Tag Archive | Chính trị – Xã hội

TQ dùng chiến lược ‘nghìn vết cắt’ ở Biển Đông

Bắc Kinh đang ngày càng lấn tới ở Biển Đông với lực lượng mới, chiến thuật mới, con đường mới. Cùng lúc, họ tăng cường hoạt động ở mọi mặt trận từ dân sự tới quân sự; từ trị sự hành chính tới ngoại giao để “bọc lót” cho những lý lẽ lịch sử mơ hồ mà họ luôn đem ra áp dụng cho các yêu sách chủ quyền ở Biển Đông.

Từ tàu cá 

Một ngày đầu tháng 4, tranh chấp Biển Đông bấy lâu âm ỉ bỗng bùng phát thành một vụ đụng độ kéo dài và bế tắc chưa từng có giữa Trung Quốc và Philippines tại bãi cạn Scarborough. Manila cáo buộc ngư dân Trung Quốc xâm nhập và đánh bắt trái phép ở vùng biển thuộc chủ quyền của Philippines được luật pháp quốc tế công nhận. Tàu hải quân Philippines muốn bắt giữ các ngư dân này nhưng Trung Quốc đã lập tức điều hai tàu hải giám ngăn chặn.

Trung Quốc ngay sau đó liên tiếp điều tàu ra bãi cạn để khẳng định sự hiện diện theo kiểu dàn hàng ngang, áp đảo bằng số đông. Philippines phát hiện gần 100 tàu Trung Quốc ở trong và xung quanh bãi cạn, bất chấp lệnh cấm đánh bắt trong khu vực mùa hè này.

Khi cả hai bên quyết định rút tàu khỏi bãi cạn (với lý do thời tiết xấu) thì Trung Quốc cũng chỉ thể hiện cái gọi là “lời nói không theo kịp hành động”. Trong khi Philippines rút hết tàu ở bãi cạn, thì gần đây nhất, vào chiều 19/7, một quan chức an ninh Manila cho biết, Trung Quốc tiếp tục củng cố sự hiện diện tại bãi cạn Scarborough khi có tới 30 tàu xuất hiện ở đây. Theo vị quan chức giấu tên, có những dấu hiệu chứng tỏ các tàu Trung Quốc đang đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines (EEZ).

Cả Trung Quốc và Philippines đều khẳng định chủ quyền với bãi cạn Scarborough. Trung Quốc đưa ra những viện dẫn lịch sử chứng tỏ quyền sở hữu bãi cạn giống như họ vẫn làm với các khu vực tranh chấp khác ở Biển Đông. Manila thì nói bãi cạn nằm trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Philippines được luật pháp quốc tế (Công ước LHQ về Luật biển – UNCLOS) công nhận. Bãi cạn này nằm cách đảo chính Luzon của Philippines hơn 230 km và cách lãnh thổ Trung Quốc hơn 1.200 km.

Ảnh: wordpress

Nếu dùng UNCLOS để giải quyết tranh chấp hai bên, thì Trung Quốc “đuối lý” hơn. Vì thế, dù đã ký kết công ước này, Bắc Kinh không ngại ngần phủ nhận giá trị giải quyết tranh chấp của nó. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi nói đây không phải là “một hiệp ước quốc tế để giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia, cũng không thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo cho việc giải quyết các tranh chấp”.

Đến tàu chiến

Vụ việc tại Scarborough chưa qua, thì một sự kiện khác lại tới ở một khu vực thậm chí còn gần Philiippines hơn là bãi cạn Scarborough. Một tàu khu trục Trung Quốc mà báo chí nước này đưa tin là đang trên đường tuần tra đã mắc cạn ở bãi cạn chỉ cách tỉnh Palawan của Philippines khoảng 110km. Dĩ nhiên Trung Quốc đã tổ chức một chiến dịch cứu hộ rầm rộ, con tàu hộ vệ tên lửa sớm được giải thoát và lên đường trở về cảng nhưng còn để lại sau nó nhiều nghi vấn.

Con tàu này có tên Đông Quan, là một trong số 20 tàu tàu hộ vệ tên lửa thuộc Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc. Nó được trang bị các loại tên lửa mới có tầm bắn 225km (nghĩa là đặt hầu hết các thành phố lớn của Philippines vào tầm ngắm).

Quan chức hải quân Philippines nhận diện nó chính là con tàu đã từng quấy nhiễu, doạ nạt một số tàu cá Philippines năm ngoái.

Rory Medcalf, giám đốc chương trình an ninh quốc tế tại Viện Lowy cho hay, việc Trung Quốc sử dụng tàu hải quân điều tra khu vực tranh chấp là động thái bất ngờ. “Nó đặt ra nhiều câu hỏi. Cơ bản trước đây họ trông chờ vào lực lượng dân sự, bán quân sự”, ông nói. “Điều đó có nghĩa là không sớm thì muộn chúng ta sẽ chứng kiến các vụ đụng độ liên quan tới tàu hải quân thay vì tàu của các cơ quan dân sự”.

Điều động một tàu chiến trọng tải hàng nghìn tấn tới hoạt động những vùng nước nông và nguy hiểm vào ban đêm là một vấn đề. Các vùng nước ở tây Philippines thường nông và rất nhiều chướng ngại vật phía dưới. Thậm chí các tàu cá cũng đi lại rất thận trọng và thường hoạt động vào ban ngày.

Người ta hiểu, giờ đây Trung Quốc đang cố gắng đe doạ tất cả mọi người tránh xa một khu vực mà Trung Quốc không có tuyên bố chủ quyền hợp pháp nhưng quả quyết muốn nắm giữ nó.

Đây là một chiến lược kinh điển của Trung Quốc gọi là “chảy máu tới chết – hay chiến lược chết vì một nghìn vết cắt”. Trung Quốc tránh tuyên chiến nhưng lại gây hấn với đối phương bằng hàng nghìn vụ vi phạm nhỏ kiểu như điều một tàu khu trục (dù già, dù cũ, dù nhỏ) tới tuần tra vùng nước chỉ cách bờ biển của một nước cạnh tranh tuyên bố chủ quyền có vẻn vẹn 111km.

Và lập thành phố toan quản lý cả Biển Đông

Có vẻ như cách thức thỉnh thoảng tạo sự cố, đưa tàu thuyền tiếp cận một đảo đá hay bãi cạn tranh chấp với nước khác ở Biển Đông, chớp nhoáng dựng cột trụ, thả phao neo đậu của Trung Quốc vài năm trước đã thành xưa cũ. Ngang nhiên và thách thức hơn, vào cuối tháng 6, Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa để quản lý ba nhóm đảo chính ở Biển Đông và vùng nước lân cận.

Từ “dò đá qua sông”, từng bước tiến hành các hoạt động nhỏ lẻ để “thử” sức chịu đựng, “đo” mức phản đối của các nước tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông thì nay, Trung Quốc đã không ngần ngại lập một thành phố có bộ máy hành chính quản lý, và dĩ nhiên kéo theo đó là cả lực lượng quân sự với lý do bảo vệ chính quyền ở ngay giữa một vùng biển quốc tế.

