Tag Archive | Biển Đông dậy sóng

Vấn đề Biển Đông đang đi vào bế tắc?

(Petrotimes) – Phát biểu tại mội hội nghị về những thách thức an ninh ở Biển Đông và những cách thức giảm thiểu nguy cơ xung đột trong vùng biển tranh chấp châu Á – Thái Bình Dương do Viện chính sách chiến lược Australia tổ chức mới đây, Ngoại trưởng Australia Bob Carr cho rằng vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông đang đi vào bế tắc khi mà Trung Quốc có quan điểm về các biện pháp xây dựng lòng tin trên biển không giống ai.

Tiếp tục đọc

Advertisements

Tranh chấp biển Đông: Lí lẽ cho niềm tin

Tranh chấp biển Đông: Lí lẽ cho niềm tin Ngoại giao là nghệ thuật của những điều không thể! Và  trong vấn đề Biển Đông, đối phó với Trung Quốc về các vấn đề nhạy cảm liên quan đến chủ quyền phải thật khéo léo, từ mức độ thấp đến cao nhưng luôn liên tục và bền bỉ.

Tiếp tục đọc

Philippines không là dải lụa mềm trên Biển Đông

Tổng thống Philippines Benigno Aquino III hôm (12/6) đã thề sẽ không lùi bước trước bất kỳ thách thức nào trong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền trong bối cảnh Philippines đang có cuộc tranh chấp căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông.

Tổng thống Philippines Benigno Aquino trong lễ kỷ niệm 115 năm ngày đất nước Philippines giành được độc lập

Phát biểu trong lễ kỷ niệm 115 năm ngày đất nước Philippines giành được độc lập, thoát khỏi ách thống trị của Tây Ban Nha, Tổng thống Aquino cho biết, Manila không đòi chủ quyền đối với những vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền rõ ràng của nước khác mà chỉ yêu cầu “lãnh thổ và các quyền của Philippines được tôn trọng”.

“Hiếu chiến không chảy trong huyết quản của chúng ta nhưng chúng ta cũng sẽ không lùi bước trước bất kỳ thách thức nào”, ông Aquino đã phát biểu như vậy trước các nhân viên chính phủ, các nhà ngoại giao và những người ủng hộ tại một quảng trường được đặt tên theo nhà lãnh đạo cách mạng Andres Bonifacio.

Theo lời ông Aquino, trong 5 năm tới, Philippines sẽ dành 75 tỉ peso (tương đương 1,74 tỉ USD) vào việc hiện đại hóa lực lượng vũ trang.

Mặc dù Tổng thống Philippines không chỉ đích danh tên Trung Quốc trong bài phát biểu của mình nhưng mọi người đều ngầm hiểu đó là thông điệp mà ông này muốn nhắn gửi đến Trung Quốc trong bối cảnh hai nước đang có cuộc tranh chấp lãnh thổ nóng bỏng ở Biển Đông.

Cuộc đối đầu căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc được châm ngòi từ một cuộc va chạm giữa tàu chiến lớn nhất của Philippines với hai tàu hải giám Trung Quốc ở khu vực bãi cạn Scarborough thuộc Biển Đông hồi tháng 4 năm ngoái.

Sau vụ va chạm trên, hai nước Philippines và Trung Quốc rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Trong suốt thời gian hơn một năm qua, tàu Trung Quốc nhất quyết không chịu rút khỏi bãi cạn Scarborough bất chấp nước này có thỏa thuận với Philippines về việc rút toàn bộ tàu thuyền hai bên ra khỏi khu vực sau cuộc đối đầu căng thẳng nói trên.

Điều đáng nói là, Trung Quốc hiện giờ đang kiểm soát bãi cạn Scarborough, khiến ngư dân Philippines lao đao, khốn khổ vì mất đi ngư trường đánh cá truyền thống. Bãi cạn Scarborough nằm cách đảo chính Luzon của Philippines chỉ khoảng 230km. Trong khi đó, khu vực đất liền gần nhất của Trung Quốc là tỉnh Hải Nam cũng cách bãi cạn Scarborough đến 1.200km.

Hồi tháng 1, Philippines đã quyết định đưa các cuộc tranh chấp giữa họ với nước láng giềng Trung Quốc ở Biển Đông ra giải quyết tại tòa án quốc tế. Manila tuyên bố muốn thức thách thức tính pháp lý của yêu sách đường 9 đoạn hay còn gọi là đường lưỡi bò mà Bắc Kinh đưa ra. Theo yêu sách phi lý đó, Trung Quốc đòi chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông, mở rộng đến tận những khu vực nằm sát bờ biển của các nước láng giềng. Đường 9 đoạn của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) và vì thế nó vấp phải sự phản đối dữ dội của các học giả, các chuyên gia trên toàn thế giới.

Theo Kiệt Linh/VnMedia
Vkyno (st)

Tri ân liệt sĩ Gạc Ma: Quyết chiến bảo vệ đảo

Ngày  19.5, đại diện Báo Thanh Niên và Tỉnh đoàn Thanh Hóa đã về thăm gia đình liệt sĩ Lê Đình Thơ và Cao Xuân Minh ở H.Hoằng Hóa (Thanh Hóa).

Trong hồi ức của mình, bà Lê Thị Lượng (mẹ liệt sĩ Lê Đình Thơ ở xã Hoằng Minh) vẫn không thể nào quên được những ngày tháng đau thương nhất của gia đình khi bà liên tiếp mất đi cả con trai và con dâu trong cùng năm 1988, để lại cho bà đứa cháu gái côi cút mới hơn một tuổi đầu.

Tri ân liệt sĩ Gạc Ma 1Đại diện Báo Thanh Niên và Tỉnh đoàn Thanh Hóa thăm hỏi động viên gia đình liệt sĩ Cao Xuân Minh – Ảnh: Ngọc Minh

Anh Lê Đình Thơ hy sinh khi đang làm nhiệm vụ đo đạc hải đồ trên tàu HQ 604. Sáng 14.3.1988, tàu HQ 604 đang neo đậu gần đảo Gạc Ma, khi thấy 4 chiếc tàu lớn của Hải quân Trung Quốc đang tiến lại gần thì chỉ huy Lữ đoàn 146 đã cử ngay các chiến sĩ lên bảo vệ lá cờ Tổ quốc đang cắm trên đảo. Thấy vậy, phía Trung Quốc cho 2 xuồng chở đầy lính có vũ trang lao về đảo, tàu HQ 604 liền nhổ neo tiến về phía đảo để bảo vệ.

Đúng 7 giờ 30, 2 chiến hạm Trung Quốc dùng pháo 100 mm bắn xối xả vào tàu HQ 604 khiến tàu bị hỏng nặng. Thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và cán bộ, chiến sĩ đã đánh trả quyết liệt khi thấy quân Trung Quốc có ý định chiếm tàu. Thấy không thể khuất phục được tinh thần chiến đấu dũng cảm, quyết chiến đấu, hy sinh để bảo vệ đảo của bộ đội ta, phía Trung Quốc tiếp tục nã pháo khiến tàu HQ 604 bị thủng nhiều lỗ và chìm dần xuống biển…

Chỉ huy tàu và một số thủy thủ đã hy sinh, trong đó có liệt sĩ Lê Đình Thơ.

Khi nhắc đến con, bà Lê Thị Lượng xúc động: “Mới đầu năm gia đình nhận được tin thằng Thơ hy sinh khi chống lại quân Trung Quốc ở đảo Gạc Ma, ngoài Trường Sa, thì 7 tháng sau đơn vị đưa xe chở con gái hắn về giao cho tôi và báo tin là con Thái vợ thằng Thơ bị bệnh nặng khó qua khỏi. Các bác sĩ bảo vợ hắn yếu thần kinh nên quỵ xuống vì không thể chịu đựng được việc thằng Thơ hy sinh. Tôi tất tả vơ vội mấy bộ quần áo rồi theo xe của đơn vị ra bệnh viện chăm con dâu. Nhưng cuối cùng nó cũng bỏ tôi, bỏ con nó mà đi sau hơn 1 tháng chống chọi với bệnh tật…”.

Vì thương mẹ già còm cõi nuôi đứa cháu mồ côi, nên anh Lê Đình Bài (em trai anh Thơ) đã phải xin nghỉ việc ở vùng mỏ Quảng Ninh để phụ mẹ chăm cháu. Giờ đây Lê Thị Thủy (con gái anh Thơ) đã có chồng và một con, hiện chị đang tiếp tục theo học tại Trường ĐH Mỏ địa chất, đúng chuyên ngành mà xưa kia anh Thơ từng học.

Khác với nỗi nhớ con khắc khoải của bà Lượng, bà Nguyễn Thị Văn (mẹ liệt sĩ Cao Xuân Minh ở xã Hoằng Quang) chỉ ngồi cười khi có khách đến thăm. Nghe mọi người hỏi chuyện xưa của anh Minh, bà kể: “Hắn đẹp nhất nhà đấy. Giờ đang mần việc ở Hà Nội. Lâu lắm chả thấy hắn về thăm. Chắc ngoài đó bận lắm các bác nhỉ”. Nói xong bà lại cười ngây dại rồi lục cục bước xuống nhà dưới.

Kéo vạt áo lau nước mắt, ông Cao Xuân Điền (bố liệt sĩ Cao Xuân Minh) thở dài: “Bà ấy bị bệnh tâm thần mấy chục năm nay rồi. Sau giải phóng (1975) tôi từ Sài Gòn ra đưa bà ấy đi điều trị mấy năm liền. Bệnh tình sau đó cũng thuyên giảm nhiều, nhưng kể từ sau khi thằng Minh hy sinh (1988) thì bệnh cũ của bà ấy tái phát và không thể chữa trị được nữa. Khổ lắm”.

Liệt sĩ Cao Xuân Minh nhập ngũ năm 1986, khi hy sinh ở đảo Gạc Ma anh mới tròn 21 tuổi. Kỷ vật để lại của người lính trẻ chẳng có gì ngoài vài trang thư vàng ố. Nhìn cảnh bố anh trong bộ quân phục của một người lính từng xông pha qua 2 cuộc chiến run run thắp nén hương cho người con anh dũng đã hy sinh khi bảo vệ đảo xa, chúng tôi đã không cầm được nước mắt.

Đến ngày hôm qua 19.5, đợt 1 của chương trình “Tri ân liệt sĩ Gạc Ma” đã kết thúc. Khởi đầu từ ngày 15.5 đến ngày 19.5, Báo Thanh Niên và Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Nông nghiệp – Phát triển nông thôn (Agribank) và đại diện Ban Tài trợ Hội Thầy thuốc trẻ Việt Nam đã đến Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Bình, Thanh Hóa để gặp gỡ, tri ân và tặng quà cho 31 gia đình liệt sĩ với số tiền 620 triệu đồng. Đợt 2 của chương trình sẽ bắt đầu vào ngày 27.5 tại các tỉnh, thành phía Bắc.
Chuẩn đô đốc Đinh Gia Thật

Ảnh: Công Minh

Tri ân đối với gia đình, những người có công, những thương binh liệt sĩ đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng là một việc mà nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội cần phải làm và làm nhiều hơn nữa. Quân chủng Hải quân rất hoan nghênh và đánh giá rất cao tấm lòng của các tổ chức, các cơ quan, cá nhân và báo chí thực hiện việc tri ân sâu sắc đối với các gia đình liệt sĩ, đặc biệt là chương trình “Tri ân liệt sĩ Gạc Ma” mà Báo Thanh Niên thực hiện trong thời gian qua.

Chuẩn đô đốc Đinh Gia Thật

Phó chính ủy Quân chủng Hải quân

Ông Trần Ngọc Thuận

Ảnh: Sỹ Bình

Khi nghe Báo Thanh Niên bàn về việc hỗ trợ chương trình “Tri ân liệt sĩ Gạc Ma”, bản thân tôi và hầu hết cán bộ lãnh đạo, nhân viên thuộc tập đoàn đều đánh giá rất cao chương trình mang đầy tính nhân văn này và ủng hộ ngay. Đây là việc mà chúng ta nên làm, cần làm nhiều hơn nữa và lẽ ra phải làm từ rất lâu.

