Tag Archive | Chủ quyền lãnh hải

Hoàn Cầu: Các nước ven Biển Đông liên thủ cũng chưa chắc thắng TQ

Hoàn Cầu: Các nước ven Biển Đông liên thủ cũng chưa chắc thắng TQ(GDVN) – Cách đặt vấn đề và nhận định của Lý Kiệt, tạm bỏ qua thái độ kiêu binh, trịch thượng và vênh váo thường thấy của một số học giả diều hâu theo đuổi chủ nghĩa dân tộc cực đoan ở Trung Quốc khi bàn tới Biển Đông, nổi lên hơn cả là những nhận thức lệch lạc, hung hăng, hiếu chiến, kích động xung đột đối đầu ở Biển Đông. Tiếp tục đọc

Advertisements

Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam

 Được biên soạn và ra đời ngay sau sự kiện Trung Quốc cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Bình Minh 02 và Viking II trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Việt Nam, thay cho những phát ngôn chính thức, cuốn sách tập hợp tất cả ý chí và nguyện vọng của nhân dân, các bộ, ban, ngành trước chủ quyền lãnh thổ, như tên tác giả cuốn sách đề rõ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Tiếp tục đọc

Cần một “nhạc trưởng” nghiên cứu chủ quyền

Cần một “nhạc trưởng” nghiên cứu chủ quyền Bên cạnh việc đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc chủ quyền của phía Trung Quốc và những thông tin sai lệch gây ảnh hưởng đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam, các học giả Việt Nam ở cả trong và  ngoài nước còn nỗ lực tìm kiếm các bằng chứng lịch sử để bổ sung thêm cơ sở pháp lý cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Tiếp tục đọc

Có “khả năng cao” đạt được tiến bộ cụ thể về COC vào tháng 10

NGOẠI TRƯỞNG THÁI LAN SURAPONG TOVIJAKCHAIKUL:

Có “khả năng cao” đạt được tiến bộ cụ thể về COC vào tháng 10(Petrotimes) – Thái Lan đang tổ chức một diễn đàn kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác chiến lược ASEAN – Trung Quốc nhằm nhìn lại mối quan hệ và hợp tác giữa hai bên trong một thập kỷ qua, trong bối cảnh căng thẳng tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông giữa Bắc Kinh và một số thành viên ASEAN đang gia tăng căng thẳng.

Tiếp tục đọc

Tự cường khu vực năm 2011

Tác giả: HOÀNG DŨNG NHÂN

Hồ sơ Biển Đông tới đây có được xử lý tích cực như hai năm vừa qua hay không? Vì có lần Tổng Thư ký ASEAN đã nói: “Năm nay, Biển Đông được đề cập và năm khác, vấn đề đó sẽ không được nêu lên. Điều này tùy thuộc vào sự năng động của môi trường”(?)

Dự báo như vậy, vô hình chung ông Surin đặt cược uy tín của ASEAN vào bá quyền nước lớn, chưa đánh giá hết tinh thần tự cường khu vực, một “bí mật công khai” về sức mạnh và tính đàn hồi của ASEAN.

Tự cường khu vực (regional resilience) bàn ở đây là xu hướng sẵn sàng thích nghi, phát triển năng động của ASEAN trong tiểu vùng Đông Nam Á, với tư cách là một cộng đồng kết nối mạnh mẽ về kinh tế, chính trị và an ninh. Vấn đề này đã được các nước trong và ngoài khu vực nói tới từ rất lâu, và mỗi quốc gia thường đánh giá xu thế này từ những góc độ cũng rất khác nhau. Tại sao khái niệm ấy giờ đây lại trở thành tiêu điểm và thước đo cho quá trình kết nối và hội nhập ngày càng sâu giữa các thành viên trong ASEAN cũng như giữa các thành viên ASEAN với các nước ngoài khu vực, nhất là với các nước lớn?

Tiền đề cho hòa bình, ổn định khu vực

Câu trả lời trước hết nằm ở tính đàn hồi bền vững và khả năng thích nghi cao của ASEAN trước sự thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh tế và an ninh trong kỷ nguyên mới. Tại một phiên họp kín của Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS) vừa qua, Chủ tịch ASEAN là Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono đã tóm lược một trong các nội dung thảo luận bằng cách ghi nhận, các vấn đề an ninh hàng hải là chủ đề thích hợp với chương trình nghị sự. 16/18 thành viên của EAS đã chủ động đặt vấn đề Biển Đông lên bàn hội nghị, dù không hề có sự vận động hành lang nào; thậm chí trước đó TQ còn tuyên bố không muốn bàn đề tài Biển Đông tại phiên họp. Cuối cùng thì TQ đành phải “chiều lòng” các nước, cho dù lập luận rằng EAS không phải là nơi chốn thích hợp. Trước phản ứng của đa số, TQ buộc phải điều chỉnh lập trường, vốn rất quyết đoán và chỉ nhấn mạnh đến đàm phán song phương trong vấn đề biển đảo.

Có thể nói năm 2011, các nước châu Á-Thái Bình Dương đã tiến thêm một bước trên con đường giải tỏa các lưỡng nan an ninh. Cách đây hai năm, Mỹ tuyên bố trở lại châu Á, nhưng trên thực tế vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng trước băn khoăn của nhiều nước về vai trò của Mỹ trong khu vực. Năm nay, một mặt Mỹ vẫn kuyến khích quá trình thảo luận về kiến trúc an ninh mới, nhưng mặt khác, Mỹ đã có những động thái cụ thể để khẳng định việc “trở lại và ở lại” của mình. Sự mở rộng số thành viên tham gia Hiệp định TPP, đồng thời tuyên bố gửi quân tới Bắc Ốtxtrâylia là hai biểu hiện rõ rệt nhất. Đối với nhiều nước, tham gia TPP là nhân tố quan trọng phục vụ cho an ninh quốc gia vì nó tạo ra thế đứng mới cho đất nước trong quan hệ quốc tế. Mặt khác, dường như đã có sự đồng thuận đối với vai trò của Mỹ tại đây bằng các thể chế mở và linh hoạt, trong đó EAS là một điển hình. Một số nước củng cố quan hệ liên minh, một số khác đang thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương chặt chẽ hơn với Mỹ.

Tại các Hội nghị của ASEAN và ARF trong năm, đợt tháng 7 và tháng 11 vừa qua ở Indonesia, TQ buộc phải lên tiếng cam kết thực hiện DOC, giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, duy trì hoà bình và ổn định ở biển Đông. Tuy nhiên, con đường đi tới hoà bình, ổn định ở khu vực còn dài, nhất là trong hai năm tới, khi Campuchia và Myanmar, lần lượt sẽ làm chủ tịch ASEAN (CPC và Myanmar là hai nước không nêu vấn đề Biển Đông tại EAS). Bất chấp các chỉ trích quốc tế về yêu sách “đường lưỡi bò”, TQ vẫn tái khẳng định yêu sách này, tuy không viện dẫn được bằng chứng để chứng minh và vẫn chủ trương giải quyết song phương với từng nước tranh chấp. TQ dường như không có nhu cầu lý giải về mặt pháp lý đối với yêu sách “đường đứt khúc chín đoạn” này của mình.