Philippines phản đối. Việt Nam phản đối. Vậy nhưng, các hoạt động xây dựng cái gọi là “thành phố Tam Sa” vẫn tiếp tục diễn ra. Ngày 20/7, cơ quan quân sự trung ương Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập và triển khai một đơn vị đồn trú ở Tam Sa. Việc quản lý hàng hải gồm các hoạt động như xây dựng cơ sở hạ tầng, hậu cần, trạm đèn, trạm phát thanh… cũng đã bắt đầu.

Thậm chí, cơ quan quản lý Trung Quốc còn đang nghiên cứu các tuyến du lịch biển ra Tam Sa. Hôm 17/7, tại phiên họp lần thứ 32, Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân (ĐHĐBND) tỉnh Hải Nam, Trung Quốc đã thông qua quyết định thành lập ủy ban tổ chức hội đồng nhân dân của Tam Sa, nghĩa là chính thức bắt đầu việc thành lập chính quyền tại đây.

Chưa hết, ngay sau khi tuyên bố lập Tam Sa và ngay sau khi kết thúc một hội nghị ngoại trưởng khu vực mà tâm điểm nghị sự là tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc đã điều động một đội tàu cá hùng hậu quy mô chưa từng có (30 tàu) ra quần đảo Trường Sa đánh bắt cá. Tàu ngư chính lớn nhất số hiệu 310 được huy động để bảo vệ đội tàu.

Để hỗ trợ thêm cho các hoạt động của chính quyền, Trung Quốc còn thúc đẩy mạnh mẽ chiến dịch tuyên truyền trong dân chúng về thứ mà họ nói là chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Một quan chức ngư nghiệp Trung Quốc gần đây lên tiếng thúc giục chính phủ cung cấp vũ khí và huấn luyện quân sự cho 100.000 ngư dân, để “Trung Quốc sẽ có một lực lượng quân sự mạnh hơn lực lượng của tất cả các nước khác gộp lại ở Biển Đông và sử dụng lực lượng ấy để giải quyết các vấn đề trong vùng biển”.

Và, sau khi thông tin về chuyện lập thành phố Tam Sa, tờ Thời báo Hoàn cầu Trung Quốc đã mở một diễn đàn với chủ đề “Nếu là thị trưởng Tam Sa, bạn sẽ làm gì?”. Tờ này nhấn mạnh: “Là một thành phố cấp địa khu lớn nhất ở Trung Quốc, Tam Sa có vị trí địa lý và chiến lược đặc biệt. Do đó, cần các phương pháp quản lý hoàn toàn khác biệt so với các thành phố khác”. Diễn đàn ngay lập tức thu hút được rất nhiều người tham dự.

Năm 2002, Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký kết Tuyên bố chung về ứng xử của các bên ở Biển Đông, nhằm giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, không đe dọa hay sử dụng vũ lực. 10 năm sau khi thoả thuận ấy ra đời, Trung Quốc đang muốn thay đổi nó và giờ đây thực hiện mọi nỗ lực có thể để độc chiếm toàn bộ Biển Đông.

Thái An
vietnamnet.vn

Advertisements

Biên tập viên Tân Hoa xã phản đối “thành phố Tam Sa”

Biên tập viên Chu Phương: Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc.

Biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã vừa thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc.

Gần đây, khi tình hình Biển Đông căng thẳng, nhất là sau khi Trung Quốc có những bước đi ngang ngược, bất chấp lẽ phải và sự thật như khẳng định yêu sách về “Đường Lưỡi bò”, lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa”, biên tập viên Chu Phương của Tân Hoa xã đã thẳng thắn bày tỏ quan điểm cực lực phản đối chính sách sử dụng vũ lực ở Biển Đông, đòi xóa bỏ cái gọi là “thành phố Tam Sa”…

Đảo Đá Tây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam (Ảnh: Mạnh Hùng)

Nhà báo Chu Phương sinh năm 1960, Cử nhân Anh văn (1982), Thạc sỹ Báo chí truyền thông (1989), từ 1989 đến nay là biên tập viên công tác tại Ban biên tập đối ngoại của Tân Hoa xã.

Ông là một nhân vật nổi tiếng có quan điểm thẳng thắn trong làng báo Trung Quốc. Hồi tháng 3/2012, ông từng gây chấn động dư luận bởi là người viết những bài đầu tiên đăng trên Blog Sina.com phê phán Bạc Hy Lai và “mô hình Trùng Khánh” ngay từ khi nhân vật này còn đang trên đỉnh cao danh vọng và quyền lực. Ngày 17/7, ông cho đăng bài viết “Hiện trạng Nam Hải (Biển Đông) có lẽ sẽ kéo lùi cải cách chính trị của Trung Quốc”.

Trong đó ông viết: “Ý nghĩa lớn nhất của việc lập ra “thành phố Tam Sa” là chường cho bàn dân thiên hạ thấy nỗi nhục của Trung Quốc; đồng thời cũng sẽ buộc chính phủ và quân đội Trung Quốc phải giở bài ngửa với các quốc gia xung quanh và quốc tế… Chúng ta từ nhỏ đã được nhìn thấy tấm bản đồ Nam Hải (Biển Đông).

Một đường biên giới đứt đoạn rất thô màu hồng đưa toàn bộ Nam Hải vào trong bản đồ Trung Quốc. Cho đến ngày nay, chúng ta mới biết sự thực không phải như vậy. Cái đường biên giới quốc gia ấy không những các nước láng giềng và cả quốc tế không công nhận, mà ngay chính phủ và các học giả Trung Quốc cũng không giải thích rõ được”.

Trước đó, ngày 29/6, Chu Phương viết bài: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là trò cười quốc tế, mạnh mẽ yêu cầu hủy bỏ ngay!”. Bài này đã được nhiều diễn đàn mạng đăng lại.

Biên tập viên Chu Phương

Chu Phương viết: “Nhiều người dân nước ta đến giờ vẫn không hiểu tại sao Nga lần đầu tiên lại tham gia cuộc diễn tập quân sự lớn Thái Bình Dương do Mỹ chủ đạo. Kỳ thực, đó chính là sự phản ứng mạnh mẽ của quốc tế trước hành động thiết lập “thành phố Tam Sa” đi ngược lại luật quốc tế và vô trách nhiệm của Trung Quốc.

Nếu giai tầng lãnh đạo Trung Quốc đến giờ vẫn không đọc hiểu được thứ ngôn ngữ quốc tế chung đó thì sẽ kéo nhân dân Trung Quốc sa vào một cuộc chiến tranh không thể thoát ra.

Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là một trò cười quốc tế điển hình. Chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận sõ sai lầm to lớn của mình, sớm có hành động sửa chữa sai sót.

Bản thân tôi mạnh mẽ kêu gọi: hãy lập tức hủy bỏ “thành phố Tam Sa”, triển khai sớm nhất có thể được việc đối thoại mang tính xây dựng với các nước xung quanh Nam Hải (Biển Đông), dốc sức cho việc làm dịu tình hình căng thẳng ở Nam Hải, loại bỏ nguy cơ chiến tranh, đưa Trung Quốc quay trở lại với đại gia đình quốc tế”.

