịp động binh vào mùng 6 Tết.

Tiêu diệt xong hai đồn quân tiền tiêu Đống Đa, Ngọc Hồi mà tại cung Tây Long Tôn Sĩ Nghị không hề hay biết, vì hai đồn này bị đánh bất ngờ, không có thông tin nào được truyền vào ngay trong chiến sự. Đại quân tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị chui ống đồng cho quân sĩ dẫn sang bên kia sông Hồng, cùng bại binh tháo chạy về nước. Thăng Long và Đại Việt hoàn toàn sạch bóng quân thù.

Đại thắng Mậu Thân – Kỷ Dậu ở Thăng Long đã thể hiện vai trò nổi bật của Hoàng đế Quang Trung vừa là một chiến tướng, khoác áo bào đánh từ Ngọc Hồi đến Đống Đa vừa là linh hồn và người chủ xướng cách đánh, chỉ cho các tướng phải đánh ra sao cho thắng để giành thắng lợi hoàn toàn.

Nhà sử học Bùi Thiết

daidoanket.vn

 

Bài 3: Hào khí thời đại Hồ Chí Minh – Kỳ 6

Lợi dụng thời cơ ngàn năm có một, nuôi dưỡng và phát động tinh thần dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương và Mặt trận Việt Minh, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã lãnh đạo nhân dân trên cả nước làm cuộc Cách mạng tháng Tám thắng lợi. Chiều 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình, thay mặt Chính phủ Lâm thời, Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc – kỷ nguyên độc lập, tự do. Thời đại mới mở ra từ đây. Thời đại đó được gọi theo tên người khai sinh ra nó – thời đại Hồ Chí Minh.

Chiến thắng 30-4-1975 mãi là niềm tự hào của dân tộc

Ảnh: T.L

Thời đại Hồ Chí Minh sinh ra trước hết từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam, được nuôi dưỡng và thăng hoa bằng tinh thần dân tộc hay như chính Hồ Chí Minh đã từng ý thức: ” Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”.

Nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng đừng”. Nhân dân Việt Nam sung sướng hưởng sự độc lập và tự do chưa được bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 23-9-1945, nhân dân Sài Gòn, thay mặt nhân dân cả nước, đứng dậy chiến đấu bảo về nền độc lập dân tộc vừa mới giành được. Hành trình dân tộc đến với độc lập, tự do, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất Tổ quốc bắt đầu từ đây, vắt qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại, hết chống Pháp đến chống Mỹ, ròng rã trong ngót 30 năm mới tới đích.

Cả nước vừa chống giặc đói, giặc dốt vừa dốc sức bằng phong trào “Nam tiến” chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam chống ngoại xâm. Thế và lực chúng ta lúc đó còn chênh vênh và mỏng nên không thể ngăn chặn được quân thù, song cũng đã kịp làm một số việc lớn chưa từng có trong lịch sử: Tổng tuyển cử bầu những người đại diện của mình vào Quốc hội, thành lập Chính phủ mới và thông qua Hiến pháp năm 1946. Hào khí Cách mạng tháng Tám được phả vào đây một cách sống động và tự nhiên mà sau đó các thế lực chống đối muốn chối bỏ cũng không thể nào làm được bởi tính hợp pháp, hợp hiến của nó.

Rồi giặc Pháp trở lại Hà Nội hợp sức với các thế lực thù địch khác và dùng mọi thủ đoạn, quyết tâm tiêu diệt Chính phủ Hồ Chí Minh, cũng tức là muốn đánh sập ý chí độc lập tự do của dân tộc ta. Đại diện cho ý chí của toàn dân tộc, Hồ Chủ tịch dõng dạc tuyên bố lời thề chém đá “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Quân dân Hà Nội chiến đấu cầm chân giặc cho cuộc rút lui chiến lược của Chính phủ Hồ Chí Minh lên Việt Bắc tổ chức kháng chiến không cân sức tựa như “châu chấu đá voi”. Cả nước theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh, bỏ lại phía sau những cánh đồng xanh ngát, kinh thành bốc cháy, ra bưng biền, lên rừng núi đánh giặc trường kỳ. Người Hà Nội hào hoa dứt khoát “ra đi, đầu không ngoảnh lại”. Công nhân nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo “xẻ” nhà máy thành những bộ phận nhỏ, gồng gánh, mang vác đưa lên chiến khu dựng lại tiếp tục sản xuất, phục vụ kháng chiến. Những chí sĩ như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại…, những trí thức như Nguyễn Văn Tố, Hoàng Đạo Thúy… cả những trí thức lớn từ Pháp mới về như Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng… các văn nghệ sĩ như Văn Cao, Nguyễn Huy Tưởng… lên chiến khu, tham gia dựng lại cơ đồ, mở mang sự nghiệp. Thủ đô kháng chiến Tân Trào, Thái Nguyên, Tuyên Quang thắp sáng niềm tin cho toàn dân tộc: “Ở đâu đau đớn giống nòi/ Trông lên Việt Bắc mà nuôi chí bền”. Một lần nữa, sự cố kết dân tộc, tinh thần dân tộc được đẩy lên cung bậc cao nhất: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công!”.