Ông Trần Ngọc Thuận
Bí thư Đảng ủy, Phụ trách Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam

Cao Ngọ – Tấn Tú – Ngọc Minh
thanhnien.com.vn

Thông điệp mạnh mẽ về chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vừa mới đây đã tiếp Tổng giám đốc Tập đoàn Gazprom (một trong những doanh nghiệp dầu khí hàng đầu của nước Nga) nhân dịp Gazprom đạt được thỏa thuận với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) để cùng khai thác tại hai lô 5.2 và 5.3 nằm trên thềm lục địa Việt Nam.

 Các dự án hợp tác khai thác dầu khí của Việt Namvới
các đối tác nước ngoài hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế
Ảnh: HOÀNG LONG

Sự kiện này khiến người ta nhớ lại cách đây không lâu, trong chuyến công du Ấn Độ năm 2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng đưa ra thông điệp mạnh mẽ về việc Nhà nước Việt Nam cam kết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của các đối tác nước ngoài hợp tác làm ăn với Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác dầu khí trên Biển Đông.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khi đó đã khẳng định rằng các dự án hợp tác khai thác dầu khí của Việt Nam trên Biển Đông với các đối tác nước ngoài đều nằm trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, phù hợp với luật pháp quốc tế. Hai lô mà Gazprom vừa đạt được thỏa thuận hợp tác với Việt Nam là nơi có các mỏ khí Hải Thạch và Mộc Tinh, nằm trong bồn trũng Nam Côn Sơn giữa quần đảo Trường Sa và bờ biển Việt Nam. Từ năm 2007, cũng chính tại đây Trung Quốc đã gây áp lực buộc Tập đoàn BP (British Petroleum) phải rút lui trong dự án hợp tác đầu tư với Việt Nam trị giá 2 tỷ USD vào năm 2009. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã không ít lần gây áp lực với các công ty nước ngoài có hợp tác làm ăn với Việt Nam trên Biển Đông với lý do họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” trên hầu như toàn bộ Biển Đông được bao chiếm bởi “đường lưỡi bò” phi lý và phi khoa học. Chẳng hạn như, hồi tháng 7-2008 Trung Quốc cũng đã gây sức ép buộc Tập đoàn ExxonMobil của Hoa Kỳ ngừng dự án hợp tác với Việt Nam tại các lô trên bãi Tư Chính, thuộc thềm lục địa của Việt Nam. Thế nhưng ExxonMobil tự tin vào các cam kết của Nhà nước Việt Nam và sự tuân thủ pháp luật quốc tế của hoạt động hợp tác với Việt Nam trên vùng biển này nên vẫn tiếp tục dự án. Cho đến tháng 10 năm ngoái, Công ty này đã thông báo tin vui về việc tìm thấy dầu tại khu vực dự án hợp tác với Việt Nam.

Mấy ngày trước khi sự kiện Gazprom đạt được thoả thuận hợp tác với Việt Nam tại các lô mà BP đã từng rút lui diễn ra, Trung Quốc cũng đưa ra một thông điệp cảnh báo các công ty Ấn Độ sẽ phải “trả giá” vì đã hợp tác với Việt Nam khai thác dầu khí trong vùng biển mà nước này tuyên bố “có chủ quyền không thể tranh cãi”. Ngay lập tức, Phó thủ tướng Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, trong chuyến thăm Ấn Độ hồi cuối tháng 3-2012, đã tuyên bố khu vực mà Việt Nam hợp tác với Ấn Độ không hề có tranh chấp về chủ quyền và lãnh thổ vì khu vực này hoàn toàn nằm trong vùng 200 hải lý, thuộc chủ quyền của Việt Nam theo quy định của luật pháp quốc tế. Việc Trung Quốc đơn phương đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” bao chiếm hầu như toàn bộ Biển Đông là hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của nhiều quốc gia trong khu vực. Yêu sách “đường lưỡi bò” không có cơ sở pháp lý quốc tế, cũng không được sự thừa nhận của bất cứ tổ chức quốc tế hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Do vậy yêu sách phi lý và phi khoa học này không thể trở thành căn cứ, làm cơ sở pháp luật để nước này phản đối các hoạt động hợp pháp của các quốc gia khác trong khu vực.

Tham chiếu các quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 mà Trung Quốc cũng là một bên tham gia thì ai cũng thấy rằng yêu sách “đường lưỡi bò” hoàn toàn trái với các quy định của Công ước. Không một quy định nào của Công ước có thể biện minh cho yêu sách “đường lưỡi bò”. Đơn giản bởi vì vùng biển mà “đường lưỡi bò” ngoạm vào không thể nào là lãnh hải hoặc vùng đặc quyền kinh tế hoặc là thềm lục địa của Trung Quốc. Đó chính là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei. Yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý nói trên đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền của 5 nước ASEAN đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Chính vì vậy, mà Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines đã lần lượt gửi công hàm đến Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Việc Tung Quốc mới đây vẫn tiếp tục đưa ra yêu sách phi lý nói trên, tổ chức các cơ quan nghiên cứu đo đạc bản đồ và tiến hành các việc làm trên thực địa nhằm đơn phương áp đặt yêu sách này càng làm cho tình hình Biển Đông trở nên phức tạp hơn, gây lo ngại thực sự cho cộng đồng thế giới. Không chỉ các quốc gia liên quan tranh chấp ở Biển Đông mà dư luận của nhiều quốc gia khác cũng đã bày tỏ sự phản đối yêu sách đầy phi lý này.

Ngày càng nhiều công ty dầu khí của hàng chục quốc gia trên thế giới sẵn sàng hợp tác với Việt Nam và ngày càng có thêm nhiều tin vui về những thành quả của sự hợp tác này cho thấy cộng đồng quốc tế, mà đặc biệt là các doanh nghiệp dầu khí hàng đầu thế giới, tự tin vào chủ quyền và chính nghĩa của Việt Nam trên các khu vực khai thác ở Biển Đông. Theo công pháp quốc tế, hoạt động thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa của mình là việc làm bình thường của mọi quốc gia có chủ quyền, được luật pháp cũng như cộng đồng thế giới ủng hộ. Bất kỳ sự quấy rối, đe dọa hay gây hấn nào nhằm vào các hoạt động hợp pháp bình thường đó cũng đều là phi lý và xâm phạm thô bạo quyền, lợi ích chính đáng của quốc gia khác, chắc chắn sẽ bị cộng đồng quốc tế lên án.

Hữu Nguyên
daidoanket.vn

“Sức mạnh mềm” của Việt Nam (13/02/2012)

“Sức mạnh mềm” của Việt Nam từng được vận dụng vô cùng khéo léo trong các cuộc chiến chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước của cha ông ta hàng ngàn năm qua. Ngày nay, khái niệm “sức mạnh mềm” của Việt Nam lại được sử dụng khéo léo trong cuộc đấu tranh chống “đường lưỡi bò” rất gần gũi với quan điểm “dĩ đức phục nhân”, lấy đức để thu phục lòng người trong tư tưởng phương Đông. Trong lịch sử giữ nước, có thể coi Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng văn đỉnh cao thể hiện “sức mạnh mềm” của người Việt Nam với tư tưởng “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo”.

 Ngư dân Việt Nam từ bao đời qua bám biển,
góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng
của người Việt Nam trên Biển Đông

Trong Bình Ngô Sách dâng lên Lê Lợi trình bày sách lược đánh đuổi quân Minh, Nguyễn Trãi đã vạch ra nền tảng tư tưởng cho toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn bằng chiến lược phối hợp nhịp nhàng ba mặt trận là chính trị, binh vận và ngoại giao, nêu cao chính nghĩa dân tộc và sức mạnh quyết định của nhân dân để giành chiến thắng. Đó là kế đánh vào lòng người, không xông trận mà vẫn khuất phục được đối phương (Ngã mưu phạt nhi công tâm, bất chiến tự khuất). Chiến lược hòa bình của ông cha ta được thể hiện một cách nhuần nhuyễn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn. Khi 10 vạn quân Vương Thông bị quân ta vây hãm ở thành Đông Quan, nếu Lê Lợi và Nguyễn Trãi hạ lệnh tấn công, chắc chắn quân giặc sẽ bị tiêu diệt sạch. Nhưng tư tưởng “lấy chí nhân thay cường bạo”, bằng chiến lược hòa bình Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương “dập tắt muôn đời chiến tranh – mở nền thái bình muôn thuở” đã mở đường cho quân Minh rút về nước với Hội thề Đông Quan lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến. Đó là một cách kết thúc chiến tranh độc đáo, sáng tạo, sáng ngời nhân nghĩa gắn liền với chiến lược hòa bình của ông cha ta.

GS Joshep Nye (cha đẻ của khái niệm “sức mạnh mềm”) trả lời báo giới khi tới thăm Việt Nam năm 2007 đã từng nhận định, Việt Nam có nhiều thứ có thể thu hút, lôi kéo các quốc gia khác như sự nổi danh từ lịch sử đấu tranh giành độc lập bảo vệ chủ quyền, sự chuyển đổi thành công sang một nền kinh tế có mức tăng trưởng ấn tượng… Ông cho rằng, những điều này đã giúp gia tăng “sức mạnh mềm” của Việt Nam. Điểm hấp dẫn nhất của “sức mạnh mềm” Việt Nam hiện nay nằm ở tinh thần tự chủ, độc lập dân tộc và phát triển kinh tế. Cũng theo GS Joshep Nye, văn hóa của Việt Nam luôn hấp dẫn, có sức lôi cuốn các nước phương Tây, điều này thật quan trọng vì “có 3 nguồn lực chính để tạo nên “sức mạnh mềm”: một là văn hoá quốc gia, hai là hệ giá trị quốc gia và ba là chính sách quốc gia”.

Do điều kiện địa lý, Việt Nam trở thành chướng ngại tự nhiên của Trung Quốc trên con đường chiếm lĩnh Biển Đông để vươn ra Thái Bình Dương. Lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta đã để lại nhiều bài học quý giá và phù hợp với thực tế khách quan của một đất nước khiêm nhường buộc phải tồn tại và phát triển bên cạnh một người hàng xóm khổng lồ và đầy tham vọng. Ngày nay, trước sự xuất hiện của một siêu cường Trung Quốc đang lên, tham vọng bành trướng và cách hành xử hung hăng của họ trong thời gian gần đây đã gây quan ngại sâu sắc cho cộng đồng thế giới, đặc biệt là tình hình an ninh và tự do hàng hải trên Biển Đông. Tuy nhiên, thực tế đó, theo các nhà phân tích lại tạo thêm một thời cơ thuận lợi cho Việt Nam, với truyền thống độc lập tự chủ, yêu chuộng hòa bình và khát vọng vươn lên đang được minh chứng bằng sự đổi mới mạnh mẽ hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Có thể nói, tình thế hiện nay thúc đẩy sự mong muốn của cộng đồng thế giới trước sự “trỗi dậy” đầy đe dọa của Trung Quốc là cần thiết xuất hiện một Việt Nam mạnh mẽ, trở thành một quốc gia cầu nối có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển. Đồng thời, khi trở thành đối tác đáng tin cậy của cộng đồng thế giới, Việt Nam mới có thể trở thành đối tác được tôn trọng và bình đẳng của Trung Quốc.

Tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” bằng yêu sách “đường lưỡi bò” bao chiếm 80% Biển Đông của Trung Quốc trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cùng với các hành động hung hăng gần đây của nước này trên Biển Đông dù muốn hay không muốn cũng đã đặt dân tộc Việt Nam vào một tình thế buộc phải đối phó. Các chuyên gia lịch sử nhận định, kể từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, có lẽ đây là lần thứ tư nước ta phải đối mặt với sự thách thức lớn như vậy. Riêng trên phương diện quân sự, qua 3 cuộc chiến tranh chống xâm lược ở thế kỷ trước, Việt Nam đã trải nghiệm thực tế là vấn đề tổng số lực lượng quân sự của đối phương và vấn đề lực lượng tại chỗ của ta là hai vấn đề khác nhau, không thể đơn thuần dùng số lượng đo đếm mạnh – yếu của nhau để luận thế thắng bại. Trong thời kỳ đối đầu, sức mạnh của các quốc gia thường được cân đong đo đếm bởi sức mạnh quân sự và kinh tế, tức là “sức mạnh cứng”. Dù vậy, “sức mạnh mềm” quốc gia vẫn không thể xem nhẹ, mà những “câu chuyện kể” về chính nghĩa của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước là một minh chứng. Đó là một trong những câu chuyện hấp dẫn và sống động nhất, thu hút được những tình cảm và sự ủng hộ to lớn của nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới dành cho Việt Nam. Sức mạnh ấy góp phần không nhỏ vào thắng lợi của Việt Nam trên mặt trận ngoại giao, làm tiền đề cho những chiến thắng quân sự, giúp non sông Việt Nam quy về một mối.

Đường lối đối ngoại của Việt Nam mong muốn làm bạn với tất cả các quốc gia, trở thành một thành viên có trách nhiệm và đáng tin cậy trong cộng đồng thế giới như đã được đề ra lâu nay chỉ có thể trở thành hiện thực trên cơ sở Việt Nam phải có khả năng đi cùng với xu thế phát triển của cả thế giới, cùng với cả thế giới phấn đấu cho trào lưu của hòa bình, tiến bộ, dân chủ, văn minh; cùng phấn đấu như thế để tự phát triển và để có khả năng hợp tác được, hợp tác có thực chất với mọi đối tác. Cần nhấn mạnh, đấy chính là đường lối đối ngoại dấn thân, dựa trên cơ sở tạo ra cho mình khả năng dấn thân – phấn đấu vì lợi ích chính đáng của chính mình, và đồng thời phấn đấu vì các lợi ích của cộng đồng thế giới. Về lâu dài, dân tộc ta ngày nay vẫn phải noi gương cha ông mình “đem đại nghĩa thắng hung tàn”, phải có bản lĩnh và thực lực để thực hiện được bài học này, phải thúc giục nhau làm cho đất nước sớm giầu mạnh lên để mau chóng trở thành một quốc gia mẫu mực trong việc “lấy chí nhân thay cường bạo”.

Chiến lược hòa bình của Việt Nam luôn là thành tố quan trọng trong tư tưởng “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Ngày nay, trước sự đe dọa, hung hăng của việc áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên Biển Đông, Việt Nam vẫn luôn giữ vững tinh thần “dĩ bất biến” kiên trì tìm cách giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan và tôn trọng các giá trị văn minh của nhân loại, tức là luôn luôn coi trọng đàm phán và giải quyết vấn đề trên nền tảng công pháp quốc tế. Từ “muốn là bạn” (Đại hội VII, VIII), “sẵn sàng là bạn” (Đại hội IX), “là bạn và đối tác tin cậy” (Đại hội X), Đại hội XI Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung thêm là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, thể hiện quá trình trưởng thành của ngoại giao Việt Nam với sự tham gia ngày càng tích cực, chủ động và có trách nhiệm của nước ta tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn khu vực, đa phương và toàn cầu. Điều đó thực tế đã góp phần làm gia tăng “sức mạnh mềm” của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, tạo ra thế và lực cân bằng trong việc xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực cho Việt Nam trong những năm gần đây. Trong mối quan hệ với người láng giềng khổng lồ, cần lưu ý rằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hay bất kỳ phản ứng cảm tính nào khác đều là sai lầm, chẳng hạn như tâm lý “bài Hoa”, chỉ làm mất đi sự tỉnh táo cần thiết và chỉ có thể gây thêm nguy hại mới cho đất nước. Mặt khác, nuôi dưỡng tinh thần hữu nghị và hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc đòi hỏi rất nhiều nỗ lực lớn, trong đó cần thiết phải hết sức tỉnh táo, kiên trì và dũng cảm. Lịch sử quan hệ hai nước Việt-Trung ghi lại nhiều trang lẫm liệt, ngay sau khi đưa được “khách không mời mà đến” ra khỏi nhà mình, Việt Nam đã phải nghĩ đến cầu hòa. Không ai có thể phủ nhận nhân dân ta có nguyện vọng sâu xa và truyền thống quý báu trong xây dựng mối quan hệ đời đời này với Trung Quốc. Bản lĩnh ấy ngày nay càng quan trọng hơn bất cứ giai đoạn nào khác. Ngoại giao dấn thân vì lợi ích quốc gia, dân tộc và có trách nhiệm với thế giới chính là một nền ngoại giao mạnh của một quốc gia có nền nội trị lành mạnh và đầy sức sống. Và cũng chỉ một nền ngoại giao dấn thân như thế mới bảo vệ được đất nước ta và luôn luôn tạo ra cho nước ta sức phát triển mới.

Có thể thấy Biển Đông là một mặt trận nóng, thậm chí có lúc có thể rất nóng, nhưng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mặt trận chính quyết định giành thắng lợi ở mọi mặt trận khác, là nhân dân ta phải xây dựng bằng được nền nội trị lành mạnh làm nền tảng cho mọi quốc sách phát triển kinh tế, xã hội, ngoại giao và quốc phòng. Đây mới là vấn đề, là mặt trận quyết định vận mệnh của Tổ quốc. Thực tế ngày càng làm rõ, “dĩ bất biến ứng vạn biến” cho mọi tình huống là quan trọng hơn bao giờ hết – xây dựng nội trị lành mạnh là mặt trận chính yếu hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Đấy sẽ là bức trường thành bất khả xâm phạm bảo vệ Tổ quốc và là nền tảng xây dựng đất nước phồn vinh. Không thể ngồi chờ đợi và cũng sẽ không có chuyện một ngày đẹp trời Trung Quốc bỗng nhiên rút yêu sách “đường lưỡi bò”. Nhưng ngoại giao dấn thân và thái độ công khai minh bạch có thể huy động được dư luận trong nước và thế giới ngăn cản sự lấn tới của Trung Quốc, và trên cơ sở đó tiếp tục giữ được hòa bình trên Biển Đông, mở đường cho những triển vọng mới sau này. Đây còn là hướng đi cụ thể thúc đẩy quá trình hoàn thành Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), cũng như tiến tới các hiệp định về hòa bình và an ninh khu vực có tính ràng buộc pháp lý cụ thể và chặt chẽ hơn.

Các chuyên gia đều cho rằng, cái gốc của “sức mạnh mềm” suy cho cùng là sự đồng lòng, là kết tinh của sự đoàn kết thống nhất toàn dân tộc. Nhưng muốn có sự đồng lòng, phải biết bao dung, biết dung hòa những khác biệt để hợp sức cho mục tiêu chung là sự giàu mạnh, phát triển bền vững cho muôn đời con cháu mai sau của cộng đồng dân tộc. Một trong những thành tố của sức mạnh tổng hợp tạo nên “sức mạnh mềm” của quốc gia trong lĩnh vực nội trị được cha ông chúng ta sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử là sự khoan thư sức dân, lấy dân làm trọng, ý niệm mạnh mẽ về chính nghĩa của dân tộc. Với những điều đó, cha ông chúng ta đã phát huy và động viên được tất cả những tiềm năng, sự sáng tạo của mỗi thành viên trong cộng đồng trên mọi lĩnh vực từ kinh tế – xã hội đến quân sự – quốc phòng và văn hóa – nghệ thuật. Lịch sử cho thấy, thời đại nào nắm vững và thực hành nghiêm túc bài học nội trị như trên luôn là thời thịnh trị với minh quân, thế nước vững chắc cùng sự no ấm của muôn dân khiến cho bao nhiêu mưu toan xâm lược đều phải tiêu vong.

Trước những hành xử hung hăng của Trung Quốc trong âm mưu bá chiếm Biển Đông, áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp và phi khoa học, trong tư thế tự vệ chính nghĩa, chủ trương giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, chủ trương cùng hợp tác, ổn định và phát triển với các nước liên quan của Việt Nam đang thực sự chuyển hóa thành “sức mạnh mềm”. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang sở hữu một “sức mạnh mềm” từ lịch sử oai hùng, bất khuất được khắc ghi bởi những người con anh hùng của dân tộc, anh dũng hy sinh trong suốt chiều dài hàng mấy thế kỷ qua để thực thi chủ quyền thiêng liêng của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong đó mãi mãi khắc ghi hình ảnh những dân binh của các hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải từ thời các vua chúa nhà Nguyễn đến các binh sĩ Việt Nam Cộng hòa tử trận năm 1974 trong cuộc hải chiến Hoàng Sa, các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam kiên cường, bất khuất cùng nắm tay nhau thành “vòng tròn bất tử” coi nhẹ cái chết trong cuộc chiến bảo vệ Trường Sa năm 1988…

“Sức mạnh mềm” của Việt Nam cũng cần được hỗ trợ bởi truyền thông tích cực và kiên trì. Cần phải làm cho mỗi người Việt Nam trong và ngoài nước, cộng đồng thế giới, kể cả nhân dân Trung Quốc hiểu rõ sự thật lịch sử và cơ sở pháp lý quốc tế về chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; hiểu rõ về chủ trương “dĩ bất biến ứng vạn biến” kiên trì với chiến lược hòa bình của người Việt Nam trong việc giải quyết mọi tranh chấp quốc tế; kế thừa và thực hiện sáng tạo tư tưởng của cha ông “Đem đại nghĩa thắng hung tàn; Lấy chí nhân thay cường bạo” để “mở nền thái bình muôn thuở” không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn vì hòa bình, ổn định, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực cũng như trên toàn thế giới.

Nhóm PV Biển Đông
daidoanket.vn

[“Đường lưỡi bò” – Yêu sách hoang đường trên Biển Đông]
[“Sức mạnh mềm” của Việt Nam]
[“Đường lưỡi bò” trong mắt các chuyên gia quân sự]
[“Đường lưỡi bò” trong các diễn đàn quốc tế]
[Học giả Việt Nam chống lại sự áp đặt “đường lưỡi bò”]
[Lợi dụng nghiên cứu khoa học để áp đặt “đường lưỡi bò”]
[“Đường lưỡi bò” làm phức tạp tình hình Biển Đông]
[“Đường lưỡi bò” và âm mưu thống trị Biển Đông]
[Học giả Việt Nam phản bác “đường lưỡi bò”]
[Học giả quốc tế phản bác “đường lưỡi bò”]
[Học giả Trung Quốc mâu thuẫn về “đường lưỡi bò”]
[Nghịch lý giữa nói và làm về yêu sách “đường lưỡi bò”]
[“Đường lưỡi bò” đe dọa chủ quyền các quốc gia ven Biển Đông]
[“Đường lưỡi bò” xâm phạm các nguyên tắc hoà bình trên Biển Đông]
[Sự mơ hồ về pháp lý của “đường lưỡi bò”]
[Lập luận mâu thuẫn về lịch sử “đường lưỡi bò”]
[Lịch sử hoang đường của yêu sách “đường lưỡi bò”]

“Đường lưỡi bò” trong mắt các chuyên gia quân sự

Trong nỗ lực nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông, nhà phân tích địa – chiến lược Nicholas Spykman đã từng mô tả khu vực này như “Địa Trung Hải của châu Á”. Đồng thời lưu ý các tuyên bố chủ quyền bằng yêu sách “đường lưỡi bò” và sự quyết đoán gần đây của Trung Quốc đang làm căng thẳng vùng biển này. Mặc dù phần lớn sự chú ý tập trung vào sự thèm khát các nguồn tài nguyên thủy sản và năng lượng, nhưng theo quan điểm của các chuyên gia quân sự, vùng biển này là một phần trong chiến lược bá quyền nhằm gia tăng, mở rộng vùng kiểm soát bằng quân sự của Trung Quốc.