Chu Phương viết: “Trung Quốc đã trải qua kiểu hành động tùy tiện thời “Cách mạng văn hóa”, đã tự mình nếm trải thời kỳ “chính trị thống soái”, cần phải nhận thức được mình là thành viên của đại gia đình quốc tế, cần phải tuân thủ các chuẩn tắc và quy phạm mà cả cộng đồng quốc tế tuân theo.

Trong xử lý công việc quốc tế, nhất là xử lý các vấn đề phức tạp, tồn tại tranh chấp nghiêm trọng giữa các quốc gia, tuyệt đối không được tự mình hành động một mình theo quan niệm giá trị, quan niệm lịch sử và lập trường của mình, chỉ nói điều mình nghĩ; như thế không những không giúp gì cho việc giải quyết tranh chấp quốc tế, mà còn làm tình hình xấu thêm, gia tăng thêm quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước xung quanh.

Đồng thời cũng làm tổn hại đến hình ảnh và địa vị quốc tế của Trung Quốc, làm suy yếu tiếng nói của Trung Quốc trên trường quốc tế.

Trong vấn đề ngoại giao, trong xử lý công việc quan hệ quốc tế, chúng ta cần phải có thêm nhiều nhà ngoại giao, nhà chiến lược quốc tế và những chính trị gia thực sự có tầm để tham gia vào việc quyết sách; quyết không nghe theo tiếng gào thét của những “cuồng nhân chiến tranh” hay để cho quân sự chỉ huy chính trị. Kinh nghiệm lịch sử của tất cả các quốc gia cho thấy rõ: quân nhân can dự chính trị chỉ đem lại tai họa cho đất nước”.

Đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam (Ảnh: Mạnh Hùng)

Về việc Chính phủ Trung Quốc vội vàng tuyên bố lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm toàn bộ vùng biển trong “Đường biên giới 9 đoạn” mà họ tự vạch ra một cách vô căn cứ, Chu Phương thẳng thắn bày tỏ quan điểm: “Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông), khiến cả quốc tế chê cười những nhà quyết sách Trung Quốc thiếu kiến thức về luật quốc tế muốn thông qua việc thiết lập “thành phố”, ngang nhiên đưa công hải (vùng biển quốc tế) vào lãnh hải của nước mình.

Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc. Quá trình thiết lập “thành phố Tam Sa” thể hiện sự nóng vội và cẩu thả, rõ ràng là quyết định được đưa ra thiếu luận chứng khoa học và không sáng suốt.

Việc thiết lập “thành phố Tam Sa” là bước đi sai lầm nhất và không sáng suốt nhất của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Nam Hải (Biển Đông). Cách làm sai trái ấy không chỉ tạo ra tiền lệ quốc tế, mà còn trở thành trò cười quốc tế, tất sẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến hình ảnh quốc tế của Trung Quốc.

Biên tập viên THX Chu Phương

Hành động này không chỉ đi ngược lại luật pháp và tập quán quốc tế, mà cũng trái với những quy định pháp luật của chính Trung Quốc về việc thành lập thành phố, càng đi ngược lại quốc sách và chiến lược phát triển hòa bình phù hợp mà Trung Quốc cần có”.

Ông phân tích: “Hành động sai lầm nguy hiểm vô trách nhiệm của một số người trong việc thiết lập “thành phố Tam Sa” đang đẩy nhân dân Trung Quốc sa vào miệng hố chiến tranh. Nhân dân Trung Quốc cần hòa bình, không cần chiến tranh. Trong việc xử lý vấn đề quốc tế và xử lý vấn đề quan hệ với các nước, Trung Quốc cần phải tỉnh táo, không được cuồng nhiệt. Trung Quốc cần làm một dân tộc có trách nhiệm, đứng thẳng giữa khu rừng các dân tộc thế giới; quyết không thể làm một “cô nhi thế giới” hành động ngang bướng. Trong việc giải quyết công việc quốc tế, Trung Quốc cần phải học cách tuân theo quy tắc trò chơi đã được cả quốc tế công nhận, tránh một mình một kiểu, mình khen mình hay, đừng để trở thành Triều Tiên thứ hai”.

Chu Phương thẳng thắn đề xuất ý kiến cá nhân: “Đối với vấn đề “thành phố Tam Sa”, chính phủ Trung Quốc cần sớm nhận ra sai lầm lớn lao của mình, xin đừng ngại mất thể diện mà bỏ lỡ thời cơ. Trung Quốc cần sớm hành động, sửa chữa sai sót…

Kinh nghiệm lịch sử cho chúng ta thấy, một Trung Quốc cô lập sẽ không có tiền đồ. Việc Nga tham gia cuộc diễn tập quân sự Thái Bình Dương vẫn chưa khiến một số chính khách và quân nhân của ta tỉnh ra.

Trong thế giới ngày nay, sự phát triển của một quốc gia càng cần có sự quan tâm, tham dự và giúp đỡ của cộng đồng quốc tế. Đừng nói gì Trung Quốc đang tự coi mình là “quốc gia đang phát triển”, mà ngay cả Mỹ, “Siêu cường quốc duy nhất thế giới” hiện cũng đang ngày càng biết cách lợi dụng và dựa vào cộng đồng quốc tế để đạt được mục đích của mình”.

Ông kết luận: “Thiết lập “thành phố Tam Sa” là hành động tự cô lập mình của Trung Quốc, là một sai lầm chiến lược to lớn cần phải nhanh chóng sửa chữa!”./.

Thu Thủy/báo Tiền phong
vov.vn

Phản đối Trung Quốc “bầu đại biểu HĐND ở Tam Sa”

Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Lúc 19h10 tối 21/7 (tức 18h10 cùng ngày, giờ Hà Nội), trang web của Đài Phát thanh Quốc gia Trung Quốc (CNR) đã phát tin của phóng viên Chu Vĩnh cho biết cùng ngày, hơn 1.100 cử tri thuộc 15 khu vực bầu cử ở 3 quần đảo: Tây Sa (Hoàng Sa của Việt Nam), Nam Sa (Trường Sa của Việt Nam) và Trung Sa đã đi bỏ phiếu bầu đại biểu Hội đồng Nhân dân (HĐND) thành phố Tam Sa khóa 1.

Đây là hành vi xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định “Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

Trước đó, sau khi phía Trung Quốc có quyết định thành lập thành phố Tam Sa thì ngày 23/6, lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa và lãnh đạo thành phố Đà Nẵng đã lên tiếng phản đối quyết định sai trái và phi pháp này, làm tổn hại quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa khẳng định huyện đảo Trường Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Khánh Hòa.

Ông Văn Hữu Chiến, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng khẳng định huyện đảo Hoàng Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của thành phố Đà Nẵng.

Việc Trung Quốc tiến hành bầu cử HĐND ở khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam diễn ra chỉ một ngày sau khi người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước này, ông Hồng Lỗi nêu rõ Trung Quốc sẵn sàng cùng các nước ASEAN thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) một cách toàn diện và hiệu quả, cũng như tham vấn để hoàn thiện Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)./.

Theo Vietnamplus
vov.vn

Quyết tâm giữ gìn, bảo vệ biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc

(VOV) – Biển nước ta là nơi nương tựa của hàng chục triệu người dân đất Việt, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ và phát triển đất nước.