Dư luận mong đợi rằng, tại các diễn đàn của ASEAN và các hội nghị liên quan năm 2012 tới, các nước trong và ngoài khu vực sẽ thúc đẩy sáng kiến về việc yêu cầu các bên tranh chấp ở biển Đông giải thích rõ các tuyên bố và yêu sách chủ quyền của mình dưới ánh sáng của luật pháp quốc tế và thảo luận sáng kiến của Philippines về thành lập Khu vực hoà bình, tự do, hữu nghị và hợp tác ở Biển Đông, trong đó có việc phân biệt rõ ràng các khu vực biển có tranh chấp và khu vực biển không có tranh chấp. Theo tinh thần của các sáng kiến này, những tuyên bố và yêu sách chủ quyền bất chấp luật pháp quốc tế hiển nhiên phải bị lên án và bác bỏ; các tuyên bố và yêu sách chủ quyền và quyền chủ quyền trên biển của các bên tranh chấp phải phù hợp với luật pháp quốc tế và luật biển quốc tế; các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển trong khu vực được xác lập phải phù hợp với Công ước luật biển 1982 của Liên hợp quốc.

Xu thế hợp tác đa phương dưới các hình thức như Diễn đàn ARF, ASEAN + 3, Hội nghị EAS và nhiều cơ chế khác đang ngày càng tiến triển. Trong bối cảnh đó, ý tưởng về “tính chất trung tâm của ASEAN” trong cấu trúc khu vực mới cần phải dựa vào hai điều kiện: ASEAN phải đủ sức để tạo thành một khối liên kết và các nước thành viên cần có lập trường chung trên một số vấn đề quốc tế. Ngoại trưởng Philippines del Rosario cho rằng: “ASEAN hiện đang đứng giữa một ngã tư quan trọng, cần phát huy vai trò tích cực và có ý nghĩa đối với giải quyết hòa bình tranh chấp biển Đông”. Ông bày tỏ hy vọng, các thành viên khác trong ASEAN sớm hỗ trợ giải quyết các vấn đề nhạy cảm này. Muốn ASEAN không đánh mất vai trò chủ đạo trong các tiến trình an ninh và kinh tế trong vùng, các thành viên cần gấp rút trao đổi kinh nghiệm với nhau và với các nước ngoài khu vực. Phải tìm được tiếng nói chung và không để ASEAN bị tách đôi thành hai khối “lục địa” và “hải đảo” như một số cảnh báo liên quan đến vấn đề Biển Đông.

Độc lập dân tộc gắn với tự cường khu vực

Kinh nghiệm thành công của nhiều nước trong khu vực chỉ rõ, muốn vừa có an ninh vừa phát triển, phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế. Nước nào nắm vững độc lập-tự chủ theo đường lối dân tộc-dân chủ thì thành công; nước nào kém độc lập-tự chủ, xa rời dân tộc-dân chủ thì thất bại. Độc lập dân tộc là thể hiện cao nhất của độc lập tự chủ, và đấy cũng là nguyên tắc cao nhất của quan hệ quốc tế hiện đại. Các nước tham gia vào hệ thống quốc tế với tư cách là những nhà nước có chủ quyền. Tuy nhiên, độc lập không đồng nghĩa với biệt lập. Độc lập dân tộc phải gắn với tự cường khu vực thông qua hội nhập quốc tế thì đấy mới là nền độc lập bền vững, có chất lượng cao. Đấy là giải quyết mối quan hệ giữa mục tiêu và phương thức để đạt mục tiêu đó.

Tiến trình tự cường khu vực bao gồm các giai đoạn phản ứng và thích nghi, phục hồi và phát triển của các quốc gia để tiến cùng các xu thế chủ đạo. Đích cuối cùng của quá trình này là để tạo nên trạng thái quân bình đa chiều, môi trường tối ưu cho an ninh, thịnh vượng của các thành viên trong và ngoài khu vực. Ở đây phải chăng chìa khóa thành công nằm ở quan hệ cân bằng của các nước vừa và nhỏ với Mỹ và TQ. Khả năng duy trì sự cân bằng lý tưởng và dung hòa các lợi ích mâu thuẫn nhau giữa TQ và Mỹ sẽ là thách thức lớn đối với nền ngoại giao của nhiều nước ASEAN, kể cả VN. Một quốc gia muốn duy trì nền độc lập của mình, tránh sự phụ thuộc vào các quốc gia bên ngoài, cho dù đó là đại quốc hay siêu cường, không có sự lựa chọn nào khác là phải “buôn có bạn bán có phường”. Ở đây không chỉ có “nhận” mà còn phải “cho” như Bác Hồ từng căn dặn: “Mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả”.

Độc lập dân tộc gắn với tự cường khu vực đúng là quá trình “có đi có lại mới toại lòng nhau”. Trong ý nghĩa này, khái niệm tự cường khu vực sỡ dĩ ngày càng trở nên thời sự là vì các nước vừa và nhỏ ngày càng buộc phải đối phó với nhiều nguy cơ đe đe dọa sự ổn định về chính trị, kinh tế cũng như an ninh trong vùng. Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa trong những năm gần đây có xu hướng chững lại, thậm chí theo một số dự báo, không loại trừ khả năng đổ vỡ, thụt lùi như đã từng diễn ra trong lịch sử. Cộng hưởng của các dấu hiệu khủng hoảng đều là tác nhân dẫn đến điều kiện bên ngoài của các quốc gia dễ bị tổn thương. Các dấu hiệu đó có thể là: chững lại/thụt lùi về tăng trưởng, căng thẳng do các tranh chấp biên giới lãnh thổ, lãnh hải, nguồn tài nguyên hay mâu thuẫn trong việc bảo vệ môi trường.

Trước hiện trạng đó, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và tự cường khu vực thể hiện ở quá trình xử lý các mối quan hệ nội khối trong ASEAN, cũng như các quan hệ giữa ASEAN với các nước lớn. Quán triệt trong nội bộ về Hiến chương ASEAN, coi đây là bước tiến quan trọng trên con đường xây dựng cộng đồng khu vực. Đánh giá đúng hiệu dụng và tác động của Hiến Chương. Nên phổ biến rộng rãi nội dung của Hiến Chương trong mọi tầng lớp xã hội, nhất là trong doanh nghiệp và thanh niên. Nhận thức rõ tính hai mặt của hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Nhận thức rõ những thách thức trên con đường xây dựng cộng đồng ASEAN tới năm 2015.

Tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan vừa kết thúc chuyến thăm chính thức Phnom Penh để trao đổi về vai trò chủ tịch ASEAN của CPC trong năm tới. Hội nghị Ngoại trưởng các nước ASEAN sẽ được tổ chức trong hai ngày 10 và 11/1/2012 tại Siem Reap. Nội dung chính được các ngoại trưởng thảo luận sẽ là hội nhập kinh tế, liên kết khu vực, Tuyên bố chung về Nhân quyền và các vấn đề đã đạt được tại Hội nghị ASEAN-19 ở Bali, Indonesia. Chưa bao giờ lời kêu gọi của Philippines “ASEAN cần đoàn kết!” lại có giá trị thời sự như thời gian tới. Nếu ý đồ ngăn cản 10 nước ASEAN thúc đẩy đàm phán đa phương về vấn đề tranh chấp lãnh thổ thành công, đặc biệt là trì hoãn các nỗ lực đi đến COC, thì rõ ràng đấy sẽ là bước thụt lùi trước xu thế đang lên của tự cường khu vực.