 Hàng không mẫu hạm Thi Lang (Varyag) của Trung Quốc
Ảnh: TL

“Trung Quốc vạch chiến lược để khống chế Biển Đông, chứ không phải dầu khí!”, đó là nhận định ngắn gọn, dứt khoát của Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Khoa học (Bộ Công an), về mục tiêu chiến lược thâm sâu trên Biển Đông của Trung Quốc. Theo Thiếu tướng Lê Văn Cương, ngay cả học giả Mỹ và châu Âu cũng chưa nêu bật được mục tiêu chiến lược này của Trung Quốc trên Biển Đông. Có tới 80-90% công trình nghiên cứu về Biển Đông của Mỹ và châu Âu đều nói rằng Trung Quốc muốn chiếm Biển Đông là vì dầu khí và tài nguyên thiên nhiên giàu có khác. Điều này chưa nói được đầy đủ về tầm mức chiến lược. Theo Thiếu tướng Lê Văn Cương, dầu khí ở Biển Đông trữ lượng không phải lớn, làm sao mà so được với vịnh Ba Tư và Trung Đông. Đúng là Trung Quốc cần dầu, nhưng mục tiêu khống chế Biển Đông mới là cao nhất. Khống chế được Biển Đông là khống chế được Nhật Bản, Hàn Quốc và tác động trực tiếp tới quan hệ chiến lược giữa Mỹ- Nhật Bản- Hàn Quốc, gọng kìm từ lâu đã xiết chặt Trung Quốc hướng ra đại dương.

Theo các chuyên gia quân sự, với diện tích rộng, độ sâu lớn, vị trí chiến lược hiểm yếu, Biển Đông có giá trị hết sức to lớn về mặt quân sự. Nhất là với một nước lớn đang trỗi dậy như Trung Quốc thì giá trị quân sự mà Biển Đông mang lại là không gì thay thế được. Giá trị này chủ yếu thể hiện trên 3 phương diện. Thứ nhất, Biển Đông là mặt trận quan trọng đối với tương lai phát triển lực lượng hàng không vũ trụ của Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang xây dựng Trung tâm phóng tên lửa hàng không Văn Xương trên đảo Hải Nam, nơi có vĩ độ thấp thuận lợi cho việc phóng tàu vũ trụ. Trong tương lai, đây sẽ là nơi Trung Quốc tiến hành phóng các loại tên lửa và các thiết bị hàng không phục vụ mục đích chinh phục vũ trụ. Việc tiến hành các hoạt động hàng không, trong đó có phóng tên lửa đẩy từ các đảo ngoài khơi có vĩ độ thấp đỏi hỏi phải có sự đảm bảo về mặt chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển. Hiện nay, các cơ sở nghiên cứu phát triển công nghệ hàng không vũ trụ và tên lửa đẩy của Trung Quốc hầu hết đều đặt tại những trung tâm khoa học-kỹ thuật lớn, nằm ven biển phía Đông như Thượng Hải và Thiên Tân, trong khi 3 căn cứ phóng tên lửa cũ là Tây Xương, Tửu Tuyền và Thái Nguyên đều nằm sâu trong lục địa, điều này khiến cho tên lửa sau khi được chế tạo xong phải vận chuyển một quãng đường khá dài bằng đường bộ để tới các căn cứ phóng. Nếu so sánh với vận tải bằng đường biển thì vận tải đường bộ gặp nhiều hạn chế hơn, do đó việc đặt Trung tâm phóng tên lửa Văn Xương trên đảo Hải Nam là đã cân nhắc đến yếu tố này.

Thứ hai, Biển Đông là địa bàn hoạt động cơ động và căn cứ trú ẩn ưu việt cho lực lượng hải quân hạt nhân của Trung Quốc trong tương lai. Quân đội Mỹ từ thế kỷ trước đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu công nghệ lazer rà quét tàu ngầm, với mục tiêu phát hiện các thiết bị lặn ở độ sâu 150m. Trong các vùng biển xung quanh Trung Quốc, Bột Hải có độ sâu trung bình chỉ 18m, Hoàng Hải có độ sâu trung bình là 44m, với độ sâu này thì thiết bị thăm dò nói trên hoàn toàn có thể kiểm soát toàn bộ. Đông Hải tuy có độ sâu đạt 370m, nhưng Mỹ – Nhật Bản đã bố trí tại đây những hệ thống rà quét tiên tiến, khả năng tàu ngầm Trung Quốc bị phát hiện là rất cao. Chỉ có Biển Đông với độ sâu trung bình đạt tới 1.212m mới là môi trường và địa điểm ưu việt để xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân. Hải quân Trung Quốc hiện nay chưa đủ năng lực để vươn ra kiểm soát vòng cung “chuỗi đảo thứ hai” và khu vực Ấn Độ Dương, do đó trong tình hình hiện nay thì Biển Đông là khu vực duy nhất để lực lượng tàu ngầm hạt nhân có thể tiến hành hoạt động tuần tra chiến lược.

Cuối cùng, Biển Đông là vùng biển lý tưởng nhất để hàng không mẫu hạm có thể thực hiện các hoạt động huấn luyện và diễn tập. Hiện nay, do nhiều nhân tố như chiến lược phát triển, trình độ khoa học-kỹ thuật, thực lực kinh tế… Hải quân Trung Quốc trên thực tế mới chỉ phát triển được tàu ngầm và các loại tàu chiến vừa và nhỏ. Để chủ động nắm ưu thế kiểm soát trên biển thì hàng không mẫu hạm là chỗ dựa đáng tin cậy, đồng thời cũng là phương tiện duy nhất hiện nay mang lại sự bảo đảm trên không cho hạm đội khi tác chiến tại các vùng biển xa. Với đặc điểm là loại tàu chiến mặt nước có kích thước và trọng tải lớn nhất, đồng thời kèm theo nó là biên đội khoảng 10 tàu các loại, hàng không mẫu hạm cần những vùng biển rộng lớn để tiến hành diễn tập và huấn luyện. Điều này là khó thực hiện tại những vùng biển nhỏ như Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải, mặt khác lại dễ gây phản ứng từ phía các nước xung quanh như Nhật Bản, Hàn Quốc. Chỉ có Biển Đông là khu vực lý tưởng cho hàng không mẫu hạm Trung Quốc, không chỉ bởi thực lực quân sự của các nước ven Biển Đông khá yếu mà thế lực của Mỹ tại đây cũng không lớn như tại khu vực Đông Bắc Á. Biển Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình vươn lên trở thành một cường quốc hải dương, cường quốc vũ trụ; là vùng biển chiến lược để Trung Quốc phát triển lực lượng hải quân biển xa.

Trung Quốc tuyên bố “chủ quyền không thể tranh cãi” với yêu sách “đường lưỡi bò” bao chiếm hầu hết Biển Đông về sâu xa là nhằm phục vụ cho các mục tiêu nói trên. Đồng thời với việc tuyên bố chủ quyền, nước này còn gia tăng các hành động kiểm soát trên thực tế tạo ra một thách thức nghiêm trọng tới tự do và an ninh hàng hải. Thái độ cứng rắn về vấn đề chủ quyền đã dẫn tới những chỉ trích gay gắt của Trung Quốc đối với các hoạt động trinh thám và kiểm soát thường xuyên trên không và trên biển của các máy bay và tàu quân sự Mỹ trong khu vực được cho là vùng trời và vùng biển của Trung Quốc. Các vụ điển hình là vụ xung đột EP3 vào tháng 4-2001 và vụ tàu sân bay USNS Impeccable vào tháng 3-2009. Chiến lược của Trung Quốc đối với Đông Nam Á có 4 động cơ. Đầu tiên, nước này muốn đảm bảo biên giới lãnh thổ của họ và đảm bảo an ninh nội địa; thứ hai, họ luôn mong muốn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế năng động; thứ ba, Trung Quốc luôn nỗ lực để đối trọng hoặc ít nhất cũng là để kiểm tra sức mạnh và ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực; và thứ tư, họ đang nỗ lực để trấn an các quốc gia láng giềng rằng Trung Quốc phát triển mạnh không có nghĩa là trở thành một mối đe doạ cho các quốc gia khác.

 Tàu chiến của hải quân Trung Quốc không ngừng
“diễu võ giương oai” trên Biển Đông

GS Carlyle A. Thayer, chuyên gia cao cấp của Học viện Quốc phòng Australia, phân tích những động thái của Trung Quốc trên Biển Đông trong thời gian qua cho thấy, kế hoạch chiến lược của Trung Quốc là xây dựng lực lượng hải quân để ngăn chặn hải quân Mỹ khỏi hoạt động trong cái gọi là “chuỗi đảo đầu tiên” xa bờ Đông từ Nhật Bản tới Indonesia. Chiến lược của Trung Quốc là phát triển lực lượng hải quân để bảo vệ các lợi ích thương mại và đường biển giao thương từ Trung Đông tới Trung Quốc thông qua Biển Đông. Trung Quốc ngày càng phụ thuộc vào các năng lượng nhập khẩu như dầu và gas. Vì thế, chiến lược của Trung Quốc còn là thiết lập càng nhiều quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên ở Biển Đông càng tốt. Điều này cũng có nghĩa là thiết lập quyền bá chủ với các đảo và các vùng biển trong “đường lưỡi bò”. Sự quyết đoán của Trung Quốc gần đây nhắm tới mục đích ngăn chặn Việt Nam và Philippines dừng khai thác các nguồn tài nguyên và ngăn hai nước thu hút các công ty nước ngoài khai thác dầu ở đây. Trong quan điểm của Trung Quốc, nếu họ không hành động bây giờ, yêu sách của họ với “chủ quyền không thể tranh cãi” ở Biển Đông sẽ bị xói mòn.

Vai trò trung tâm của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia nêu yêu sách, các mối liên kết giữa lợi ích của nước này ở Biển Đông và sự phát triển sức mạnh biển của Trung Quốc cũng như tổng thể tham vọng bá chủ khu vực của nước này đã khiến cho các tranh chấp trở nên quan trọng hơn là giá trị bề nổi hạn chế của một vài đảo, đảo đá và đá ngầm nhỏ và rải rác – hay thậm chí là tiềm năng tài nguyên năng lượng. Trung Quốc từ lâu đã lo ngại về sự hiện diện chiến lược của các cường quốc ở Đông Nam Á, những nước có thể sẽ khai thác những điểm yếu của Trung Quốc ở trên biển để gây áp lực lên Trung Quốc từ phía ngoại vi đường biển phía Nam của Trung Quốc. Do đó những tham vọng chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông bao gồm việc mở rộng phạm vi phòng thủ, ngăn chặn sự hiện diện của các cường quốc khác, chống lại các mối đe doạ đối với những lợi ích về lãnh thổ và hàng hải từ phía các quốc gia yêu sách khác, và cuối cùng là tìm kiếm các biện pháp kiểm soát trên biển ở khu vực để thực hiện tham vọng bá chủ của mình.

Hơn nữa, Trung Quốc cũng có lợi ích trong việc có khả năng kiểm soát các tuyến đường biển ở Đông Á, vừa để bảo đảm nguồn cung cấp dầu và cũng là để đe dọa con đường kinh tế huyết mạch của Đài Loan và Nhật Bản nếu cần thiết. Một sự hiện diện chiến lược thường trực ở Biển Đông, đặc biệt là nếu Trung Quốc có thể cưỡng chế thành công các yêu sách lãnh thổ của mình, rất có thể sẽ tạo điều kiện để nước này thực hiện những mục tiêu trên trong tương lai. Việc xây dựng các căn cứ, bắc giàn và trạm tuần tra dọc các tuyến biển quan trọng đã được gọi là chiến lược “chuỗi hạt trai”. Một dãy các cảng, căn cứ, và trạm kéo dài từ cửa Vịnh Ba Tư vào đến Biển Đông đã cấu thành “chuỗi hạt trai” này. Trong suốt hơn ba thập kỷ, Trung Quốc đã từng bước xây dựng các căn cứ quân sự của mình trên khắp Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong những năm gần đây, nước này đã tăng cường đáng kể các căn cứ quân sự, đặc biệt là trên đảo Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam).