Biển và đại dương là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về các nguồn lương thực, thực phẩm, năng lượng và nguyên nhiên liệu. Nhưng, sự hiểu biết kỹ lưỡng về chúng lại chủ yếu thuộc về các nhà khoa học và các nhà quản lý chuyên ngoành; trong khi, để quản lý, khai thác lâu dài nguồn lợi khổng lồ này lại cần đến sự tham gia của các bên liên quan của người dân ven biển và của toàn xã hội.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo vì sự phát triển bền vững đất nước cũng như ý nghĩa quan trọng của ngày Đại dương Thế giới (8/6), tại Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 về quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, phần về các hình thức tuyên truyền đã đề cập là tổ chức Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam để hưởng ứng ngày Đại dương Thế giới và các sự kiện lớn trong nước, quốc tế gắn với yêu cầu quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. Tại văn bản số 950/TTg-KTN ngày 12/6/2009, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương ven biển tổ chức hàng năm, từ ngày 1 – 8/6 để hưởng ứng ngày Môi trường thế giới (5/6) và ngày Đại dương thế giới (8/6).

Biển Việt Nam là vùng biển giàu tài nguyên thiên nhiên và thắng cảnh đẹp.

 

Kỷ niệm Ngày Đại dương thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam hàng năm là dịp để Việt Nam khẳng định tiềm lực lớn về kinh tế biển; thể hiện ý chí quyết tâm phát triển toàn diện ngành nghề biển, bảo vệ tài nguyên môi trường vùng biển đảo bền vững. Đồng thời, với việc đẩy mạnh chương trình hành động cụ thể, thực hiện 6 mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển; đồng thời bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển.

Biển nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên, là nơi nương tựa của hàng chục triệu người dân đất Việt, là không gian sinh tồn của dân tộc, là địa bàn chiến lược trong bảo vệ và phát triển đất nước, là phần Tổ quốc thiêng liêng trên biển của đất nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế… Vì vậy, việc tổ chức thành công hàng năm “Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam” với các hoạt động thiết thực đối với đất nước và bắt nhịp với yêu cầu thời đại; sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho toàn xã hội, toàn hệ thống chính trị và từng người dân về chức năng, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển và đại dương đối với sự phát triển bền vững đại dương, đối với việc giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu thế giới nói chung và đối với Việt Nam nói riêng. Từ đó, khơi dậy ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, lòng tự hào, ý thức dân tộc của mọi người dân Việt Nam đối với chủ quyền vùng biển của Tổ quốc, đối với chính cuộc sống của cộng đồng và đối với sự nghiệp phát triển kinh tế biển lâu dài của đất nước, góp phần đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển.

Kỷ niệm Ngày Đại dương thế giới và Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam còn là dịp tuyên truyền, vận động mọi người dân nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của tài nguyên và môi trường biển, đảo; lòng tự hào, ý thức dân tộc đối với chủ quyền vùng biển của tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Phấn đấu đến năm 2020, kinh tế biển đóng góp 53-55% GDP, 55-60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội đất nước.

Mục đích hướng tới của việc tổ chức Tuần lễ Biển và Hải đảo năm 2012 là: Tiếp tục nâng cao nhận thức về vị trí, tầm quan trọng của biển, hải đảo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cũng như tôn vinh những giá trị của đại dương đối với sự sống của nhân loại, tính cấp thiết của việc bảo vệ đại dương. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên, môi trường biển, hải đảo. Nâng cao ý thức vươn ra biển, làm giàu từ biển trong cộng đồng người Việt Nam, từng bước khẳng định vị thế Việt Nam là một quốc gia mạnh về biển trong khu vực. Tuyên truyền kịp thời những mô hình, điển hình trong phát triển kinh tế biển, trong công tác quản lý, khai tác và bảo vệ bền vững tài nguyên, môi trường biển, hải đảo hiện nay.

Ông Nguyễn Văn Cư, Tổng cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam – Bộ TN-MT đang phát biểu tại buổi họp báo về tổ chức tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam 2012.

 

Ông Nguyễn Văn Cư, Tổng cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam – Bộ TN-MT cho biết: Nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo và địa phương; nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của biển và hải đảo là một trong những vấn đề trọng tâm. “Việt Nam mạnh từ biển và giàu lên vì biển” hướng đến. Bên cạnh đó, vẫn phải chú trọng đến việc giữ vững quốc phòng an ninh và chủ quyền”.

Sự hưởng ứng nhiệt tình của các cấp, các ngành, các địa phương trong việc kỷ niệm Ngày Đại dương thế giới và hưởng ứng Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam là công việc cần thiết để duy trì một truyền thống mới để khai thác, sử dụng và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam và nhờ đó, góp phần vào giữ cho đại dương của nhân loại được khỏe mạnh, đặc biệt là cho các thế hệ tương lai của chúng ta./.

Lê Vũ-Phạm Thanh/VOV online
vov.vn

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ dự án xâm phạm chủ quyền

(VOV) – Mọi hoạt động ở khu vực quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa mà không được sự đồng ý của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Báo chí Trung Quốc vừa qua đưa tin liên quan đến một số hoạt động của một số bộ ngành của Trung Quốc ở Biển Đông từ đầu năm đến nay như: Bộ trưởng Giao thông Trung Quốc ra đảo Hoàng Sa thị sát tàu Hải Tuần; Cục trưởng Cục thể thao Trung Quốc đến thăm đảo Phú Lâm, Quần đảo Hoàng Sa khảo sát tình hình triển khai hoạt động thể dục thể thao; Viện nghiên cứu Môi trường và Khảo sát công trình hải dương “Nam Hải” thực hiện dự án đo đặc, giám sát, phân tích và đánh giá sự thay đổi của một số đảo điển hình ở quần đảo Hoàng Sa. Cục trưởng Cục ngư chính khu “Nam Hải” Trung Quốc cho biết Trung Quốc có kế hoạch về việc xây dựng căn cứ nghề cá ở đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa và xây dựng cầu tàu và căn cứ dịch vụ nghề cá ở Trường Sa.

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị

Ngày 23/2, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước những việc làm trên của phía Trung Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị khẳng định: Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, làm phức tạp và căng thẳng thêm tình hình trên Biển Đông, trái với Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, không phù hợp với Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như các cam kết duy trì ổn định, hòa bình trên biển.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động, hủy bỏ các dự án xâm phạm chủ quyền của Việt Nam nêu trên, cùng các bên liên quan hợp tác giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông, thực hiện nghiêm túc DOC./.

N.T/VOVonline
vov.vn

TQ tăng tốc ảnh hưởng ở Biển Đông

Chậm mà chắc, sức nóng ngoại giao ở Biển Đông đang gia tăng. Không còn nơi nào khác trên thế giới mà an ninh năng lượng lại quá phụ thuộc vào những gì nằm sâu dưới đáy biển, vào việc kiểm soát cũng như tự do của các lộ trình vận chuyển hàng hải như thế.

Ảnh: wordpress

An ninh năng lượng nghĩa là một quốc gia cảm thấy an tâm khi biết người tiêu dùng sẽ có thể tiếp cận với nguồn năng lượng đầy đủ, giá thành hợp lý và chất lượng từ rất nhiều nguồn trong thời bình cũng như thời chiến.