Cuối cùng thế quân bình động trong một thế giới khác biệt và nhiều đảo lộn phải được tạo dựng trên căn bản tự cường khu vực. Cho dù đối với các quốc gia khác nhau, hiệu ứng của tự cường có thể khác nhau. Trong một phát biểu tại Hà Nội, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nói về lợi ích của Mỹ và ghi nhận rằng, quan hệ với Việt Nam không chỉ quan trọng về giá trị tự thân, mà còn quan trọng với tư cách là một phần của chiến lược nhằm tăng cường sự can dự của Mỹ vào châu Á-Thái Bình Dương và đặc biệt là vào Đông Nam Á. Thông qua chuyến thăm cấp nhà nước của TBT Nguyễn Phú Trọng tới TQ và chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình sang VN, hai bên đã đưa ra những lời lẽ hữu hảo và cam kết giải quyết tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình. Ngoại giao song phương và đa phương của Việt Nam trong năm qua đã gặt hái được các thành tựu nổi bật trong quan hệ với các nước lớn cũng như trong quan hệ nội khối ASEAN chính là nhờ đặt trên căn bản của phương châm độc lập dân tộc gắn với tự cường khu vực.

tuanvietnam.net

Thất bại tại Biển Đông nhưng Trung Quốc vẫn chìm đắm trong giấc mộng

Về khía cạnh chiến lược, chính sách ngoại giao, quan hệ quốc tế và truyền thông trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã hoàn toàn bại trận. Dường như không một quốc gia nào ủng hộ lập trường cũng như lối hành xử của nước này. Bừi viết của Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Á, Đại học Quốc gia Singapore, Trịnh Vĩnh Niên trên Liên hợp Buổi sáng phân tích về nguyên nhân thất bại cũng như đối sách cho Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông.

Thời gian gần đây, mọi người đều vô cùng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng, đã bao nhiêu năm nay, song song với sự trỗi dậy của Trung Quốc là chuỗi “liên hoàn bại trận” của chính nước này trong các vấn đề về Biển. Đặc biệt bắt đầu từ năm ngoái, xu hướng này ngày càng hiện ra rõ ràng hơn.

Trung Quốc đã nỗ lực theo đuổi chiến lược “Trỗi dậy hòa bình” (Phát triển hòa bình) ngay sau công cuộc cải cách mở cửa. Trên rất nhiều phương diện, Trung Quốc đã từ bỏ chính sách chủ nghĩa đơn phương vốn đã tuân thủ từ rất lâu trước đó, đồng thời phát triển quan hệ hữu nghị đa phương với các nước ASEAN. Khu vực tự do thương mại Trung Quốc-ASEAN cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã đề xuất chủ trương “Gác tranh chấp chủ quyền, cùng khai thác chung”. Những biện pháp này xét từ góc độ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng đã hình thành nên sách lược và kim chỉ nam ngoại giao “Giấu mình chờ thời” của Trung Quốc suốt từ thời Đặng Tiểu Bình đến nay. Thế nhưng rất nhiều người đã cảm nhận ra rằng, trên rất nhiều vấn đề có liên quan, nếu như Trung Quốc không thể trực diện đối mặt thì sẽ góp phần đẩy chính sách của họ đi theo hướng ngược hẳn lại.

Sự quan tâm chú ý của toàn bộ khu vực Châu Á và cộng đồng quốc tế cho tới thời điểm này đều tập trung vào vấn đề Biển Đông, Biển Đông đột nhiên lại thêm một lần nữa trở thành điểm nóng của thế giới. Chính quyền Trung Quốc dường như lại không hiểu rõ tình trạng hiện nay. Đối với Trung Quốc mà nói, chính sách Biển Đông về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, chỉ là các nước có liên quan tiến hành một loạt các hành động không có lợi cho Trung Quốc, và phản ứng của Trung Quốc theo đó cũng chỉ tương đương với hình thức “cứu hỏa” mà thôi.

Trên thực tế, từ rất nhiều năm trở lại đây, chính bởi vì nguyên do Trung Quốc luôn áp dụng các biện pháp bị động đối phó lại khiến cho vấn đề Biển Đông ngày một tích tụ chồng chất lại, và rồi dẫn đến cục diện như ngày hôm nay. Không quan tâm Trung Quốc có muốn hay không, có nắm rõ tình hình hay không, thì Trung Quốc phải đối mặt với những thách thức chưa từng có trong vấn đề Biển Đông này.

Thứ nhất, Trung Quốc sớm đã hoàn toàn thất bại tại cuộc chiến công luận quốc tế.

Trong nhiều năm qua, khi Trung Quốc vẫn còn đắm chìm trong thuyết “Trỗi dậy hòa bình” do chính họ tạo dựng nên, thì các quốc gia có liên quan đã nỗ lực với tinh thần cao nhất và chuẩn bị đầy đủ trên trường quốc tế để chờ đợi vấn đề Biển Đông sẽ nổi lên như trong dự tính đã có sẵn. Xét trên hệ thống kiến thức (luật pháp), Trung Quốc hiện nay thật khó khăn để tìm ra được bất kỳ một lực lượng hỗ trợ có hiệu quả nào cho họ. Về xu hướng các giới truyền thông báo chí không đứng về phía Trung Quốc đã hình thành như hiện nay thì Trung Quốc cũng không có quyền phát biểu tại đây. Các nhà bình luận cho rằng dùng “Chính sách cứng rắn” để mô tả thái độ của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là chưa đầy đủ, chính xác phải gọi đó là “mang tính chất tranh cướp” mới đúng. Trên thực tế, cách nhận thức tương tự như vậy của Trung Quốc đã trở nên khá phổ biến trong cộng đồng quốc tế. Bản thân Trung Quốc lại quả quyết cho rằng họ không làm gì mà lại bị đối xử “oan uổng” như vậy, đây chính là căn nguyên khiến Trung Quốc bị mất quyền phát biểu trong cuộc chiến công luận quốc tế này.

Thứ hai, Trung Quốc cũng thua trận trong cuộc chiến chiến lược.

Các nước liên quan đều có những chiến lược khá rõ ràng trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, cụ thể bao gồm các chiến lược như chủ nghĩa đa phương tại khu vực, quốc tế hóa, chính trị hóa đại quốc. Thế nhưng chiến lược của Trung Quốc nếu không dám đối mặt với sự thực thì sẽ là nhập nhằng không rõ ràng. Trung Quốc từ chối chi tiết hóa vấn đề, sử dụng khái niệm “phản đối quốc tế hóa” vô cùng vĩ mô này nhằm che lấp vấn đề cụ thể. Trên thực tế, tranh chấp Biển Đông đã được đa phương hóa, quốc tế hóa từ rất lâu rồi, hơn nữa sẽ rất nhanh tiến đến giai đoạn “chính trị hóa đại quốc” trong thời gian tới. Trung Quốc chỉ là không dám thừa nhận sự thực hiển hiện ra trước mắt này mà thôi.

Thứ ba, nếu tình hình vẫn tiếp diễn như vậy, Trung Quốc sẽ bị ràng buộc để cuối cùng rơi vào tình trạng mất chủ quyền trong cuộc chiến.

Như đã đề cập ở phần trên, từ năm ngoái cho đến năm nay, chính sách Biển Đông của Trung Quốc về bản chất không hề có bất cứ một thay đổi nào, mà chủ yếu chỉ là một số hành động mang tính chất phản ứng lại. Thế nhưng cho đến thời điểm này, bất cứ nước nào cũng đều cho rằng Trung Quốc chính là nguyên nhân phát sinh của mọi vấn đề. Tình hình thực tế là, các nước khác có liên quan vẫn đang xúc tiến các hoạt động và hành động trong khu vực tranh chấp Biển Đông, đặc biệt là trong việc phát triển nguồn năng lượng.

Trung Quốc chìm đắm trong “giấc mộng”.