Trong một thời gian, có vẻ như Trung Quốc đã kiềm chế sự cương quyết của mình ở Biển Đông, mà thay vào đó lựa chọn cách tiếp cận hòa giải (hay còn gọi là “chiến dịch quyến rũ”) về hội nhập ngoại giao và kinh tế với các nước láng giềng Đông Nam Á. Tuy nhiên, họ đã mau chóng quay trở lại với kiểu cách cũ và thể hiện một đường lối cương quyết – và thậm chí là mạnh mẽ hơn trong vài năm gần đây. Trung Quốc đang ngày càng gia tăng áp lực với các quốc gia khác có yêu sách ở Biển Đông và “không nghênh đón” các lực lượng nước ngoài như Mỹ một cách có hệ thống. Áp lực này, cho đến lúc đó chủ yếu vẫn là trên phương diện chính trị và kinh tế, đang ngày càng trở nên quân sự hóa. Dường như đang có những nỗ lực phối hợp nhằm tăng cường vị thế chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông, quay trở lại xu hướng của những năm 1970, nhưng đã được bổ sung bởi các nguồn lực và tiềm lực quân sự lớn hơn.

Tại Diễn đàn An ninh ASEAN tháng 7-2010 (ARF-17), Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton vẫn khẳng định quan điểm của Mỹ trong bình luận trước truyền thông. Bà tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia trong việc duy trì tự do lưu thông, tự do đi vào vùng biển chung của châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế tại Biển Đông” và giải quyết tranh chấp Biển Đông “quyết định tới ổn định khu vực”. Sự khẳng định của Ngoại trưởng Hillry Clinton được cho là đã khiến các đồng nghiệp Trung Quốc bị bất ngờ. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì cáo buộc Mỹ đang tiến hành âm mưu chống lại Trung Quốc. Sau khi nói bóng gió đến Việt Nam, ông Dương Khiết Trì nhằm thẳng vào Bộ trưởng Ngoại giao Singapore George Yeo và tuyên bố: “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là nước nhỏ, đó đúng là một thực tế”. Ngay sau đó Trung Quốc tiếp tục chứng tỏ sự quyết liệt hơn về quân sự, Ngày 2-11-2010, PLA tổ chức cuộc tập trận hải quân quy mô lớn lần thứ 4 tại Biển Đông trong cùng năm đó. Cộng lại, 4 cuộc tập trận trong năm 2010 của PLA là minh chứng cho thấy Trung Quốc đang nhanh chóng phát triển năng lực duy trì các cuộc triển khai hải quân rộng hơn ra ngoài khơi Biển Đông.

Nhóm PV Biển Đông
daidoanket.vn

“Đường lưỡi bò” trong các diễn đàn quốc tế

Bằng các tuyên bố và hành động thực tiễn mang tính gây hấn, nhiều năm qua Trung Quốc đang ra sức áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò”, mặc nhiên cho rằng cộng đồng quốc tế đã thừa nhận “chủ quyền lịch sử lâu đời” của họ trên Biển Đông. Sự thật là, yêu sách “đường lưỡi bò” bao chiếm gần trọn Biển Đông của Trung Quốc trong các diễn đàn quốc tế luôn bị phản đối vì xuyên tạc lịch sử, không có cơ sở pháp lý, vi phạm các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, xâm phạm chủ quyền, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều quốc gia ven Biển Đông.

 Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu
tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) 1951
tuyên bố chủ quyền lâu đời của Việt Nam
tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Để làm sáng tỏ tuyên bố của Trung Quốc rằng họ có “chủ quyền lâu đời” trên 80% diện tích Biển Đông, trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, từ lâu các học giả quốc tế và Việt Nam đã chỉ ra rằng: Một là, chính sử Trung Quốc từ Tiền Hán cho đến cuối đời nhà Thanh đều cho thấy điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam; Hai là, không có ghi chép nào trong các bộ chính sử Trung Quốc về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà người Trung Quốc gọi là “Tây Sa” và “Nam Sa”, càng không có bất kỳ ghi chép nào nhắc đến chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này ở Biển Đông. Thế nhưng mới đây, một quan chức ngoại giao Trung Quốc lại tiếp tục cho rằng nước này đã “thu hồi” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ tay quân đội Nhật Bản kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai để chứng tỏ “chủ quyền liên tục” của Trung Quốc trên vùng biển này. Sự thật lịch sử ghi nhận trong các diễn đàn quốc tế quan trọng trong và sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai không hề có chuyện thế giới thừa nhận “chủ quyền lịch sử” của Trung Quốc trên hầu hết Biển Đông. Cụ thể là, từ ngày 23 đến ngày 27-11-1943, người đứng đầu nước Mỹ là Tổng thống Franklin D. Roosevelt, nước Anh là Thủ tướng Winston L. Spencer Churchill và Trung Hoa Dân quốc là Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã họp tại Cairo (Ai Cập) để thảo luận về việc kết thúc chiến tranh với Nhật Bản và giải quyết các vấn đề sau chiến tranh, trong đó có vấn đề lãnh thổ nước bị Nhật Bản cướp đoạt và chiếm đóng. Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Cairo ngày 26-11-1943. Khi đề cập đến những lãnh thổ mà Nhật Bản đã cướp đoạt và chiếm của các nước khác, Tuyên bố viết: “Mục đích của ba nước (tức là Mỹ, Anh và Trung Hoa Dân quốc) là phải tước bỏ quyền của Nhật Bản trên tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà nước này đã cưỡng đoạt hay chiếm đóng từ đầu Chiến tranh thế giới lần thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ mà Nhật Bản đã cướp của người Trung Quốc như Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ phải được hoàn trả lại cho Trung Hoa Dân quốc. Nhật Bản cũng phải bị trục xuất khỏi các lãnh thổ khác mà nước này chiếm được bằng vũ lực và lòng tham”.

Như vậy, Tuyên bố Cairo khẳng định Nhật Bản chỉ chiếm của Trung Quốc Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ và buộc Nhật Bản phải trả cho Trung Quốc những vùng lãnh thổ này. Tuyên bố không coi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Trung Quốc bị Nhật Bản xâm chiếm, và vì vậy, không nói gì đến việc trao trả lại cho Trung Quốc. Nếu hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng là lãnh thổ của Trung Quốc từ lâu đời và bị Pháp, Nhật Bản xâm chiếm một cách phi pháp thì không có lý gì tại Hội nghị này Trung Hoa Dân quốc không đòi lại chủ quyền đối với hai quần đảo này khi họ là một trong các nước Đồng minh soạn thảo ra văn kiện trên. Sự im lặng của Trung Hoa Dân quốc, là một bên có thẩm quyền quyết định các vấn đề lãnh thổ tại Hội nghị Cairo, không thể giải thích bằng cách nào khác hơn là chính họ cũng đã biết rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc. Đây là một sự kiện có ý nghĩa pháp lý quan trọng, nhưng sau đó đã bị Trung Quốc cố ý lờ đi để thay đổi lập trường, coi hai quần đảo này là của Trung Quốc.

Từ ngày 17-7 đến ngày 2-8-1945, những người đứng đầu ba nước Trung Hoa Dân quốc, Mỹ và Anh lại nhóm họp tại Potsdam (Đức). Ngày 26-7-1945, Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Potsdam. Về việc giải quyết những vùng lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của các nước, Tuyên bố Potsdam chỉ quy định đơn giản là: “Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thi hành” (tức là Nhật Bản phải trả lại cho Trung Quốc: Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ, là những vùng lãnh thổ của Trung Quốc đã bị Nhật Bản chiếm đoạt trước kia). Như vậy, không có một nội dung nào trong Tuyên bố Potsdam coi hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc bị Nhật Bản chiếm và phải trả lại cho Trung Quốc.

Hội nghị San Francisco từ ngày 4 đến ngày 8-9-1951 tại San Francisco (Hoa Kỳ) thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á – Thái Bình Dương và bàn việc ký Hoà ước với Nhật Bản. Trong phiên họp ngày 5-9-1951, trên cơ sở cho rằng các đảo ở Biển Đông thuộc “lãnh thổ không thể nhân nhượng được” của Trung Quốc, đại biểu của Liên Xô, ông Andrei Gromưko, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, đề nghị bổ sung dự thảo Hiệp ước hoà bình với Nhật Bản, theo đó: công nhận chủ quyền của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên “các đảo Paracels và các đảo khác vượt quá về phía Nam”, coi đó là lãnh thổ không thể nhân nhượng được của Trung Quốc. Đại diện của Liên Xô không đưa ra được một bằng chứng pháp lý nào khẳng định quần đảo Paracel và Spratly (Hoàng Sa và Trường Sa) là của Trung Quốc. Hội nghị đã bỏ phiếu về việc có đưa đề nghị bổ sung này ra bàn bạc hay không. Kết quả bỏ phiếu là: chỉ có 3 nước đồng ý đưa đề nghị bổ sung trên ra bàn bạc; một nước bỏ phiếu trắng, 47 nước bỏ phiếu chống. Điều đó cho thấy tuyệt đại đa số các nước tham gia Hội nghị không chấp nhận giao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, không coi đó là lãnh thổ Trung Quốc, không công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại Hội nghị San Francisco, với tư cách là thành viên của khối Liên hiệp Pháp, Trưởng đoàn đại biểu Chính phủ Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Trần Văn Hữu, đã long trọng tuyên bố trước đại biểu của 51 nước tham gia Hội nghị rằng: “Cũng vì cần phải dứt khoát lợi dụng mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, những quần đảo này luôn luôn thuộc về Việt Nam”. Tuyên bố này không gặp phải sự bảo lưu hay phản đối nào của đại diện các nước tham dự Hội nghị. Đây là một biểu hiện chứng tỏ sự thừa nhận của các nước Đồng minh về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

 Diễn đàn An ninh Khu vực ASEAN lần thứ 17
tại Hà Nội ngày 23-7-2010

Hội nghị Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 17 tổ chức tại Hà Nội ngày 23-7-2010 trong Tuyên bố của Chủ tịch Hội nghị, các Ngoại trưởng thành viên ARF một lần nữa đã nhấn mạnh “tầm quan trọng của việc giữ gìn hòa bình và ổn định ở Biển Đông”, trên cơ sở thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC) và Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc (UNCLOS). Tại Hội nghị, đã có hơn một nửa trong tổng số 27 nước thành viên ARF, bao gồm cả các nước ASEAN lẫn các nước bên ngoài ASEAN, đề cập đến vấn đề hòa bình và ổn định ở Biển Đông trong phát biểu của mình, cho thấy sự quan tâm rộng rãi của cộng đồng quốc tế đến vấn đề an ninh thiết thực này của khu vực. Trên thực tế, vấn đề Biển Đông luôn luôn là vấn đề ưu tiên, nổi trội trong chương trình nghị sự của ARF từ khi thành lập Diễn đàn cho đến nay. Hầu hết các quốc gia tham dự Diễn đàn đều cho rằng, trong thời gian gần đây có một số diễn biến phức tạp có thể làm tổn hại đến an ninh khu vực, điển hình là sự kiện Trung Quốc công khai hóa yêu sách “đường lưỡi bò” trên Biển Đông, ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là “vùng nước lịch sử” xếp vào hạng “lợi ích cốt lõi” của quốc gia này, cùng một loạt các hoạt động thiếu kiềm chế khác như bắt giữ ngư dân một số nước ASEAN và gây sức ép với các công ty dầu khí nước ngoài hoạt động trên Biển Đông.