Trong bối cảnh đó, chúng ta thực sự nhận thấy sự cân bằng an ninh mới giữa một Trung Quốc trỗi dậy và một nước Mỹ hiện thời.

Sự thất bại của ASEAN khi kết thúc hội nghị hàng năm mà không có tuyên bố chung đã nhấn mạnh thực trạng cạnh tranh trong tuyên bố chủ quyền giữa Trung Quốc và một số thành viên ASEAN ở những vùng khác nhau của Biển Đông.

Philippines, Malaysia, Việt Nam, Brunei và Trung Quốc đều đưa ra tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Trong đó Trung Quốc có yêu sách lớn nhất, hầu như bao trùm toàn bộ vùng biển, thậm chí là cả khu vực sát cạnh bờ biển nước khác. Nhiều người lo ngại rằng, yêu sách chủ quyền của Trung Quốc phản ánh cái gọi là “Học thuyết Monroe” của nước này.

Trung tâm tranh chấp là sự khẳng định chủ quyền mỗi nước với các nhóm đảo nhỏ. Hầu hết là rất nhỏ, phần nhiều trong đó chỉ có thể nhìn thấy khi thuỷ triều xuống rất thấp. Nhưng theo đúng nghĩa đen, thì các đảo càng nhỏ, càng ngập nước lại càng trở thành điểm nóng tranh chấp.

Vấn đề trở nên phức tạp hơn khi các bên tuyên bố chủ quyền vận dụng luật pháp quốc tế. Ở đây không phải là chuyện cạnh tranh chủ quyền giữa các nước khác nhau, mà còn là cách hiểu và sử dụng cơ sở pháp lý khác nhau. Ví dụ, quan điểm về luật pháp quốc tế của Trung Quốc – dựa trên truyền thống cổ xưa, lịch sử và vị trí của riêng họ trong thế giới – khác hẳn với quan điểm của phương Tây đã định hình luật pháp quốc tế trong vài thế kỷ qua.

Và sau đó, không có gì ngạc nhiên khi mặc dù đã ký kết Công ước LHQ về Luật Biển, thì Trung Quốc lại càng thờ ơ trong việc ủng hộ Công ước. Thực tế là Trung Quốc không muốn tranh chấp giữa họ và các nước Đông Nam Á ở Biển Đông được đề cập tại hội nghị. Về phần mình, Mỹ lại quan tâm khuyến khích các cuộc thảo luận này.

Và cũng chẳng mấy bất ngờ khi Trung Quốc đã bắt đầu cuộc tập trận quân sự không quân và hải quân từ hôm thứ ba.

Ngay cả khi cuộc tranh chấp tài nguyên dầu khí tồn tại và có thể leo thang, thì Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Philippines vẫn chủ yếu trông vào việc vận chuyển số lượng lớn dầu khí nhập khẩu.

Nhìn vào vai trò quan trọng của Nhật, Hàn Quốc và Philippines trong cuộc chơi an ninh của Mỹ tại châu Á, đặc biệt trong sự cân bằng với một Trung Quốc đang trỗi dậy – thì không khó để nhận thấy, những lộ trình vận chuyển ấy – như Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tuyên bố – là “cực kỳ quan trọng” với Mỹ.

Tất nhiên, bất kỳ thành công nào trong việc khẳng định chủ quyền với nhóm đảo tranh chấp ở Biển Đông sẽ góp phần xác định phạm vi mà nước tuyên bố chủ quyền có thể khai thác tài nguyên dưới đáy biển và xung quanh đó. Nó còn cho phép mỗi quốc gia tuyên bố chủ quyền của mình với vùng lãnh hải xung quanh các đảo.

Mặc dù luật pháp quốc tế cho phép qua lại tự do ở các lãnh hải, nhưng không khó để hình dung rằng, một quốc gia nào đó có thể viện ra các lý lẽ để gây khó dễ với tàu chở dầu và khí đốt. Cũng không khó để thấy một cuộc khủng hoảng có thể nhanh chóng leo thang thế nào khi nguồn cung dầu và khí bị đe dọa.

Thái An (theo Australian Financial Review)
vietnamnet.vn

Cảnh sát biển Việt Nam và nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền

Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh trật tự an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam và Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

(ĐVO) Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài 3.260km và  vùng thềm lục địa rộng gần 1 triệu Km2 bao gồm hơn 3.000 hòn đảo, trong đó có hai quần đảo lớn Hoàng Sa – Trường Sa. Biển Việt Nam cũng có giá trị kinh tế rất cao, là nguồn sống của 4 triệu ngư dân (có 1,3 triệu ngư dân đánh bắt xa bờ) ở 28 tỉnh thành trong cả nước.

Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận ra tầm quan trọng của kinh tế biển và các vấn đề phức tạp trong công tác bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, bảo vệ tài nguyên biển quốc gia. Năm 1998, Chính phủ quyết định thành lập lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam để thực thi pháp luật trên biển.

Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh trật tự an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam và Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Điều 1, Pháp lệnh Cảnh sát biển Việt Nam).

Quân phục Cảnh sát biển Việt Nam

Lực lượng cảnh sát biển ra đời, đòi hỏi cần có kiểu trang phục phù hợp với nhiệm vụ. Ngày 5/8/1998, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định về kiểu mẫu, màu sắc và quy định sử dụng quân phục, biểu tên đơn vị, quân kỷ của Cảnh sát biển Việt Nam.

>> Hình ảnh đẹp về lực lượng cảnh sát biển

Cơ bản, cảnh sát biển dùng bộ quân phục thường dùng và dã chiến như sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Lục quân nhưng có khác về màu sắc.

Những người chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam.

Cụ thể, quân phục đông thì áo ngoài có màu xanh dương, áo sơ mi mặc trong màu xanh hòa bình nhạt, quần màu xanh dương. Quân phục hè có áo màu xanh hòa bình nhạt, quần xanh dương.

Về quân phục nghiệp vụ, hạ sĩ quan – chiến sĩ đi giày da đen, mang thắt lưng to có dây choàng vai, phù hiệu gắn trên cánh tay áo bên trái.

Về mũ, cảnh sát biển dùng kiểu mũ giống với sĩ quan Lục quân nhưng khác về màu (vành mũ có màu xanh hòa bình, thành mũ màu xanh dương). Nhưng đặc biệt nhất, cảnh sát biển có thêm mũ bere dệt định hình màu tím than, trước có ô đê đeo quân hiệu.

Thắt lưng to có dây đeo qua vai màu trắng, phía trước có khóa trắng gắn hình mỏ neo và chữ CSB màu đen, giày đen thấp cổ, có chun cơ động khi tháo ra.

Trang bị của cảnh sát biển

Để lực lượng cảnh sát biển có thể thực hiện tốt nhiệm vụ: kiểm tra, kiểm soát để bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên biển, phòng chống ô nhiễm môi trường; phát hiện ngăn chặn, đấu tranh các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam.

Trong những năm qua, chính phủ đã quan tâm và tiến hành đầu tư đóng nhiều loại tàu tuần tra, mua sắm trang thiết bị hiện đại cho cảnh sát biển.