Đã nhiều năm nay, trong vấn đề tranh chấp Biển Đông (cũng như trong nhiều vấn đề khác), Trung Quốc dường như luôn sống trong “giấc mộng” mà chính bản thân họ tự vạch ra. Nhìn từ góc độ chiến lược, Trung Quốc không phải là không có cơ hội để chiếm ưu thế trong vấn đề Biển Đông này, mà thay vào đó lại tự động vứt bỏ những ưu thế đáng lẽ họ chiếm được … Điều đáng tiếc là, những hành động của TQ không những không chiếm được sự đồng cảm của các nước liên quan đến tranh chấp mà cuối cùng dẫn đến kết quả hoàn toàn ngược lại, gây tổn hại cho chính lợi ích quốc gia của mình.

Vậy thì, kết quả cuối cùng sẽ như thế nào đây? Trung Quốc liệu sẽ từ bỏ chăng? Trong giới báo chí truyền thông vô cùng phát triển như ngày hôm nay, phạm vi xu hướng thỏa hiệp mà các nhà cầm quyền có thể áp dụng được ngày một nhỏ,càng không cần nói đến chuyện từ bỏ. Nếu tình hình này vẫn cứ tiếp diễn thì cuối cùng chắc chắn sẽ dẫn đến các cuộc xung đột xảy ra.Tuy nhiên xung đột trong thời gian này sẽ vô cùng bất lợi đối với Trung Quốc.

Vấn đề đã xuất hiện rồi, thì phái có cách đối phó lại. Nhiệm vụ đầu tiên cần phải làm là tìm hiểu rõ tại sao lại xuất hiện tình trạng như vậy? Ngoài các vấn đề xuất phát từ chính bản thân Trung Quốc thì còn có một số nguyên nhân quan trọng khác nữa. Đối với các nước có liên quan mà nói thì đây là sản phẩm phát sinh từ “môi trường quốc tế” và “môi trường nội bộ”.

Đầu tiên đề cập đến môi trường quốc tế. Đối với các quốc gia có liên quan thì nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quốc tế không thể không nhắc đến sự trỗi dậy kinh tế của Trung Quốc và kéo théo sau đó là hiện đại hóa nền quốc phòng, quân sự cũng như từ đó tác động đến cục diện địa chính trị của toàn bộ khu vực Châu Á. Các quốc gia có liên quan đã bắt đầu cảm thấy rằng thời gian không còn đứng về phía họ nữa. Mặc dù Trung Quốc luôn nhấn mạnh về sự “trỗi dậy hòa bình” của mình, thế nhưng họ lại bị coi là đã áp dụng chính sách chậm trễ kéo dài thời gian trong vấn đề Biển Đông nhằm chờ thời cơ cho đến khi tình hình quốc tế thuận lợi sẽ ra tay giải quyết tranh chấp. Do vậy, đối với các quốc gia có liên quan thì vấn đề Biển Đông bắt buộc phải được giải quyết theo hướng có lợi cho họ trước khi Trung Quốc thực sự trỗi dậy, nếu không, đợi cho đến khi Trung Quốc đã trỗi dậy rồi, tia hy vọng sẽ trở nên vô cùng mong manh. Cũng chính vì thế, bắt buộc phải thông qua bất cứ biện pháp nào để đẩy mạnh hành động, hối thúc phát triển theo khuynh hướng có lợi cho bản thân họ.

Đối với Trung Quốc mà nói, môi trường các nước lớn chủ yếu đề cập đến những biến đổi chính trị trong phạm vi giữa các nước này, đặc biệt là biến đổi trong mối quan hệ với các nước lớn như Mỹ. Trong vấn đề Biển Đông, không quản có muốn hay không thì Trung Quốc chắc chắn vẫn phải đối mặt với Mỹ. Thế nhưng trong quan hệ hai nước Trung-Mỹ thì dù Trung Quốc đã hao tâm tổn trí rất nhiều nhưng vẫn không biết nên làm như thế nào để có thể hòa nhập được cùng Mỹ, đặc biệt là mối quan hệ với Mỹ trong khu vực Châu Á. Rất nhiều người đã từng nghĩ rằng mục tiêu chủ yếu của Mỹ trong sự hiện diện tại Châu Á này là nhằm đối phó với Trung Quốc, thế nhưng trên thực tế lại không hề đơn giản như vậy. Lý do Mỹ tồn tại ở khu vực Châu Á không chỉ để đối phó với riêng một Trung Quốc, mà còn liên quan đến vấn đề địa chính trị khác. Ví dụ, nếu không có nhân tố Trung Quốc thì Mỹ vẫn đương nhiên tìm ra được lý do để tạo ra không gian sinh tồn tại Châu Á. Bất luận là khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á hay Nam Á, mối quan hệ phức tạp đan xen giữa các nước đều cần có sự hỗ trợ sức mạnh của Mỹ để cân bằng lực lượng.

Trung Quốc không tạo dựng không gian cho Mỹ.

Rất nhiều các quốc gia Châu Á đều cần sự hiện diện của Mỹ chính là do kết quả không hành động của Trung Quốc. Ví dụ, trong vấn đề Triều Tiên thì ngoài Triều Tiên ra, hầu hết tất cả các nước Châu Á đều bất mãn với cách hành xử của Trung Quốc. Tất nhiên là cũng có những điểm khó xử riêng nhưng không thể vì thế mà chứng minh rằng cách hành xử của Trung Quốc là hợp lý được. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản thường xuyên liệt vào trạng thái căng thẳng. Hiện nay cùng với sự trỗi dậy của Ấn Độ thì mối quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ cũng hàm chứa rất nhiều những nhân tố không xác định. Mặc dù Trung Quốc và các nước khu vực Châu Á luôn có các lĩnh vực hợp tác chung, thế nhưng những cuộc xung đột dường như phát sinh ngày một phức tạp hơn. Dù thế nào đi chăng nữa, trong việc giải quyết các vấn đề khu vực Châu Á thì Mỹ vẫn là quốc gia duy nhất đã từng nhiều lần thông qua các cuộc trải nghiệm, hơn nữa, tính quan trọng của nhân tố Trung Quốc mặc dù ngày một tăng lên nhưng chưa hề thông qua bất kỳ một cuộc trải nghiệm nào cả. Trong bối cảnh như vậy, Mỹ vẫn chính là môt quốc gia đạt mức độ tin tưởng và được dựa dẫm cao nhất. Điều này cũng được thể hiện trong vấn đề Biển Đông, những nước có liên quan hy vọng có sự can thiệp của Mỹ tại khu vực xảy ra tranh chấp này, nhằm nâng cao tính chắc chắn của họ trong vấn đề Biển Đông. Chính vì thế mà dẫn tới xu thế “chính trị hóa đại quốc”…

Ở đây còn có môi trường nội bộ của chính bản thân Trung Quốc. Phiên họp Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ mười tám sẽ được tổ chức vào năm sau. Trong thời gian này, nhiệm vụ chính của chính quyền Trung Quốc là giải quyết công việc nội bộ, sự ổn định sẽ trấn áp tất cả mọi vấn đề khác. Có một số quốc gia phán đoán rằng trong thời kỳ này thì Trung Quốc sẽ không thể đưa ra những điều chỉnh lớn nào về chính sách đối ngoại được cả. Điều này cũng có nghĩa rằng, trước khi một thế hệ lãnh đạo mới được thành lập, Trung Quốc sẽ không thể có chính sách mới và quan trọng nào trong lĩnh vực ngoại giao, hay nói rằng phần lớn các chính sách đối ngoại được đưa ra tất nhiên đều mang tính chất phản ứng là chủ yếu. Cách phán đoán này khiến cho các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ nhận thấy rằng đây là cơ hội để tiến hành áp dụng những phương pháp triệt để hơn cho họ.