Hội thảo quốc tế “Triển vọng hợp tác, những vấn đề hội tụ và động lực ở Biển Đông” tại Jakarta (Indonesia) kết thúc chiều 31-5-2011 đã ra Tuyên bố Jakarta. Tuyên bố khẳng định việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lãnh hải với bản đồ “đường lưỡi bò” chiếm tới 80% diện tích Biển Đông là không phù hợp và đã bị cộng đồng quốc tế chỉ trích. Tại Hội nghị lần thứ 21 các quốc gia thành viên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) diễn ra từ ngày 13 – 17-6, tại New York (Hoa Kỳ), đề cập đến việc Trung Quốc đã liên tục phá hoại hoạt động khảo sát bình thường do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Lê Lương Minh khẳng định đây là những hành vi có chủ ý, được tính toán kỹ, nhằm mục đích biến các vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam thành khu vực tranh chấp, xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm các quy định và nguyên tắc cơ bản của Công ước. Đồng thời, Trưởng đoàn Việt Nam cũng bác bỏ yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc ở Biển Đông, khẳng định đường yêu sách này hoàn toàn không có bất cứ cơ sở pháp lý quốc tế nào, đặc biệt là theo Công ước Luật Biển. Tại Hội nghị, Trưởng đoàn Philippines, ông Henry Bensurto nói: “Các quy tắc của pháp luật là nền tảng của hòa bình, trật tự, và công bằng trong xã hội hiện đại. Tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế là cách bảo vệ hòa bình và giải quyết xung đột”. Ông cũng lên án việc gia tăng các xung đột gần đây trên Biển Đông, thậm chí là xung đột tại vùng biển và thềm lục địa trong phạm vi chủ quyền và quyền tài phán của Philippines. Philippines cũng phản đối việc Trung Quốc mở rộng khái niệm về khu vực tranh chấp trên Biển Đông bằng “đường lưỡi bò”.

Tại Diễn đàn an ninh ASEAN ở Bali, Indonesia vào sáng ngày 23-7-2011, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố một số nước đã đưa ra những đòi hỏi chủ quyền thiếu căn cứ pháp lý và kêu gọi các nước đòi chủ quyền trên Biển Đông phải đưa ra các bằng chứng hợp pháp và cụ thể. Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh: “Chúng tôi kêu gọi các bên làm rõ các tuyên bố chủ quyền của mình tại Biển Đông theo các điều khoản phù hợp với luật pháp quốc tế đã được thừa nhận, trong đó có những điều khoản được nêu trong Công ước Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc. Phù hợp với luật pháp quốc tế, những tuyên bố chủ quyền về vùng biển tại Biển Đông phải dựa trên những tuyên bố hợp pháp đối với lãnh thổ”. Theo các nhà bình luận quốc tế thì tuyên bố này của Mỹ được xem như một thông điệp phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” vô lý và hoang đường của Trung Quốc trên Biển Đông. Cũng tại Hội nghị này, Ngoại trưởng Philippines Albert F.Del Rosaria khẳng định: “Philippines chắc chắn rằng “đường lưỡi bò” của Trung Quốc không có giá trị gì theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là theo Công ước Luật Biển 1982 của Liên Hợp Quốc”. Ngoại trưởng Indonesia Marty cũng khẳng định Indonesia từ trước tới nay vẫn phản đối “đường lưỡi bò” do Trung Quốc tự vẽ ra và Indonesia đã đệ trình quan điểm phản đối của mình lên Liên Hợp Quốc.

Cao điểm của các sự kiện liên quan đến Biển Đông gần đây là việc vấn đề Biển Đông được nêu ra trước diễn đàn Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á vào ngày 19-11-2011 tại Bali (Indonesia). Mặc dầu có sự phản đối của Trung Quốc, 15 nước không những đồng ý đem vấn đề Biển Đông ra thảo luận, mà còn đi đến kết luận là tranh chấp phải được giải quyết một cách hoà bình, tôn trọng luật quốc tế, nguyên tắc tự do hàng hải phải được bảo vệ. Lý do chính dẫn đến việc đồng tình này là vì có thể nói là trong vài năm qua, và đặc biệt là trong năm 2011, Trung Quốc ngày càng có thái độ hung hăng, không những đối với những nước có quyền lợi trực tiếp lớn nhất trong khu vực Biển Đông như Việt Nam hay Philippines, mà còn đe dọa an ninh của các nước khác trong và ngoài khu vực… Hầu hết các quốc gia đều gián tiếp hay trực tiếp phản bác yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc và khẳng định rằng đó là yêu sách vi phạm luật pháp quốc tế và cần phải được dẹp bỏ.

Nhóm PV Biển Đông
daidoanket.vn

Học giả Việt Nam chống lại sự áp đặt “đường lưỡi bò”

Những năm gần đây hiện tượng học giả Trung Quốc chèn bản đồ “đường lưỡi bò” phi pháp và phi khoa học vào các bài viết trên các ấn phẩm khoa học quốc tế ngày càng trở nên phổ biến. Âm mưu này của họ đã bị cộng đồng người Việt Nam khắp nơi trên thế giới, mà đặc biệt là các nhà khoa học người Việt Nam, vạch trần và phản đối quyết liệt, mang lại những thắng lợi đầy ấn tượng trong giới khoa học quốc tế.

 Bản đồ có “đường lưỡi bò” trên tạp chí EESJ
chèn theo bài báo không có nội dung liên quan của học giả Trung Quốc
Ảnh: T.L

TS Trần Ngọc Dũng (Canada) cho biết, vào ngày 29-10-2011, ông và một số học giả Việt Nam tại Canada đã gửi thư đến Ban biên tập Tạp chí Environmental Earth Sciences Journal (EESJ) để phản đối việc “đường lưỡi bò” xuất hiện dày đặc trên tạp chí này. Sau khi nhận được thư của nhóm học giả Việt Nam tại Canada, Tổng biên tập EESJ là GS James W. La Moreaux đã hứa sẽ xem xét kỹ vấn đề này. Tiếp đó, TS Trần Ngọc Dũng bình luận: “EESJ là tạp chí được nhiều nhà nghiên cứu lựa chọn để công bố những công trình cho một khu vực địa lý nhất định với nội dung bao trùm mọi lĩnh vực về tương tác lẫn nhau giữa con người và môi trường địa lý. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn đang đối mặt nhiều vấn đề môi trường phát sinh từ tăng trưởng kinh tế nóng. Thực trạng này là đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nên các bài viết về nước này xuất hiện khá nhiều trên EESJ và “đường lưỡi bò” có cơ hội “ăn theo”. Tuy nhiên, trong tháng 11-2011 không thấy xuất hiện “đường lưỡi bò” trong Tạp chí này nữa. Có thể vì ban biên tập đã kiểm soát chặt hơn sau khi nhận được bài bác bỏ của chúng tôi”.

Trong năm 2011, trước việc phiên bản tiếng Hoa bản đồ thể hiện yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc tại Biển Đông đăng trên Google, nhóm các nhà khoa học Việt Nam trong và ngoài nước đã gửi thư phản đối tới Ban lãnh đạo Google. Nội dung bức thư nêu rõ: “Đường lưỡi bò” đang bị không chỉ các nước trong vùng Đông Nam Á mà còn bị hầu hết các nước trên thế giới phản đối liên tục. Các nhà khoa học cảnh báo tấm bản đồ có chèn thêm “đường lưỡi bò” vào những bài viết của tác giả người Trung Quốc là việc làm phi khoa học. Các nhà khoa học phản đối việc này và đề nghị Google xóa bỏ bản đồ “đường lưỡi bò” phi lý và phi pháp này trên trang bản đồ của mình.

“Đường lưỡi bò” nếu tiếp tục tồn tại trên Google Maps càng lâu, càng làm tổn hại thêm nữa đến sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Phillipines và các nước khác trong vùng Đông Nam Á” – bức thư nhấn mạnh. Đây không phải là lần đầu tiên Google có những sai sót liên quan tới đường biên giới lãnh thổ của Việt Nam. Vào tháng 3-2010, bản đồ trực tuyến Google Maps vẽ sai lệch đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ngày 19-4-2011, Tạp chí khoa học quốc tế Quản lý chất thải (Journal of Waste Management- Italy) đã đăng tải một bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc (Jun Tai, Weiqian Zhang, Yue Che và Di Feng – công tác tại Phòng Nghiên cứu trọng điểm Thượng Hải về đô thị hóa và khôi phục sinh thái, Đại học East China Normal và Viện Nghiên cứu thiết kế kỹ thuật môi trường Thượng Hải, Trung Quốc) với tiêu đề: “Thu gom phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn ở Trung Quốc: Một phân tích so sánh” (Municipal solid waste source-separated collection in China: A comparative analysis). Trong bài báo này các tác giả Trung Quốc đã chú thích sai sự thật về bản đồ Trung Quốc có liên quan đến chủ quyền Việt Nam. Theo đó, các tác giả Trung Quốc đã sử dụng một ảnh minh họa thể hiện rõ “đường lưỡi bò” vẫn được Trung Quốc dùng để tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Bài báo thực chất chỉ để một số thành phố trong khu vực nghiên cứu thử nghiệm của Trung Quốc nhưng lại chèn bản đồ “đường lưỡi bò” chẳng liên quan gì tới nội dung.

Động thái này của các học giả Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm và phản ứng mạnh mẽ của các học giả Việt Nam. TS Tô Văn Trường, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam cho biết: “Theo các đồng nghiệp ở nước ngoài thì từ trước đến nay, Tạp chí này cũng đã đăng nhiều bài báo của các tác giả người Trung Quốc có bản đồ Trung Quốc nhưng chưa bao giờ có “đường lưỡi bò” như lần này”. Ông nói: “Rõ ràng đây là bước đi có chủ ý của Trung Quốc lấn dần từng bước với mục đích tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế”. TS. Trường đề nghị: “Đây là tạp chí quốc tế về chất thải rắn có tiếng trên thế giới có tác động rất lớn đến cộng đồng khoa học, cho nên phía Việt Nam cần phải lên tiếng mạnh mẽ phản đối Trung Quốc. Không chỉ có các nhà khoa học Việt Nam mà các hiệp hội khoa học, các tổ chức xã hội kể cả các tạp chí khoa học chuyên ngành của nước ta cần phải lên tiếng về “sự cố” do Trung Quốc gây ra. Đây rõ ràng là một kênh thông tin rất cần các chuyên gia Việt Nam phản ứng nhanh và có hiệu quả”.