Sau hơn bốn năm xây dựng, tích trữ lực lượng, Thu-Đông 1950, quân đội ta xông trận. Thắng lớn, cánh cửa biên giới thông thương với các nước trong phe dân chủ, với thế giới mở toang. Cuộc phá vây ngoạn mục đã hoàn thành trên thực tế (Trên bình diện ngoại giao, từ tháng 1-1950 bởi sự công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt Nam của Trung Quốc, Liên Xô…). Thế và lực chúng ta vững hơn, mạnh lên. Từ đó, chúng ta chủ động trên chiến trường, khiến quân Pháp điều binh khiển tướng chạy theo như đèn cù, hết Tây Bắc đến Thượng Lào… và cuối cùng gom quân Pháp tại lòng chảo Mường Thanh và giáng trận Điện Biên “chấn động địa cầu”, buộc Pháp ngồi vào bàn Hội nghị Giơnevơ. Ta chưa được toàn vẹn lãnh thổ, nhưng ta đã có được nửa nước, đặc biệt Hà Nội – mảnh đất nghìn năm văn hiến, Thủ đô muôn đời – đã về với ta. Cũng trên Quảng trường Ba Đình sang sảng tiếng Bác đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày nào, giờ đây, ngày 1-1-1955, Chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh ra mắt và chào nhân dân Thủ đô sau hơn tám năm kháng chiến ở rừng núi. Hào khí Thăng Long- Hà Nội hội tụ với hào khí thắng giặc Pháp trở thành âm hưởng chủ đạo của thời đại. Châu Á, châu Phi và Mỹ La tinh luôn vang mãi một cụm từ bất tử: “Việt Nam – Điện Biên Phủ – Hồ Chí Minh – Võ Nguyên Giáp”.

Hồ Chủ tịch trong chiến dịch Biên giới

Ảnh: T.L

Ở miền Nam, Pháp đi, Mỹ tới. Chính quyền Sài Gòn do Mỹ dựng lên phá hoại Hiệp định Giơnevơ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước chúng ta. Chúng tàn sát những người yêu nước, những người kháng chiến cũ bằng Luật 10/59 tàn bạo, bằng máy chém, bằng cực hình, bằng lao tù. Những vụ tàn sát Vĩnh Trinh, Phú Lợi thức tỉnh lương tri, kêu gọi hành động khẩn cấp. Cả nước một lần nữa “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” và cùng với phong trào “Đồng Khởi” miền Nam tạo thành khúc dạo đầu của bản giao hưởng chống Mỹ, cứu nước, không chỉ lay động trái tim, khối óc toàn dân tộc ta, mà còn thức tỉnh lương tri nhân loại. Hai con đường huyền thoại trên bộ, trên biển (Đường Hồ Chí Minh xuyên Trường Sơn với những con đường nhánh có độ dài trên 7 nghìn km, Đường Hồ Chí Minh trên biển khởi đầu từ bến Vạn Hoa, Đồ Sơn, Hải Phòng) hình thành, chi viện sức người sức của cho chiến trường miền Nam. Quân và dân miền Nam lần lượt đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” bằng trận Ấp Bắc, Bình Giã, đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” bằng cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 và buộc Chính quyền Washington ngồi vào bàn Hội nghị Pari tháng 5-1968. Cục diện chiến tranh xoay chuyển, vừa đánh vừa đàm, có lợi cho ta. Nếu như Hội nghị Giơnevơ năm 1954, chúng ta bị sức ép từ nhiều phía nên thắng lợi không như ta mong muốn thì tại Hội nghị Pari này, ta chủ động và tự quyết định hoàn toàn vận mệnh của Tổ quốc ta bằng sự kết hợp khéo léo sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại.