Trung Quốc sẽ làm gì khi đối mặt với tình thế hiện tại này? Được coi là một quốc gia lớn đang trong quá trình trỗi dậy, Trung Quốc chắc chắn sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các vấn đề về khu vực. Tình thế tại Biển Đông đối với Trung Quốc mà nói, mặc dù “ngày thế giới tận thế” vẫn còn cách xa vô cùng, nhưng họ bắt buộc phải thay đổi tính bị động đã tồn tại cho đến thời điểm hiện tại này để chuyển sang tính chủ động hơn. Điều đặc biệt quan trọng phải nói đến rằng, vấn đề hiện nay của Trung Quốc không phải là vấn đề về nguồn tài nguyên, mà là chiến lược, chính sách và cách huy động nguồn lực. Đơn giản mà nói chính là vấn đề về đường lối tư duy của Trung Quốc. Trong tranh chấp “Nam Hải” (Biển Đông), Trung Quốc phải có một đường lối tư duy rõ ràng, minh bạch.

Cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc.

Khi đề cập đến đường lối tư duy mới thì cần phải suy ngẫm lại đường lối tư duy đã cũ của Trung Quốc. Vấn đề cốt lõi trong đường lối tư duy truyền thống của Trung Quốc chính là phản đối “quốc tế hóa” trong trannh chấp Biển Đông. Xét trên cơ sở lý thuyết, điều này đương nhiên là không sai. Nhưng vấn đề phát sinh nằm ở chỗ khái niệm đưa ra này không những không miêu tả được tình huống khách quan của quá trình tranh chấp Biển Đông mà lại càng khó khăn hơn khi áp dụng đường lối tư duy này để có thể tìm ra được biện pháp giải quyết. Điều này liên quan đến nhiều cấp độ bên trong các vấn đề chính.

Thứ nhất là chủ nghĩa song phương. Trung Quốc yêu sách gác tranh chấp chủ quyền cùng khai thác chung. Thế nhưng cho đến nay chính sách này vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái khẩu hiệu, lý thuyết suông. Để có được mối quan hệ với các nước ASEAN, bản thân Trung Quốc không hề có kế hoạch khai thác Biển Đông nào cả, mà ngược lại chính là các nước có liên quan trong những năm gần đây tiến hành tăng cường khai thác. Thế nhưng Trung Quốc không phải đề xuất ra chủ trương cùng khai thác chung, mà chính xác phải nói là chủ trương khai thác đơn phương. Trong vấn đề cùng khai thác chung, các quốc gia có liên quan hoặc là không tự nguyện hoặc là tinh thần tự nguyện không cao. Hay nói toạc ra thì Trung Quốc không có đủ sức mạnh cũng như cơ chế quyền lực để thúc đẩy các quốc gia có liên quan công nhận và đi đến chấp nhận yêu sách cùng khai thác chung mà Trung Quốc đã đề xuất.

Thứ hai là chủ nghĩa đa phương, chính là mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước ASAEN. Vấn đề tranh chấp Biển Đông chủ yếu biểu hiện trong “Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông” mà Trung Quốc cũng đã ký kết. Thế nhưng văn bản này lại không mang bất cứ tính chất ràng buộc pháp lý nào. Văn bản tuy đã được ký kết rất nhiều năm qua nhưng không có bất cứ một quốc gia nào đạt hiệu quả trong việc thúc đẩy cho văn bản trở thành một tài liệu mang tính ràng buộc pháp lý được. Nên nói rằng chính bản thân Trung Quốc cũng không nỗ lực thực hiện đầy đủ nhiệm vụ của mình trong đó. Điều quan trọng của vấn đề nằm ở chỗ Trung Quốc vẫn tuân thủ chủ nghĩa song phương và phản đối đa phương hóa trong tranh chấp Biển Đông. Thế nhưng bản chất thực sự của rất nhiều vấn đề trong tranh chấp Biển Đông lại là đa phương, cho nên việc phản đối chính sách đa phương hóa đã thể hiện rõ thái độ của Trung Quốc không dám đối mặt với sự thực này.

Thứ ba là quốc tế hóa. Các quốc gia có liên quan đã đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông giao phó cho Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế. Trung Quốc tỏ ý không chấp nhận cho lắm, bởi vì nếu cầu cứu đến Liên Hợp Quốc hoặc các tổ chức quốc tế thì khả năng bại trận của Trung Quốc sẽ lớn hơn cơ hội chiến thắng rất rất nhiều lần. Như đã thảo luận trong phần trên, Trung Quốc đã thua trận trong cuộc chiến công luận quốc tế rồi, sẽ không còn bao nhiêu người có thể thông cảm cho lập trường của Trung Quốc được nữa.

Thứ tư là chính trị hóa đại quốc. Các quốc gia có liên quan trong khu vực Đông Nam Á hy vọng sẽ có sự can thiệp của Mỹ tại đây, điều này là dễ hiểu. Thế nhưng mức độ can thiệp của Mỹ sẽ sâu nông như thế nào thì còn phải xem lợi ích quốc gia của chính họ trong vấn đề này. Nhân tố Mỹ trong khu vực Đông Nam Á đã luôn tồn tại từ trước tới nay, hay nói cách khác Mỹ đã luôn là một bộ phận cấu thành trong cấu trúc khu vực này. Trên thực tế, lợi ích của Mỹ tại khu vực Đông Nam Á này còn thâm căn cố đế hơn nhiều so với lợi ích của Trung Quốc. Ngay từ thời kỳ khi mới bắt đầu chiến tranh lạnh thì Mỹ đã không ngừng thiết lập mối quan hệ với các nước trong khối ASEAN, còn Trung Quốc chỉ mãi cho đến sau thời kỳ cải cách giải phóng đất nước mới bắt đầu xây dựng mối quan hệ mang tính thực chất với các nước này. Mối quan hệ giữa Mỹ và các nước Đông Nam Á là toàn diện trên các lĩnh vực còn Trung Quốc thì chủ yếu chỉ dựa trên lĩnh vực kinh tế, còn những lĩnh vực khác mới đang thuộc thời kỳ sơ khai. Do vậy, việc chính quyền Trung Quốc phản đối “chính trị hóa đại quốc” cũng chính là nguyên do khiến cho nước này không nhận ra bản chất thật của vấn đề tranh chấp.

Khi suy ngẫm đến các nhân tố đã được nêu ở phần trên, mọi người sẽ thật dễ dàng để trả lời câu hỏi rằng “Trung Quốc nên đi những bước tiếp theo như thế nào đây?”, cũng có thể xem xét đánh giá từ nhiều góc độ như sau.

Trước tiên, Trung Quốc cần đặt mình đứng từ góc độ của các quốc gia láng giềng hoặc các nước có liên quan đến tranh chấp trong vấn đề Biển Đông để suy xét vấn đề. Trong suốt thời gian dài đến nay, chính quyền Trung Quốc luôn tuyên truyền lập trường với những nguyện vọng tốt đẹp của họ ra thế giới trong và ngoài nước, ví dụ như những khái niệm gọi là “trỗi dậy hòa bình”, “phát triển hòa bình” và “láng giềng tốt”, v.v… Những điều này rất quan trọng nhưng không bao giờ có thể coi là đủ được cả, bởi vì chính Trung Quốc đã coi nhẹ cách nhìn nhận của các nước xung quanh đối với sự trỗi dậy của họ như thế nào, hay mối quan tâm của các nước đó ra sao trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chỉ cho đến khi thấu hiểu được mối lo lắng của các nước láng giềng này rồi, thì Trung Quốc mới hoạch định ra những chính sách thiết thực có hiệu quả được. Nếu không, không quan tâm nguyện vọng của Trung Quốc có như thế nào đi chăng nữa, hay đại loại giống như những khái niệm gọi tương tự như là “sự trỗi dậy hòa bình” v.v… thì cuối cùng vẫn biến thành những lời Trung Quốc tự nói và tự nghe.