Sau khi phát hiện bài báo “China’s Demographic History and Future Challenges”, do tác giả người Trung Quốc Xizhe Peng đăng trên Tạp chí Science, số 29-7-2011, trong đó tác giả đã công bố bản đồ “đường lưỡi bò” thì nhiều học giả gốc Việt trên thế giới đã rất bất bình, nhất là trên tờ Science – một tạp chí khoa học rất có uy tín trên giới học thuật quốc tế, có lượng độc giả rất cao. Một thư phản kháng đã được soạn thảo và trong thời gian ngắn đã có 57 chuyên gia trí thức ở trong và ngoài nước đồng ký tên (hiện nay đã lên đến hơn 180 chữ ký). Ngày 21-8-2011 đại diện nhóm các học giả gốc Việt đã gửi thư này đến TS Alan I. Leshner, nhà xuất bản và TS Bruce Alberts, Tổng Biên tập Tạp chí Science. Nhận thấy có những tạp chí khác như tờ Nature đã có đăng những bản đồ tương tự, các nhà khoa học Việt Nam đã quyết định dịch bản tiếng Anh, ra tiếng Pháp và gửi đến rất nhiều tạp chí khoa học khác trên thế giới. Cho tới nay đã có trên một trăm tờ báo, tạp chí khoa học quốc tế nhận được văn thư có 57 chữ ký ban đầu của nhóm các nhà khoa học Việt Nam nói trên. Thư có nội dung chính như sau: “Chúng tôi là một số giáo chức và chuyên viên kỹ thuật đang sống tại nhiều nơi trên thế giới. Chúng tôi xin cảnh báo với nhà xuất bản về sự thiên vị thể hiện rõ trong hình vẽ bản đồ nước Trung Quốc trong bài viết của những nhà khoa bản và chuyên viên Trung Quốc gửi đăng trên các tạp chí uy tín như Science, Nature, Climate Change, Agricultural Water Management, Waste Management, đây chỉ nêu ra một vài thí dụ. Trò ảo thuật liên quan đến việc bao gồm những vùng biển và đảo đang tranh chấp phía đông của Việt Nam song song với việc loại bỏ những quốc gia láng giềng của Trung Quốc như Việt Nam, Malaysia, Brunei, Indonesia, Philippines trong bản đồ vẽ tay nước Trung Quốc xuất hiện trong những bài viết của họ. Đây là một phần của nhiều hành động đầy tính toán của Trung Quốc để hợp thức hóa những tranh giành lãnh thổ của họ. Trong vài năm qua, Trung Quốc đã đơn phương giành chủ quyền trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông Nam Á, tự xưng là “vùng biển lịch sử” của Trung Quốc. Vùng biển này, diện tích khoảng 350,000km2, bao trùm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vẫn còn đang trong vòng tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunie, Đài Loan, và gần đây là Trung Quốc (nước đang chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và một số đảo phía Tây Trường Sa của Việt Nam sau hai trận hải chiến đẫm máu năm 1974 và năm 1988). Chèn vào một bản đồ Trung Quốc vẽ tay ngụy tạo bao gồm toàn bộ Biển Đông trong những bài nghiên cứu có xuất xứ từ Trung Quốc nhắm vào các tạp chí khoa học và các tạp chí khác có tiếng trên thế giới là một trong những âm mưu thâm độc của Nhà nước Trung Quốc. Chính quyền Trung Quốc hy vọng với sự thường xuyên xuất hiện bản đồ Trung Quốc gồm đường biên giới lưỡi bò sai trái này trên các tạp chí nổi tiếng và có nhiều tín nhiệm trên thế giới và không bị phê phán, phản đối từ các ban biên tập và độc giả thì họ dùng đó làm bằng chứng không chính danh cho chủ quyền trên toàn vùng Biển Đông”.

Tri thức Việt Nam đã thu được những thắng lợi quan trọng từ cuộc đấu tranh không khoan nhượng chống lại việc lợi dụng khoa học để áp đặt “đường lưỡi bò”. Một thắng lợi làm chấn động cả cộng đồng khoa học quốc tế là Tạp chí lừng danh Nature đã lên án hành động lấp liếm và phản khoa học cuả các học giả Trung Quốc về vấn đề trên đồng thời tuyên bố “sẽ không có chỗ cho đường lưỡi bò” trên Tạp chí này. Một tạp chí lừng danh khác là Science bị phản đối và cũng đã nhận thức được tính phi pháp của “đường lưỡi bò”. Tạp chí Science cũng đã ra “tuyên bố về vấn đề này”. Mới đây, tạp chí khoa học số một thế giới Nature trong số ra ngày 20-10-2011 đã đăng hai bài viết liên quan đến Biển Đông: bài xã luận “Uncharterd Territory” (Lãnh thổ không được công nhận) và một bài khác có tựa đề “Angry words over East Asia Seas” (Những câu chữ tức giận trên Biển Đông) của phóng viên David Cyranoski phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của tạp chí này. Hai bài viết thể hiện thái độ phản đối cũng như vạch trần âm mưu của Trung Quốc trong việc lợi dụng khoa học để phục vụ mục đích chính trị của mình, cụ thể trong trường hợp này là nhằm hợp lí hóa bản đồ “đường lưỡi bò” do chính quyền nước này đưa ra trước đó.

 Trang web của tạp chí lừng danh Nature
và bài báo “Những câu chữ tức giận trên Biển Đông”
vạch trần âm mưu lợi dụng khoa học
để áp đặt “đường lưỡi bò” của Trung Quốc

Đây có thể nói là một thắng lợi cực kỳ quan trọng của tri thức Việt Nam trong quá trình đấu tranh xóa “đường lưỡi bò” của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu. Đây cũng là một sự phản ứng kịp thời của tri thức Việt Nam với các “học giả lưỡi bò”, tác giả của các bài báo khoa học có chèn “đường lưỡi bò” phi lý, phi pháp của Trung Quốc. Động thái này chứng tỏ rằng Science đã bị thuyết phục bởi các tri thức Việt Nam, buộc họ phải tôn trọng tính chân thật trong khoa học và phải giữ cho môi trường xuất bản các ấn phẩm khoa học không bị hoen ố bởi những mục tiêu chính trị. Việc Science cho đăng bức thư trên ngay sau bài báo của học giả Trung Quốc có chèn “đường lưỡi bò” trên Science càng làm cho các “học giả lưỡi bò” của Trung Quốc thêm mất uy tín. Họ sẽ phải tự suy nghĩ lại, tiếp tục ôm mộng “đường lưỡi bò” phi lý, phi pháp và chịu sự phê phán của cộng đồng khoa học quốc tế, hay từ bỏ hành động chèn “đường lưỡi bò” vào các ấn phẩm khoa học. Như vậy đến thời điểm này, hai tạp chí vào hàng bậc nhất thế giới trong khoa học, Nature và Science, đã tỏ rõ thái độ không chấp nhận đối với “đường lưỡi bò” phi pháp của Trung Quốc. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các tạp chí khác có quyền tẩy chay các bài báo có “đường lưỡi bò”, bởi một tạp chí khoa học nghiêm túc không bao giờ chấp nhận bị lợi dụng bởi những mục tiêu chính trị và không bao giờ muốn những ấn phẩm của họ bị phản đối.

Theo đánh giá của một số nhà khoa học, xét trong một chừng mực nào đó, việc gửi bản đồ có yêu sách “đường lưỡi bò” đến các tạp chí khoa học không đơn giản là một chiến thuật mới mà là hệ quả tất nhiên từ chính sách có tính toán của Trung Quốc. Trước hết, những điều Trung Quốc làm là nhằm bình thường hóa “đường lưỡi bò”, vốn là một thứ bất thường và vô lý, trong nhận thức của thế giới. Trung Quốc sẽ nói rằng những ấn phẩm khoa học với “đường lưỡi bò” là những sự công nhận của thế giới, và nói rằng sự không phản đối là sự thừa nhận. Chiến lược của Trung Quốc là chiếm Biển Đông bằng sự kiểm soát trên thực tế, và quảng bá “đường lưỡi bò” sẽ góp phần tạo ấn tượng là Trung Quốc có kiểm soát trên thực tế.

TS Dương Danh Huy (Anh) khuyến nghị Việt Nam cần phải chủ động hơn nữa trong việc phòng chống sự lợi dụng khoa học để áp đặt “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Theo đó, chúng ta phải xây dựng cơ sở hạ tầng để “phòng cháy”, “phát hiện”, và “chữa cháy”. “Phát hiện” thì chúng ta có gần 100 triệu người Việt trong nước và ở nước ngoài. Sau khi “phát hiện” thì cách “chữa cháy” hiệu nghiệm nhất là một cơ quan có thẩm quyền nhà nước viết thư yêu cầu chỉnh sửa những thông tin sai trái. Song song với yêu cầu chỉnh sửa, cơ quan có thẩm quyền nhà nước đó phải “phòng cháy” bằng cách lưu ý đối tượng về rủi ro liên quan tới thông tin sai trái, và nguyên tắc để xử lý. Cơ sở hạ tầng cho những việc trên chỉ cần một website hay địa chỉ email và một vài nhân viên làm việc bán thời gian cho cơ quan có thẩm quyền nhà nước để yêu cầu chỉnh sửa những thông tin sai trái. Ngoài ra, chúng ta phải “phòng cháy” rộng rãi hơn bằng cách nâng cao ý thức và kiến thức về Hoàng Sa, Trường Sa, về tranh chấp Biển Đông và nêu cao ngọn cờ chính nghĩa của Việt Nam trong vấn đề này. Với công luận thế giới GS Nguyễn Đăng Hưng (Đại học Liege, Bỉ) khẳng định: “Khi chúng ta có chính nghĩa, khi chúng ta nắm vững luật pháp quốc tế, tính khách quan vô tư của khoa học, ta sẽ đi đến chiến thắng dù đối phương có thế lực đến đâu chăng nữa”.

Nhóm PV Biển Đông
daidoanket.vn

Lợi dụng nghiên cứu khoa học để áp đặt “đường lưỡi bò”

“Xung đột trên biển. Tranh chấp biên giới. Đó không phải là những địa hạt thông thường của khoa học. Nhưng các nhà nghiên cứu và tập san khoa học đang bị giật kéo vào những tranh cãi nẩy lửa giữa Trung Quốc và các nước láng giềng. Những cuộc đối đầu liên quan tới những con tàu nghiên cứu đang làm tình hình căng thẳng hơn khi Chính phủ Trung Quốc bị tố cáo là đã sử dụng các ấn phẩm khoa học để đẩy mạnh những yêu sách đầy tham vọng của họ về lãnh thổ” – nhà báo David Cyranoski của Tạp chí Nature lừng danh đã nhận xét như vậy trên chính tạp chí này ngày 20-10-2011, ngay sau khi Nature bị giới khoa học quốc tế phản đối quyết liệt vì đã cho công bố một bản đồ “đường lưỡi bò” trong bài viết của học giả Trung Quốc trước đó.

 Bản đồ có “đường lưỡi bò” do Trung Quốc
tự ý vẽ ra được đăng trên Nature thể hiện yêu sách phi lývề chủ quyền trên Biển Đông của nước này
trùm lên hết vùng biển của các nước trong khu vực.

Các nhà phân tích quốc tế có lý do khi cho rằng giới khoa học Trung Quốc cố ý gửi một thông điệp ra thế giới về việc Trung Quốc “đã làm chủ và có chủ quyền không thể tranh cãi” với “vùng nước lịch sử” mà họ tự ý vẽ thành “đường lưỡi bò” bao chiếm 80% diện tích Biển Đông. Họ đã không ngần ngại lợi dụng công tác nghiên cứu và các ấn phẩm khoa học quốc tế để từng bước áp đặt quan niệm này, xem như chuyện đã rồi, dùng các bản đồ “đường lưỡi bò” trên các ấn phẩm khoa học để phục vụ mưu đồ bành trướng lãnh thổ trên Biển Đông. Bản đồ “đường lưỡi bò” là một yêu sách về chủ quyền cực kỳ phi lý, phi lịch sử của Trung Quốc không được bất cứ quốc gia hay tổ chức nào trên thế giới thừa nhận, nhưng các học giả Trung Quốc vẫn ra sức phổ biến nó trên các diễn đàn khoa học quốc tế một cách hết sức khiên cưỡng. Mặc dù bản đồ “đường lưỡi bò” đã xuất hiện trong các ấn phẩm tiếng Trung Quốc khá lâu, nhưng sự xuất hiện của bản đồ phi lý này trên các ấn phẩm quốc tế thì chỉ mới bắt đầu trong những năm gần đây đáng quan ngại là mật độ xuất hiện ngày một dày hơn. Kể từ năm 2007 tới nay, các nhà khoa học đã phát hiện ít nhất 10 bài báo của các học giả Trung Quốc có chèn bản đồ “đường lưỡi bò” trên các ấn phẩm khoa học quốc tế. Những tập san khoa học có xuất hiện “đường lưỡi bò” này rất đa dạng, từ những tập san chuyên ngành rất kén chọn độc giả cho đến những tập san danh tiếng bậc nhất thế giới (như Nature và Science). Điều đáng chú ý là không hề có những sự liên hệ gì giữa nội dung chính của các bài báo và bản đồ “đường lưỡi bò” được cố ý chèn vào.