Các quyết định ở bàn Hội nghị Pari, lúc hai bên, lúc bốn bên, đều tùy thuộc ở chiến trường. Những nhà ngoại giao Xuân Thủy, Lê Đức Thọ, Nguyễn Thị Bình dựa vào nền tảng tựa như bàn thạch từ những chiến thắng quân sự trên cả hai chiến trường Nam, Bắc mà ung dung ngồi vào bàn đàm phán. Trên chiến trường miền Nam, quân dân ta đã thắng lớn trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào, chiến dịch Trị – Thiên Xuân – Hè 1972. Ở miền Bắc, quân dân ta với trí thông minh và lòng quả cảm đã đánh thắng cuộc chiến tranh phá họai bằng không quân và hải quân tàn bạo của đế quốc Mỹ với tham vọng ngông cuồng của tướng Curtis Emerson Le May “đưa người Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Và cuối cùng, bằng sức mạnh của tinh thần Việt Nam, quân dân ta đã giăng lưới thép tầng thấp, tầng trung, tầng cao “vít cổ” pháo đài bay B52 mà chính quyền Mỹ đem ra hù dọa những kẻ yếu bóng vía trên thế giới vào những ngày tháng Chạp năm 1972 trên đất Hà Nội mà thế giới biết tới là “Trận Điện Biên Phủ trên không”. Hoa Kỳ đã hết “vở”, buộc phải trở lại Hội nghị Pari và ngày 27-1-1973, Kítsinggơ, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, phải cầm bút ký vào bản Hiệp định Pari, công nhận nền độc lập, toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta và rút hết quân đội Mỹ và chư hầu về nước.

Chính sách đối ngoại hai bước của Hồ Chí Minh đã được toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân thực hiện trọn vẹn. Bước 1: “Đánh cho Mỹ cút”. Bước hai: “Đánh cho ngụy nhào”, được khởi động thận trọng, nhưng khẩn trương chuẩn bị mọi điều kiện cho cuộc vùng dậy cuối cùng. Chiến dịch Phước Long cuối năm 1974 như chiến dịch trinh sát chiến lược, chúng ta toàn thắng. Thắng lợi Phước Long trùng vào lúc Hội nghị Bộ Chính trị đang họp nên Bộ Chính trị coi cả năm 1975 là thời cơ, nhưng chín muồi lúc nào là cơ hội lúc đó để tiến hành bước hai – đánh cho ngụy nhào, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất Tổ Quốc như khát vọng của toàn dân tộc, của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Chiến thắng Điện Biên Phủ 7-5-1954

Ảnh: T.L

Bước hai được ấn nút vào tháng Ba, “mùa con ong đi lấy mật” ở Tây Nguyên bằng cuộc tấn công vào Buôn Mê Thuột. Buôn Mê Thuột thất thủ, Tây Nguyên “nóc nhà của Đông Dương” bị bỏ ngỏ. Thừa thắng xốc tới, ta mở chiến dịch Huế-Đà Nẵng với khí thế “thần tốc, thần tốc… một ngày bằng hai mươi năm” của Quân ủy Trung ương. Thế và lực của ta mạnh hơn bao giờ hết. Các đoàn quân chiến thắng với năm mũi tiến công, đang túc trực trước cửa ngõ Sài Gòn, chờ lệnh. Thời cơ chín muồi cho cuộc xung trận cuối cùng đã xuất hiện. Chiến dịch mang tên Hồ Chí Minh tiến công vào dinh lũy cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, bắt đầu. Trưa ngày 30-4-1975, lá cờ Giải phóng của ta đã phấp phới bay trên nóc Dinh Độc lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam đã hoàn toàn được giải phóng. Năm 1976 hai miền Nam Bắc thống nhất, non sông về trong một mối sau 21 năm chia cắt.

Như Hồ Chí Minh, người khai sinh nền cộng hòa dân chủ, đã từng nói (đại ý): Nước độc lập mà dân không được ăn no, mặc ấm, không được học hành thì độc lập không có nghĩa lý gì. Và trong những ngày gồng mình đánh giặc, Hồ Chí Minh đã nói tới viễn cảnh: thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Sau hơn 13 năm thử nghiệm, tìm tòi, cuối cùng, năm 1986, Đảng ta đã tìm thấy con đường ấm no, hạnh phúc và giàu mạnh của dân tộc bằng công cuộc “Đổi mới”, bắt đầu từ đổi mới tư duy, trước hết trong lĩnh vực kinh tế, sau đó sang lĩnh vực chính trị và văn hóa rồi đến hội nhập quốc tế mà thực chất là mở cửa “làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Hào khí trong kháng chiến chống ngoại xâm bây giờ biến thành hào khí trong dựng xây đất nước giàu mạnh. Cả nước thành một đại công trường xây dựng. Đất nước thay da, đổi thịt mỗi ngày. Mức sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên từng năm, từng năm. Ta đã vượt qua dưới hạn của nước nghèo và vững tin gia nhập vào các nước đang phát triển. Hào khí thời đại Hồ Chí Minh đang cộng hưởng nâng ta tiếp bước trong thời đại hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Hào khí thời đại Hồ Chí Minh có một cội nguồn từ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, từ tinh thần dân tộc Việt Nam. Hào khí đó sẽ tiếp tục nâng bước ta đi tới tương lai – xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải nước ta như vua Lê Thánh Tông từng răn đe quần thần thuở trước: “Kẻ nào dám lấy một thước đất, một tấc đất của Thái Tổ để lại, để làm mồi cho giặc sẽ bị tru di tam tộc”.

PGS.TS. Phạm Xanh

daidoanket.vn