Thứ hai, Trung Quốc bắt buộc phải phân định rõ ràng giữa vấn đề an ninh hàng hải và tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Mối quan tâm của cộng đồng quốc tế đặc biệt là Mỹ nói riêng chính là vấn đề an ninh hàng hải, việc Mỹ can thiệp vào vấn đề Biển Đông cũng chính xuất phát từ căn nguyên này ra. Đối với vấn đề này, Trung Quốc cần căn cứ vào tình hình thực tế, thừa nhận và nhấn mạnh rằng an ninh hàng hải là mối quan tâm của tất cả các bên tham gia, đồng thời cũng là trách nhiệm của tất cả các bên. Trung Quốc phải tình nguyện gánh vác trách nhiệm này cùng với các quốc gia khác như Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hay các quốc gia ASEAN. Trên thực tế, vấn đề an ninh hàng hải quốc tế vẫn luôn do Mỹ đảm nhiệm từ trước tới nay. Mặc dù Trung Quốc đã bắt đầu có năng lực và sức mạnh trong vấn đề này, thế nhưng khả năng gánh vác được trách nhiệm thì vẫn còn quá là xa vời đối với chính họ, cho dù chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh hàng hải trong khu vực mà thôi. Trong lĩnh vực này, hai nước Trung, Mỹ có không gian để có thể hợp tác cùng với nhau rất lớn, mà sự hợp tác như vậy cũng phù hợp với lợi ích quốc gia của chính bản thân Trung Quốc. (Đương nhiên ở đây đề cập đến một vấn đề còn cơ bản hơn, đó là việc Trung-Mỹ sẽ hợp tác như thế nào để xây dựng nên hệ thống an ninh trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Mà điều này đòi hỏi thể hiện trong một bài lập luận khác biệt nữa).

Quản lý và kiểm soát sẽ chính là các lựa chọn.

Thứ ba, một cấp bậc tiếp theo nữa là mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể khối ASEAN. Việt Nam, Philippin, Malaysia và Bruney là những nước thành viên ASEAN có tuyên bố chủ quyền một phần hoặc toàn bộ đối với một số đảo trên Biển Đông. Điều này quyết định đến sự cân nhắc của Trung Quốc về lợi ích tổng thể của khối ASEAN cũng như mối quan hệ giữa Trung Quốc và tổng thể ASEAN. Mặc dù cho tới thời điểm hiện tại, Trung Quốc không sẵn sàng chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thế nhưng cuối cùng thì họ bất đắc dĩ cũng phải thừa nhận, hơn nữa sự chấp nhận này càng sớm bao nhiêu thì sẽ càng có lợi cho Trung Quốc bấy nhiêu. Hãy giả thiết một chút rằng, nếu như “Tuyên bố ứng xử trên Biển Đông” ngay từ những năm trước đã có tính ràng buộc pháp lý rồi thì cục diện Biển Đông sẽ không đến nỗi phát triển như thời điểm hiện tại thế này. Không còn nghi ngờ gì nữa, nếu Trung Quốc chấp nhận chủ nghĩa đa phương, thì “Tuyên bố ứng xửtrên Biển Đông” sẽ vẫn là một lối vào đầy thuận tiện.

Thứ tư, một cấp bậc cuối cùng là nên đối diện với vấn đề tranh chấp chủ quyền như thế nào. Đây là vấn đề vô cùng thiết yếu, Trung Quốc nên từ bỏ chủ nghĩa song phương truyền thống và chấp nhận chủ nghĩa song phương mới, cũng có nghĩa là một chủ nghĩa song phương mới nằm trong cấu trúc của chủ nghĩa đa phương. Điều này nói lên rằng, Trung Quốc và các nước có liên quan đến tranh chấp sẽ có thể tiến hành các cuộc họp thảo luận song phương dưới hình thức cấu trúc đa phương giữa Trung Quốc và ASEAN khi bàn bạc nghiên cứu về vấn đề Biển Đông. Dưới hình thức cấu trúc đa phương như vậy, các quốc gia không liên quan đến tranh chấp Biển Đông sẽ không tỏ rõ thái độ ủng hộ đối với bất cứ một bên nào, lập trường trung lập sẽ là lợi ích lớn nhất của tất cả các bên. Đồng thời khuôn khổ này cũng tạo động lực lớn giúp cho các nước có liên quan đến tranh chấp có thể tiến hành thương lượng thảo luận với Trung Quốc.

Vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp gay gắt. Muốn một bước giải quyết nhanh gọn vấn đề này là không điều không thể xảy ra được. Nếu không giải quyết được vấn đề tồn tại, thì phương án quản lý và kiểm soát sẽ trở thành những cách lựa chọn hợp lý. Nhưng muốn quản lý và kiểm soát được vấn đề tranh chấp Biển Đông thì cần bắt buộc phát triển một loạt các cơ chế pháp lý. Mặc dù Trung Quốc hiện nay đang nằm trong tình thế bị động, thế nhưng không gian mà Trung Quốc có thể hoạt động được lại vô cùng lớn. Là một quốc gia lớn có trách nhiệm thì Trung Quốc cũng nên tìm kiếm các giải pháp để quản lý và kiểm soát vấn đề tranh chấp trên Biển Đông bắt đầu ngay từ trong bối cảnh khu vực thậm chí mở rộng ra quốc tế. Nếu Trung Quốc không thể thay đổi đường lối tư duy truyền thống một cách có hiệu quả thì không gian hoạt động của Trung Quốc trong vấn đề này sẽ ngày càng bị thu hẹp nhỏ lại.

Bản gốc tiếng Trung “中国活在梦中 南海早已彻底输掉

Theo Liên hợp Buổi sáng
Đinh Thị Thu (dịch)

nghiencuubiendong.vn

Bài học ngoại giao hàng đầu là lợi ích quốc gia

Vấn đề độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là một chủ đề nổi bật của Hội nghị Ngoại giao lần thứ 27 khai mạc tại Hà Nội sáng 12.12 (kéo dài đến 19.12).

Hội nghị ngoại giao năm nay có chủ đề “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế và triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị.Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị.

Thách thức về chủ quyền

Trong bài phát biểu khai mạc hội nghị, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhận định rằng, công tác ngoại giao đang diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến đổi, đặc biệt là ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nơi đặt ra nhiều cơ hội và thách thức, nhất là trong việc đảm bảo an ninh, chủ quyền.

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng cho rằng, trong xu thế chung là hoà bình phát triển, tình hình thế giới có nhiều diễn biến bất trắc, phức tạp, khó lường, đó là “các cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ, sự can thiệp thô bạo từ bên ngoài; nạn khủng bố, tranh chấp lãnh thổ, kể cả trên biển, chạy đua vũ trang, các yếu tố đe doạ an ninh phi truyền thống…”.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu bật những thành tựu mà ngành ngoại giao đã đạt được, trong đó có việc giữ vững được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời từng bước giải quyết được nhiều vấn đề về biên giới trên bộ và trên biển với các nước có liên quan, tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi để quản lý biên giới, bảo vệ chủ quyền, mở rộng hợp tác quốc tế, góp phần củng cố hoà bình, ổn định trong khu vực.

Ngành ngoại giao với những đóng góp tích cực và đầy tinh thần trách nhiệm, xây dựng, cũng đã đưa vị thế quốc tế của nước ta trong khu vực Đông Nam Á và Châu Á – Thái Bình Dương cũng như trên thế giới không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng yêu cầu ngành ngoại giao phát huy tinh thần phê bình và tự phê bình, nhìn thẳng vào sự thật, đi sâu phân tích những thiếu sót, yếu kém để khắc phục.