>> Cảnh sát biển Việt Nam trang bị hiện đại
>> Hạ thủy tàu Cảnh sát biển Việt Nam CSB 9003

Hiện nay, trong biên chế của cảnh sát biển có nhiều tàu tuần tra TT-120, tàu TT-200 và  tàu TT-400 với lượng giãn nước lần lượt là 120, 200 và 400 tấn. Đây đều là loại tàu cao tốc vỏ thép, tính tự động hóa cao, lắp đặt nhiều thiết bị điện tử hiện đại, có khả năng chịu sóng gió cấp 8-10. Các tàu thường được vũ trang tháp pháo cỡ nòng nhỏ để phòng vệ khi cần.

Đặc biệt, những tàu này đều do Viện kỹ thuật Hải quân thiết kế và xí nghiệp đóng tàu Hồng Hà sản xuất trong nước.

Tàu tuần tra cao tốc TT-200 của Cảnh sát biển Việt Nam.

Để đáp ứng nhiệm tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn ngư dân gặp nạn trên biển, Cảnh sát biển còn được trang bị thêm 4 tàu kéo cứu hộ (CSB 9001, 9002, 9003, 9004) do Tập đoàn Damen Hà Lan thiết kế, công ty Sông Thu sản xuất trong nước. Tàu kéo này có lượng giãn nước 1.400 tấn, dài 52,4m, rộng 12m. Tàu hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, sóng to gió lớn, thời gian 30 ngày đêm.

Tàu còn trang bị tổ hợp máy bơm cứu hộ để chữa cháy khi cần. Thông quan cửa thông biển riêng, tổ hợp sẽ cung cấp nước cứu hỏ, bọt Foam chống cháy ra 2 súng phun đặt trên nóc cabin có thể đạt tầm xa 75m.

Trong tương lai gần, đội tàu Cảnh sát biển sẽ có thêm tàu hiện đại DN 2000 do Tập đoàn Damen Hà Lan thiết kế, doanh nghiệp đóng tàu Việt Nam thực hiện. Tàu DN-2000 có thể thực hiện vai trò cứu hộ cứu kéo tàu bị nạn, chuyển quân, chi viện hậu cần cho các lực lượng khác trên biển đảo. DN 2000 còn được thiết kế một sân đỗ trực thăng ở đuôi tàu.

Cảnh sát biển Việt Nam cũng được trang bị 3 máy bay tuần thám biển C-212-400 do Tập đoàn CASA Tây Ban Nha thiết kế sản xuất.

Máy bay C212-400 trang bị hai động cơ tuốc bin cánh quạt TPE-331-12JR cho phép đạt tốc độ tối đa 360km/h, trần bay 3.300m, có khả năng cất cánh đường băng ngắn (khoảng 395m). Theo thiết kế của nhà sản xuất, C212-400 có thể mang súng máy và rocket để tham gia tấn công trên biển.


Cảnh sát biển Việt Nam  bảo vệ chủ quyền, chống buôn lậu, cứu hộ cứu nạn trên biển.
Nguồn: báo Quân đội Nhân dân

Hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam

Phải quản lý vùng biển và thềm lục địa rộng lớn, nhiệm vụ của Cảnh sát biển Việt Nam hết sức nặng nề. Cảnh sát biển phải vừa thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát bảo vệ chủ quyền, vừa chống buôn lậu trên biển, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn…

>> Cảnh sát biển sẽ có mặt liên tục tại vùng ranh giới thềm lục địa
>> Cảnh sát biển Việt Nam bảo vệ chủ quyền

Trong vai trò bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc, những năm qua cảnh sát biển đã thường xuyên tiến hành chuyến tuần tra kiểm soát trên vùng biển Việt Nam, kiên quyết xử lý các hành động vi phạm chủ quyền của tàu nước ngoài.

Đặc biệt, gần đây, các hoạt động vi phạm lãnh hải ngày càng gia tăng, nhiệm vụ của cảnh sát biển càng thêm nặng, phải thường xuyên túc trực, sẵn sàng nhổ neo tiến ra biển bảo vệ ngư dân, bảo vệ biển. Cảnh sát biển cũng phối hợp chặt chẽ với hải quân cùng thực hiện nhiệm vụ bảo chủ quyền tổ quốc, đặc biệt ở khu vực đang xảy ra các tranh chấp gay gắt những năm gần đây.

Tàu cảnh sát biển trong chuyến tuần tra bảo vệ chủ quyền.

Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng khác mà cảnh sát biển phải tham gia đấu tranh, chống buôn lậu (buôn ma túy) bằng đường biển. Những năm qua, cảnh sát biển đã tiến hành kiểm tra xử lý hàng nghìn tàu thuyền vi phạm, phá thành công hơn 100 chuyên án lớn.

Tháng 5/2008, cảnh sát biển đã phối hợp với công an và hải quan bắt chuyến tàu chở 8,8 tấn nhựa cần sa – đây có thể nói là vụ vận chuyển ma túy vào Việt Nam lớn nhất từ trước tới nay.

Bên canh nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự trên biển, cảnh sát biển cũng là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển khi có tình huống khẩn cấp xảy ra. Những năm qua, cảnh sát biển đã cứu được hàng trăm ngư dân Việt Nam (và nước ngoài) cùng phương tiện tàu cá gặp nạn.

Với bà con ngư dân, cảnh sát biển cũng “kiêm nhiệm” tuyên truyền vận động ngư dân nắm vững pháp luật, tôn trọng điều ước quốc tế để từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh chống sự xâm phạm lãnh hải của nước ngoài.

“Những năm tới, tình hình trên biển Đông vẫn còn diễn biến rất phức tạp. Vì vậy, cần tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Trong đó, cảnh sát biển là nòng cốt, cần tập trung vào một số nội dung chính  như xây dựng đội ngũ, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên có bản lĩnh chính trị vững vàng; có trình độ chuyên môn giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng và Tổ quốc, Nhân dân; sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trên giao, xử lý tốt các tình huống trên biển để đáp ứng cả nhiệm vụ trong nước và quốc tế”, Chuẩn Đô đốc Phạm Đức Lĩnh, Cục trưởng Cảnh sát biển nói.

Phượng Hồng
baodatviet.vn

Ngoại trưởng Mỹ kêu gọi không sử dụng vũ lực ở Biển Đông

(VOV) – Tuyên bố trên của bà Hillary Clinton được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông tăng cao.

Ngày 12/7, tại Hội nghị Cấp cao Đông Á diễn ra tại Phnom Penh, Campuchia, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đưa ra lời cảnh báo về các mối đe dọa trong tranh chấp ở Biển Đông.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tại Hội nghị Cấp cao Đông Á (Ảnh: Reuters)

Ngoại trưởng Mỹ Clinton bày tỏ quan điểm muốn có các cuộc đàm phán giữa các bên để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.

Trong một thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, bà Hillary Clinton nhấn mạnh: “Chúng tôi tin rằng, các quốc gia trong khu vực nên hợp tác và đối thoại ngoại giao để giải quyết tranh chấp mà không cần phải đe dọa, gây áp lực và sử dụng tới vũ lực”.