Ngày 2-9-2010, tạp chí khoa học được sử dụng nhiều nhất thế giới Nature cho đăng bài viết của nhóm học giả Trung Quốc nhan đề “Những tác động của biến đổi khí hậu lên nguồn nước và ngành nông nghiệp tại Trung Quốc” có kèm theo bản đồ “đường lưỡi bò”, trong khi nội dung bài viết không liên quan gì tới vấn đề này. Cũng tương tự, bài “Lịch sử nhân khẩu học của Trung Quốc và thách thức trong tương lai” của học giả Xizhi Peng đăng trên tạp chí Science số ra ngày 9-7-2011 cũng có kèm theo bản đồ “đường lưỡi bò” trong khi nội dung bài viết cũng không có liên quan gì tới bản đồ này. Ngoài hai tạp chí khoa học lừng danh thế giới nói trên, có thể tìm thấy không mấy khó khăn, không ít các tạp chí khoa học chuyên ngành hơn, ít độc giả hơn cũng xuất hiện bản đồ “đường lưỡi bò” kèm theo bài viết của các học giả Trung Quốc. Chẳng hạn như ngày 19-4-2011, tạp chí khoa học quốc tế chuyên ngành Quản lý chất thải (Journal of Waste Management- Italy) đã đăng một bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc (Jun Tai, Weiqian Zhang, Yue Che và Di Feng – công tác tại Phòng Nghiên cứu trọng điểm Thượng Hải về đô thị hóa và khôi phục sinh thái, Đại học East China Normal và Viện Nghiên cứu thiết kế kỹ thuật môi trường Thượng Hải, Trung Quốc) với tiêu đề “Thu gom phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn ở Trung Quốc: Một phân tích so sánh” (Municipal solid waste source-separated collection in China: A comparative analysis). Trong bài báo này các tác giả Trung Quốc đã chú thích sai sự thật về bản đồ Trung Quốc có liên quan đến chủ quyền Việt Nam. Theo đó, trang số hai của bài báo, (trang 1674 Tập 31, số 8 (8-2011) của Tạp chí), các tác giả Trung Quốc đã sử dụng một ảnh minh họa thể hiện rõ “đường lưỡi bò” vẫn được Trung Quốc dùng để tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Bài báo thực chất chỉ để một số thành phố trong khu vực nghiên cứu thử nghiệm của Trung Quốc nhưng lại chèn “đường lưỡi bò” ở phía dưới bài. Waste Management là tạp chí khoa học chính thống, có uy tín của Nhóm công tác về chất thải quốc tế (International Waste Working Group) có trụ sở tại Padova, Italy, một tổ chức phi lợi nhuận sáng lập năm 2002 bởi các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý chất thải. Tuy nhiên thật đáng tiếc, bản đồ của các tác giả người Trung Quốc đăng tải trên tạp chí lại phản ánh một thông tin hoàn toàn sai sự thật về chủ quyền của Việt Nam. Đây không phải lần đầu tiên chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam bị thông tin sai lệch. Vụ ghi chú sai về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên bản đồ mà Hội Địa lý Hoa Kỳ năm 2010 mắc phải vẫn còn là bài học nóng hổi.

 Bản đồ trong một bài báo do 3 học giả Trung Quốc
công bố trên tập san Waste Management tháng 8-2011,
có “đường lưỡi bò” tới 11 đoạn đứt khúc
Ảnh: TL

Một dẫn chứng đáng lưu ý có liên quan tới Climate Change, một tập san khoa học chuyên ngành về nghiên cứu biến đổi khí hậu, mấy năm trước cũng cho công bố một bài báo của tác giả người Trung Quốc có kèm theo bản đồ “đường lưỡi bò” mặc dù nội dung bài viết chẳng liên quan gì tới bản đồ này. Khi các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài phát hiện và gửi thư phàn nàn đến Tổng biên tập là GS Michael Oppenheimer, ông liền báo cho tác giả Trung Quốc biết về phàn nàn đó và yêu cầu họ chỉnh sửa, theo đúng qui trình xuất bản công trình khoa học. Các tác giả Trung Quốc trả lời rằng họ sẽ không chỉnh sửa hay rút lại bản đồ đó, vì đó là “yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc”. Đây là bằng chứng hùng hồn cho thấy Chính quyền Trung Quốc đứng đằng sau những chiến dịch “cửa sau” để quảng bá một bản đồ phi pháp và phi khoa học. Có thể thấy, một bộ phận người Trung Quốc, kể cả giới học giả nước này đang chủ ý đăng tải bản đồ “đường lưỡi bò” mọi lúc, mọi nơi với mục đích “mưa lâu thấm đất”. Những hình ảnh đường lưỡi bò vô lý được lặp đi lặp lại sẽ khiến người đọc dần quen mắt, rồi tiếp nhận chúng một cách thản nhiên. Chiêu này làm ta nhớ tới câu chuyện “Tăng Sâm giết người” thuở xưa. Sau ba lần nhận được cùng một thông tin sai sự thật, bà mẹ Tăng Sâm ban đầu không tin nhưng rốt cuộc đã tin rằng con mình giết người. Cách làm của Trung Quốc ở đây cũng vậy. Lâu nay, Trung Quốc chủ yếu phổ biến các bản đồ với yêu sách ngang ngược của họ ra đại chúng. Giờ đây, họ bắt đầu tấn công mạnh vào giới hàn lâm. Việc đăng tải bản đồ với yêu sách “đường lưỡi bò” trên các chuyên san khoa học lớn trên thế giới sẽ có tác dụng mạnh, do được cộng hưởng từ uy tín của các tạp chí này. Chúng ta có thể thấy rõ chính sách quảng bá “đường lưỡi bò” của Trung Quốc phổ biến ra cộng đồng thế giới như “một chuyện đã rồi” trong công tác tổ chức Thế vận hội Olympic 2008 khi họ cố tình đưa “đường lưỡi bò” vào bản đồ rước đuốc. Đó chính là chủ trương nhằm bình thường hóa “đường lưỡi bò” vốn rất bất thường trong nhận thức của nhân loại và hợp thức hóa cái gọi là “sự thừa nhận của thế giới” về “chủ quyền không thể tranh cãi” của họ trong phạm vi “đường lưỡi bò” bao chiếm Biển Đông, xâm phạm chủ quyền của nhiều quốc gia láng giềng. Việc quảng bá, phổ cập “đường lưỡi bò” trên các diễn đàn quốc tế sẽ góp phần tạo ra ấn tượng là Trung Quốc đã kiểm soát trên thực tế phần lãnh thổ này trên Biển Đông như là một sự thật hiển nhiên.

Mới đây, tạp chí khoa học số một thế giới Nature trong số ra ngày 20-10-2011 đã đăng hai bài viết liên quan đến Biển Đông: bài xã luận “Uncharterd Territory” (Lãnh thổ không được công nhận) và một bài khác có tựa đề “Angry words over East Asia Seas” (Những câu chữ tức giận trên Biển Đông) của nhà báo David Cyranoski phụ trách khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của tạp chí này. Hai bài viết thể hiện thái độ phản đối cũng như vạch rõ âm mưu của Trung Quốc trong việc lợi dụng khoa học để phục vụ mục đích chính trị của mình, cụ thể trong trường hợp này là nhằm hợp lí hóa bản đồ “đường lưỡi bò” do chính quyền nước này đưa ra trước đó. Bài báo cho biết: “Tháng rồi, một nhóm gồm 57 nhà khoa học, kỹ sư và chuyên gia gốc Việt gửi một lá thư đến tập san Nature phàn nàn về sự việc Nature in bản đồ đó (đường lưỡi bò). Lá thư than phiền rằng Chính phủ Trung Quốc đã dùng “thủ đoạn cửa sau”, và biện luận rằng Chính phủ Trung Quốc đã dùng các tập san khoa học như là phương tiện để hợp thức hóa bản đồ một chiều và thiếu khách quan. Một bản đồ tương tự xuất hiện trong một bài tổng quan trên Science cũng nhận được những phê bình như thế… Một số nhà khoa học Việt Nam khác mà Nature liên lạc phần lớn đều tức giận bởi những trường hợp mà họ xem là sử dụng bản đồ đường lưỡi bò một cách vô lý. TS Phạm Quang Tuấn, một giáo sư thuộc Đại học New South Wales, nói “Họ vẽ một đường chung quanh biển Biển Đông và những hòn đảo trong vùng biển đó, mặc dù vùng biển này không có liên quan gì đến chủ đề của bài báo”. Không ai rõ lý do tại sao các nhà khoa học Trung Quốc lồng cái bản đồ còn trong vòng tranh cãi đó vào những bài báo khoa học của họ. Nhưng qua trao đổi email với tác giả, nhận thấy rằng những bản đồ đó quả thật không có liên quan gì đến kết luận của bài báo, và đề nghị tác giả chính là Xuemei Shao của Viện Nghiên cứu Địa lý và Tài nguyên thiên nhiên ở Bắc Kinh chỉnh sửa. Ông Shao đã từ chối, và giải thích trong một email rằng ông ta lồng bản đồ đó vào bài báo là do yêu cầu của Chính phủ Trung Quốc. Jingyun Fang, một chuyên gia về biến đổi khí hậu thuộc Đại học Bắc Kinh, và cũng là đồng tác giả bài tổng quan trên Nature, cho biết ông ta lồng bản đồ đó vào bởi vì ông ta phải tuân theo luật pháp của Trung Quốc (tức có luật quy định phải in bản đồ “đường lưỡi bò”). Khi chúng tôi (Nature) liên lạc Fang, Shao và 4 tác giả của những bài báo khác có in bản đồ “đường lưỡi bò”, tất cả đều không trả lời”.

 Ảnh chụp trang web số báo đề ngày 20-10-2011
với trang bìa tập san khoa học Nature

Liên quan tới các sự kiện này, GS Nguyễn Văn Tuấn, Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan ở Sedney (Úc) bình luận: “Có một điều mà người nào trong giới khoa học cũng nghi ngờ nhưng không nói ra, đó là giới khoa học Trung Quốc có vấn đề về đạo đức khoa học. Đạo đức ở đây phải kể luôn cả đạo đức công bố ấn phẩm. Giới khoa học Trung Quốc có thể sẵn sàng theo Chính phủ của họ để “bẻ cong” khoa học, phục vụ cho mục tiêu chính trị mà chúng ta đã thấy qua sự việc liên quan đến bản đồ “đường lưỡi bò”. Sự việc bản đồ “đường lưỡi bò” là cơ hội lý tưởng để Nature lên tiếng và sự lên tiếng của tạp chí này như là một nhắc nhở về đạo đức khoa học. Như Nature viết rõ: “Khoa học nên là một công cụ ngoại giao, chứ không phải công cụ cho xâm lấn lãnh thổ”, đồng thời cảnh cáo những người còn có ý định lợi dụng khoa học cho mục tiêu chính trị. Nhìn một cách thực tế và trực tiếp hơn, Nature đang “lên lớp” Trung Quốc về khoa học và đạo đức khoa học”.

Hai bài báo trên Nature mới đây của David Cyranoski còn lưu ý Trung Quốc phải phân biệt khoa học và chính trị: “Khi nghiên cứu khoa học và chính trị pha trộn nhau, khoa học nên là một công cụ ngoại giao, chứ không phải công cụ cho xâm lấn lãnh thổ. Hợp tác khoa học vẫn có thể nẩy nở ngay cả trong môi trường chính trị thiếu thân thiện”. Do vậy, Trung Quốc nên nhìn lại khoa học như là một phương tiện góp phần vào việc hóa giải những tranh chấp hơn là để bành trướng lãnh thổ và lãnh hải.

Nhóm PV Biển Đông
daidoanket.vn