Góp phần soạn thảo COC

Tổng Bí thư nêu bật những bài học của các hoạt động đối ngoại trong thời gian qua, trong đó, “bài học đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc với mục tiêu chiến lược là giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị – xã hội xã hội chủ nghĩa trong sự kết hợp chặt chẽ với nhiệm vụ tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi nhất cho công cuộc phát triển kinh tế – xã hội nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tổng Bí thư cho rằng, điều đó “hoàn toàn không có nghĩa là rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà phải luôn ý thức sâu sắc và làm mọi việc có thể để đóng góp phần mình vào sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, một công việc chủ yếu của ngành ngoại giao trong thời gian tới là góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, kể cả trên biển. Tổng Bí thư chỉ đạo, ngành ngoại giao có trách nhiệm chủ yếu trong việc triển khai đàm phán để tìm kiếm giải pháp cho những tranh chấp trong khuôn khổ song phương trên vấn đề liên quan chỉ tới hai nước và đa phương trên những vấn đề liên quan tới nhiều nước, nhiều bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử trên biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC), đồng thời cùng các nước hữu quan sớm soạn thảo Bản quy tắc ứng xử (COC).

Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ: Vấn đề trên biển là vấn đề phức tạp do lịch sử để lại. Ta khẳng định thoả thuận với Trung Quốc (TQ) là phải giải quyết vấn đề này thông qua thương lượng hoà bình, đối thoại hoà bình, trên cơ sở hũu nghị, luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982 và trên cơ sở tuân thủ đầy đủ nhận thức chung về DOC ký giữa lãnh đạo TQ và ASEAN.

Trong quá trình xây dựng COC, TQ là một bên và phải tham gia. Đây là lợi ích chung không chỉ của ASEAN, mà cả của TQ, làm sao duy trì hoà bình ổn định trên biển Đông, từng bước tìm biện pháp giải quyết bất đồng giữa các nước có liên quan với nhau.

Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Nguyễn Thanh Tân: Các vấn đề biển Đông vừa rồi, chúng ta hiểu rõ lập trường của Ấn Độ (AĐ). AĐ nói rằng họ ủng hộ tự do hàng hải, họ muốn tự do hàng hải được các nước tôn trọng. AĐ vận chuyển dầu và khí đốt từ Viễn Đông qua vùng biển này về AĐ, nên AĐ muốn có một khu vực hoà bình để tiếp tục hợp tác chứ không muốn thấy xung đột.

Hợp tác hải quân giữa Việt Nam và AĐ thì từ lâu lắm rồi. Tàu AĐ ra vào khu vực biển của ta là việc quen thuộc. Hợp tác dầu khí cũng có từ lâu rồi, công ty của AĐ đến trước rất nhiều nước vào thăm dò khai thác biển Đông. Bây giờ chỉ là tiếp tục quá trình đó.

Nhưng AĐ bây giờ đã hiện đại rất nhiều so với những năm 1980, đã trở thành cường quốc. Công nghệ, vốn đầu tư của họ đã khác trước; nên tôi cho rằng thời gian hiện tại và tương lai, hợp tác hai bên về các vấn đề an ninh biển rất hiệu quả, khác trước rất nhiều.

Mỹ Hằng

laodong.com.vn

Lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên cao nhất

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 27 khai mạc hôm qua 12.12 tại Hà Nội, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên cao nhất trong đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại hội nghị – ảnh: TTXVN

Trả lời báo chí về việc gần đây trên báo chí Trung Quốc vẫn xuất hiện một số bài viết đòi giải quyết vấn đề biển Đông bằng vũ lực, Đại sứ VN tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ khẳng định các bài viết đó không đúng với tinh thần thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước.

Đại sứ Thơ cho biết cơ quan ngoại giao Việt Nam cũng đã có những phản ứng với phía Trung Quốc về vấn đề này. “Mặc dù phía Trung Quốc có nói đây không phải là “báo chính thức” nhưng những bài báo như vậy cũng có tác động đến dư luận, tạo ra cái nhìn không đúng, không khách quan về quan hệ Việt – Trung và cũng không góp phần vào tăng cường hữu nghị hợp tác giữa nhân dân hai nước”, ông Thơ nói.

Tổng bí thư chỉ rõ, ngành ngoại giao cần nắm vững tư tưởng chỉ đạo là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế với nguyên tắc xuyên suốt là lợi ích quốc gia, dân tộc là ưu tiên cao nhất.

Tổng bí thư chỉ đạo những công việc chủ yếu mà ngành ngoại giao cần tập trung trong thời gian tới là: đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược tổng thể và có chiều sâu; cụ thể hóa chủ trương hội nhập quốc tế; đề xuất các biện pháp nhằm phát huy vai trò của Việt Nam như một thành viên tích cực, chủ động của các thể chế khu vực và toàn cầu. Bên cạnh đó là việc triển khai ngoại giao toàn diện, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng và an ninh, trực tiếp góp phần đắc lực vào thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH của đất nước và bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị; tích cực triển khai Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, tăng cường công tác bảo hộ công dân, chú trọng công tác thông tin đối ngoại.

Trao đổi với báo chí bên lề hội nghị, Đại sứ Lê Hoài Trung – Trưởng phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc (LHQ) – cho biết tại diễn đàn LHQ, quan điểm của VN về việc giải quyết các khác biệt, tranh chấp tại biển Đông bằng con đường đàm phán hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế trong đó có Công ước luật Biển (UNCLOS) 1982 được đa số các quốc gia hoan nghênh. “Chính sách này của Việt Nam là phù hợp với mục đích chung của LHQ cũng như nguyện vọng chung của hầu hết các quốc gia”, Đại sứ Lê Hoài Trung khẳng định.

Nguyên Phong

thanhnien.com.vn

‘Ngư dân là cột mốc sống chủ quyền lãnh hải trên biển’

Làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi hôm 11/12, trung tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an nhấn mạnh: “Ngư dân là cột mốc sống chủ quyền lãnh hải, nhà nước cần có chính sách bảo đảm an ninh, an toàn trên biển”.

Sáng 11/12, đoàn công tác do Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đã về Quảng Ngãi kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ. Lãnh đạo các bộ, ngành trung ương và địa phương khẳng định vai trò quan trọng của ngư dân trên biển Đông và đề xuất chiến lược phát triển biển đảo trong thời gian tới.

Tàu thuyền xa bờ đang neo đậu ở gần khu vực ngọn Hải đăng, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn(Quảng Ngãi). Ảnh: Trí TínTàu thuyền xa bờ đang neo đậu ở gần khu vực ngọn hải đăng, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Ảnh: Trí Tín.

Trung tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an, khẳng định: “An ninh kinh tế biển là đặc biệt quan trọng. Chủ quyền lãnh hải quốc gia thật sự trên biển phải là ngư dân, bởi lẽ họ là cột mốc sống. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, đầu tư để đảm bảo an ninh, an toàn cho họ yên tâm bám biển, làm ăn lâu dài”.

Đặc thù của vùng duyên hải miền Trung là kinh tế biển gắn liền với chủ quyền an ninh quốc gia. Tỉnh Quảng Ngãi hiện có 5.680 tàu thuyền với gần 60.000 lao động hành nghề đánh bắt thủy sản trên biển, 1/3 trong số này hoạt động ở vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa.

Để có đội tàu mạnh vừa vươn ra khơi xa đánh bắt đạt hiệu quả vừa góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi Võ Văn Thưởng đề xuất Nhà nước cần quan tâm giúp đỡ ngư dân hiện đại hóa phương tiện để đảm bảo an toàn.