Tuyên bố trên của bà Clinton được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông tăng cao, khi Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền không thể tranh cãi tại một số khu vực tranh chấp với một số quốc gia khác trong khu vực.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho biết: Trước khi có cuộc hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì vào ngày 12/7, hai bên sẽ thảo luận với nhau để tìm được tiếng nói chung nhằm đảm bảo ứng xử đúng đắn với các vấn đề nhạy cảm ở châu Á.

Tại Hội nghị, Mỹ cũng khẳng định mối quan tâm đến Biển Đông vì đây là khu vực chiếm một nửa khối lượng vận chuyển hàng hóa của thế giới./.

Bích Lan/VOV online
(Theo Reuters)
vov.vn

Tàu “công xưởng” vi phạm luật Biển quốc tế

Nhiều học giả khẳng định việc Trung Quốc đưa tàu Hải Nam Bảo Sa 001 ra biển Đông từ tháng 5 là vi phạm Công ước LHQ về luật Biển.

Tàu Hải Nam Bảo Sa 001 (gọi tắt là 001), tải trọng 32.000 tấn với 600 công nhân cùng 14 dây chuyền chế biến, đông lạnh hải sản thực sự là một công xưởng trên mặt biển và có thể vận hành giữa biển 9 tháng liên tục. Ngoài chức năng chế biến thủy sản, 001 cũng được trang bị hệ thống thông tin và radar hiện đại, giúp phát hiện và phân biệt từ xa tàu của nước ngoài, rồi lập tức gửi thông báo về giới chức Trung Quốc.

Trao đổi với PV Thanh Niên, Giáo sư Carlyle Thayer từ Học viện Quốc phòng Úc nói nguồn cá trong các vùng biển của mình đã cạn kiệt nên Trung Quốc đưa 001 cùng đội tàu hộ tống, tiếp liệu tới những vùng nước sâu hơn trong biển Đông. Do lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm do Trung Quốc tự ý đưa ra bao trùm cả vùng biển phía bắc từ vĩ tuyến 12 trở lên, tàu 001 chỉ hoạt động được ở vùng biển quanh quần đảo Trường Sa.

Với công suất chế biến mỗi ngày đến 2.100 tấn hải sản từ đội tàu đánh bắt, “cách thức khai thác của Trung Quốc có thể dẫn đến sự tuyệt diệt của nhiều nguồn lợi hải sản và làm biến đổi vĩnh viễn môi trường biển”, Giáo sư Thayer nhận định. Hai nhà nghiên cứu Youna Lyons và Tara Davenport tại Trung tâm luật quốc tế thuộc ĐH Quốc gia Singapore cũng cho rằng với chủ trương tận thu, những mẻ lưới cào quét đáy biển của đội tàu này có thể tiêu diệt cả những loài sinh vật không có giá trị thương mại, hủy hoại đa dạng sinh học của cả vùng biển.

Giáo sư Thayer cùng 2 chuyên gia luật Lyons và Davenport cũng chỉ ra rằng việc Trung Quốc triển khai đội tàu 001 ở biển Đông là vi phạm Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) ở nhiều mặt.

Tàu công xưởng Hải Nam Bảo Sa 001 của Trung Quốc - Ảnh: ChinanewsTàu công xưởng Hải Nam Bảo Sa 001 của Trung Quốc – Ảnh: Chinanews

Trước hết, “việc Trung Quốc đưa đội tàu này đến biển Đông đặt ra những câu hỏi chính đáng về cơ sở mà nước này đòi hỏi quyền lợi đối với nguồn cá trong biển Đông”. Rõ ràng, “Trung Quốc chỉ có thể lập luận rằng họ có một dạng quyền đánh cá mang tính lịch sử ở biển Đông hoặc là họ đang đánh bắt trong vùng đặc quyền kinh tế  (EEZ) của họ quanh Trường Sa hoặc Hoàng Sa. Tuy nhiên, cả hai lập luận này đều bị thách thức bởi các nước có tuyên bố chủ quyền khác”, 2 nữ chuyên gia viết trong mục Bình luận của Trường nghiên cứu quốc tế Rajaratnam, Singapore.

Mặt khác, “cứ cho là Trung Quốc bất chấp đúng sai tự cho mình quyền đánh bắt cá trong vùng EEZ quanh Hoàng Sa hoặc Trường Sa, họ cũng phải nhớ rằng quyền đánh bắt không phải là vô hạn”, 2 chuyên gia viết. Còn Giáo sư Thayer lập luận: “Người ta đang cực kỳ quan ngại rằng tàu Hải Nam Bảo Sa 001 sẽ làm cạn kiệt nguồn cá mà Việt Nam và Philippines được thụ hưởng. Điều đó vi phạm UNCLOS”.

Cả 3 học giả đều chỉ ra: “Là một thành viên của UNCLOS, Trung Quốc có nghĩa vụ bảo tồn nguồn lợi sinh vật trong EEZ theo Điều 61 và Điều 62, không được khai thác quá mức”. Bên cạnh đó, cũng theo UNCLOS, tại những vùng biển chồng lấn, tất cả các bên có nghĩa vụ hạn chế lẫn nhau và hợp tác với nhau để kiềm chế những hoạt động đơn phương có thể gây biến đổi vĩnh viễn môi trường biển.

Việc Trung Quốc cậy sức mạnh của mình để lấn lướt các quốc gia ven biển khác, đơn phương khai thác dầu khí hay nguồn lợi thủy sản trong biển Đông là “không phù hợp với UNCLOS”, các học giả kết luận.

Trung Quốc cần tôn trọng các nước ASEAN

Giáo sư Tommy Koh của Singapore, người chủ trì việc soạn thảo UNCLOS năm 1982, hôm 4.7 nhắc nhở Trung Quốc nên tôn trọng và ứng xử bình đẳng với các nước ASEAN.

Trong bài xã luận trên báo Straits Times, Giáo sư Koh viết: “Trong ứng xử với cuộc tranh chấp cùng Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam ở biển Đông, Trung Quốc cần thận trọng kiềm chế việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Tranh chấp nên được giải quyết một cách hòa bình, thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài, hoặc đồng khai thác.

Tranh chấp cũng có thể giải quyết theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS”. Lý do, theo ông là trong 20 năm qua “các nước ASEAN luôn nhìn Trung Quốc một cách thành ý”. Và để đáp lại, “Trung Quốc nên đối xử với các nước láng giềng bằng thái độ bình đẳng và tôn trọng”.

Thục Minh
(VP Singapore)
thanhnien.com.vn

Trung Quốc trong chiến lược độc chiếm biển Đông

Ý đồ độc chiếm biển Đông và luận điệu phi lý của Trung Quốc lộ rõ từ lịch sử hành chính Hải Nam đến việc thành lập “TP.Tam Sa”.

Trước thông tin Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập cái gọi là “TP.Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa  – Trường Sa của Việt Nam, ngày 21.6.2012, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ quyết định này. Chủ tịch TP.Đà Nẵng và Chủ tịch tỉnh Khánh Hòa cũng nhấn mạnh: “Quyết định này vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị pháp lý”.