Ngư dân chuyển cá đánh bắt từ vùng biển Hoàng Sa lên cảng Sa Kỳ, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn(Quảng Ngãi) tiêu thụ. Ảnh: Trí TínNgư dân chuyển cá đánh bắt từ vùng biển Hoàng Sa lên cảng Sa Kỳ, xã Bình Châu (Bình Sơn, Quảng Ngãi) tiêu thụ. Ảnh: Trí Tín.

Quảng Ngãi có 28 xã ven biển, đời sống ngư dân còn gặp khó khăn, thiếu thốn. Để cải thiện cuộc sống người dân ở vùng ven biển, hải đảo, ông Lê Viết Chữ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi đề xuất: “Chính phủ cần có chương trình riêng, có chính sách để tạo điều kiện phát triển bền vững cho các xã ven biển, đảo. Một khi dân biển có giàu lên thì nền kinh tế biển của nước nhà mới có thể vững chãi được”.

Trí Tín

vnexpress.net

Tạp chí Science ‘lật tẩy’ đường lưỡi bò

Mới đây, một bức thư phản đối về đường lưỡi bò phi lý của GS Phạm Quang Tuấn (Australia) và một số tri thức Việt đã được Tạp chí Science công bố sau nhiều lần trì hoãn.

Bức thư giải thích tính phi pháp của đường lưỡi bò bị chèn vào các ấn phẩm khoa học từ Trung Quốc, cũng như lên án hành động phản khoa học, nghi ngờ mưu đồ chính trị của các học giả Trung Quốc.

Xin điểm qua những chi tiết quan trọng trong bức thư của tri thức Việt được đăng trên Science – Phản hồi bài “Lịch sử nhân khẩu học của Trung Quốc và thách thức trong tương lai” của X. Peng, đăng trên Science vào ngày 29/7/2011, số trang 1581-587:

1. Các bản đồ của Trung Quốc có một đường cong hình chữ U hay còn gọi là đường lưỡi bò kèm theo gần như ôm trọn Biển Đông và các đảo trong đó (quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), rõ ràng ngụ ý rằng các khu vực được tô màu trong đường cong này thuộc về Trung Quốc. Tuy nhiên, các quần đảo này thuộc các vùng lãnh thổ đang bị tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Đài Loan (Trung Quốc). Vì thế việc cho rằng các quần đảo này là lãnh thổ Trung Quốc một cách không thể chối cãi là có vấn đề, đặc biệt là khi chúng gần như không có người ở và không liên quan đến nghiên cứu dân số trong bài báo.

Bài báo Quan ngại về Biển Đông trên Science.

2. Đường cong hình chữ U trong bản đồ thì thực sự ít thuyết phục. Nó chỉ xuất hiện trong các bản đồ Trung Quốc và chỉ được tuyên bố bởi các tác giả Trung Quốc để biểu thị đường ranh giới hàng hải truyền thống của Trung Quốc. Nó được sử dụng chính thức bởi Trung Quốc để khẳng định “quyền chủ quyền và quyền tài phán” đối với các nguồn tài nguyên của biển Biển Đông. Bất cứ nơi nào nó xuất hiện, đường cong này ngang nhiên vi phạm vùng đặc quyền kinh tế200 hải lý (EEZ) các nước khác được công nhận bởi luật pháp quốc tế. Nó mở rộng vượt ra ngoài đường trung tâm giữa các đảo đang bị tranh chấp và bờ biển của các quốc gia khác, và do đó hình thành một yêu sách rộng lớn hơn nhiều so với các vùng nước liên quan đến các quần đảo này.

3. Tuyên bố đơn phương của Trung Quốc đối với các vùng biển mở rộng là chưa từng có trong lịch sử thế giới và vi phạm Luật Biển của Liên Hợp Quốc, mà tất cả các quốc gia xung quanh Biển Đông, bao gồm Trung Quốc, đã phê chuẩn. Việc Trung Quốc đẩy tuyên bố này một cách cương quyết là không nghi ngờ, bằng chứng là các sự cố gần đây trong đó các tàu Trung Quốc quấy rối tàu thăm dò dầu Việt Nam bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

4. Không một quốc gia nào công nhận biên giới biển hình chữ U của TQ. Indonesia và Việt Nam đã chính thức bày tỏ mối quan ngại. Thượng viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết nhất trí lên án hành động của TQ. Không có sự biện minh nào cho một chi tiết gây tranh cãi và phi pháp (trong điều khoản của luật pháp quốc tế) trong một bài báo mang tính học thuật. Người ta chỉ có thể hy vọng rằng sự hiện diện của chi tiết này không phải do áp lực chính trị.

Science đã giật tít “Concern over the South China Sea” tức “Quan ngại về Biển Đông” chứng tỏ họ đã không nhẫn tâm xem nhẹ sự liêm khiết trong môi trường học thuật. Động thái này chứng tỏ rằng Science đã bị khuất phục bởi các tri thức Việt, tôn trọng tính chân thật trong khoa học và phải giữ cho môi trường xuất bản các ấn phẩm khoa học không bị hoen ố bởi những mục tiêu chính trị.

Như vậy đến thời điểm này, hai tạp chí vào hàng bậc nhất trong khoa học, Nature và Science, đã tỏ rõ thái độ không chấp nhận đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc trong các ẩn phẩm khoa học. Đây sẽ là lí do để các tạp chí khác có quyền tẩy chay các bài báo có đường lưỡi bò từ Trung Quốc, bởi một tạp chí khoa học nghiêm túc không bao giờ chấp nhận bị lợi dụng bởi những mục tiêu chính trị và không bao giờ muốn những ấn phẩm của họ bị phản đối.

Như chúng ta đã biết, trong thời gian qua tri thức Việt đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo và yêu cầu các tạp chí khoa học quốc tế phải có hành động bảo vệ sự liêm chính của môi trường khoa học quốc tế trước việc các học giả Trung Quốc lấp liếm chèn đường lưỡi bò phi pháp vào các ấn phẩm khoa học của họ khi gửi công bố trên các tạp chí quốc tế.

Tri thức Việt đã thu được những thắng lợi quan trọng. Một thắng lợi chấn động cả cộng đồng khoa học quốc tế là tạp chí lừng danh Nature đã lên án hành động lấp liếm và phản khoa học cuả các học giả TQ về vấn đề trên, và cũng tuyên bố “sẽ không có chổ cho đường lưỡi bò” trên tạp chí này.

Một tạp chí lừng danh khác là tạp chí Science bị phản đối và cũng đã nhận thức được tính phi pháp của đường lưỡi bò. Tạp chí này cũng đã ra tuyên bố về vấn đề này. Tuy nhiên tạp chí này có phần hơi lấp liếm, kiểu như “có thể đã có sự hiểu nhầm”, “Science không đứng về bên nào” hay “chúng tôi sẽ xem lại quy trình … để tránh lặp lại …”.

Theo người viết, dù Science không nói rõ nhưng họ sẽ không đăng bài có đường lưỡi bò phi pháp của các học giả Trung Quốc. Nhiều nhà khoa học đã tiếp tục phản đối và yêu cầu Science phải giải thích rõ ràng hơn về lập trường của họ đối với đường lưỡi bò và đã đạt được kết quả nói trên. Đây có thể nói là một thắng lợi cực kỳ quan trọng nữa của tri thức Việt trong quá trình đấu tranh xóa đường lưỡi bò của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu.

Kỳ tới: Tường thuật lại quá trình “tranh luận” giữa GS. Phạm Quang Tuấn và biên tập viên của Science

TS Lê Văn Út, ĐH Oslou, Phần Lan (Bee)

baodatviet.vn