Chúng ta cùng xem xét xâu chuỗi từ lịch sử quá trình quản lý đảo Hải Nam với các sự kiện thành lập tỉnh Hải Nam (ngày 13.4.1988), thành lập đô thị cấp huyện thuộc tỉnh Hải Nam lấy tên là Tam Sa quản lý Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam (tháng 11.2007) đến quyết định phê chuẩn lập TP.Tam Sa vừa qua. Bình  thường, việc thành lập một tỉnh, thành phố thuộc thẩm quyền và là công việc nội bộ của một quốc gia. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc thành lập tỉnh Hải Nam hay TP.Tam Sa bao gồm cả lãnh thổ nước láng giềng thì không còn là công việc nội bộ của Trung Quốc nữa, mà là một việc làm bất hợp pháp, vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước khác.

Biên giới chỉ đến Hải Nam

Cho đến đời tiền Hán (206 – 8 trước CN), đảo Hải Nam do người Lê (hay Ly), một tộc Việt trong Bách Việt, làm chủ nhưng bị người Trung Quốc ở Quảng Đông chinh phục. Đây có thể coi là bước đầu tiên tiến xuống biển Đông của các triều đại Trung Quốc. Các chính quyền kế tiếp nhau liên tục đưa người Hoa đến định cư ở vùng ven bờ đảo Hải Nam, dồn người Lê (hay Ly) vào vùng rừng núi ở sâu bên trong đảo. Các bộ lạc người Lê không cam chịu cảnh áp bức bóc lột, vùng lên khởi nghĩa nhưng bị đàn áp dữ dội nên đều thất bại. Một điều đáng chú ý là ở đảo Hải Nam có dân Lê (Ly) thì ở Thanh Hóa có dân Ly. Giữa người Lê (Ly) của đảo Hải Nam và Thanh Hóa chắc có sự giao thân. Vì vậy, năm 1905, ông E.Brerault khảo sát đảo Hải Nam thấy có “người Việt ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam”. Đó chính là người Lê (Ly) ở ven biển.

Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ” xuất bản năm 1894, “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” xuất bản 1905, tái bản 1910 thể hiện rõ ràng điểm cực nam của Trung Quốc ở bờ nam đảo Hải Nam, và cuốn Trung Quốc địa lý giáo khoa thư xuất bản 1906 ghi rõ: Điểm cực nam Trung Quốc là Châu Nhai, Quỳnh Châu (tức Hải Nam)

Ngoài các chính sách bóc lột hà khắc về mặt kinh tế, chính quyền phong kiến Trung Quốc vẫn dùng phương pháp chia để trị. Họ chia nhỏ các bộ lạc người Lê, bắt sống rải rác xen kẽ với các bộ lạc người Mông di cư từ tây nam Trung Quốc đến sau này. Trong vòng 19 thế kỷ tiếp theo, các chính quyền phong kiến Trung Quốc tiếp tục cho di dân đến và áp dụng chính sách đồng hóa để biến Hải Nam thành lãnh thổ của mình.

Từ thời Đường (618 – 906) đến năm 1909, Hải Nam vẫn bị coi là vùng biên giới “lam sơn chướng khí” và dùng làm nơi đày ải tù chính trị. Người bị đi đày nổi tiếng nhất ở đây có lẽ là nhà thơ Tô Đông Pha (1036-1101).

Sự cách biệt với nền văn hóa lục địa Trung Quốc, nạn cướp biển ven bờ, bệnh sốt rét ác tính cùng với sự nổi dậy thường xuyên của các bộ lạc bản xứ đã ngăn cản chính quyền Trung Quốc đưa người Hoa đến đây định cư với quy mô lớn. Hơn nữa, khí hậu nhiệt đới khác xa với đại lục, không thích hợp với kinh tế của người Hoa cũng là nguyên nhân làm cho nền kinh tế trên đảo chậm phát triển và người Hoa không muốn định cư ở đây. Những nguyên nhân khách quan này cản trở chính sách tiến xuống biển Đông của các triều đại Trung Quốc. Vì vậy, đến những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các chính quyền Trung Quốc đều coi lãnh thổ của mình chỉ bao gồm từ đảo Hải Nam trở lên phía bắc.

Đã có nhiều sự kiện, bằng chứng được ghi nhận trong sách vở Trung Quốc và Việt Nam chứng tỏ cương giới cực nam của Trung Quốc đến đầu thế kỷ 20 chỉ ở bờ biển phía nam đảo Hải Nam. Các quần đảo Hoàng  Sa – Trường Sa không thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Trong thời gian đó, nhà nước phong kiến Việt Nam đã làm chủ thực sự và tổ chức đội Hoàng Sa đi khai thác 2 quần đảo của mình.

Bản đồ của Trung Quốc đến đầu thế kỷ 20 chỉ vẽ lãnh thổ đến đảo Hải Nam - Ảnh: Đại Thanh nhất thống toàn đồ xuất bản năm 1894 với đảo nhỏ phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ (VN) - Nguồn: Biengioilanhtho.gov.vnBản đồ của Trung Quốc đến đầu thế kỷ 20 chỉ vẽ lãnh thổ đến đảo Hải Nam – Ảnh: Đại Thanh nhất thống toàn đồ xuất bản năm 1894 với đảo nhỏ phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ (VN) – Nguồn: Biengioilanhtho.gov.vn

Tham vọng và mưu đồ

Từ năm 1909, Trung Quốc mới bộc lộ tham vọng trên biển Đông. Theo lệnh Phó vương Lưỡng Quảng, Đô đốc Lý Chuẩn đem một số pháo thuyền nhỏ đến một vài đảo của Hoàng Sa, bắn vài phát súng rồi vội vã rút lui dù khi đó quần đảo này đã có chủ. Từ đó, Trung Quốc bắt đầu có những hành động tranh chấp chủ quyền đối với 2 quần đảo trên biển Đông của Việt Nam.

Năm 1932, Trung Quốc chính thức nêu yêu sách tiến xuống phía nam tới quần đảo Hoàng Sa. Trong Công hàm 29.9.1932 của đại diện Trung Quốc tại Paris gửi chính phủ Pháp chỉ nêu yêu sách quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa): “Tây Sa là bộ phận lãnh thổ cực nam của Trung Quốc”. Với công hàm này, Trung Quốc chưa hề yêu sách đối với Trường Sa. Những dữ kiện nói trên càng chứng tỏ lập luận Trung Quốc có “chủ quyền từ lâu đời” trên 2 quần đảo là không có cơ sở. Tiếp đó, họ chưa làm thêm được gì thì đảo Hải Nam bị quân đội Nhật chiếm đóng từ 1939 đến năm 1945.

Tháng 4.1950, phe Tưởng Giới Thạch phải từ bỏ Hải Nam. Từ đó, nơi đây được xem là một bàn đạp quan trọng trong chiến lược xâm chiếm biển Đông, vốn được đẩy lên mức hơn hẳn các chế độ trước đó.

Cùng năm, một nhà xuất bản Trung Quốc cho ra bản đồ “Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc phân tỉnh tinh đồ”. Trong đó, điểm cực nam không còn ở đảo Hải Nam nữa mà nó đã được đưa xuống phía nam hơn 1.500 km, tới tận vĩ tuyến 40 bắc, gần bờ biển Malaysia. Theo bản đồ này, đường “lưỡi bò” trên biển ôm trọn tới 80% biển Đông, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng  Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tham vọng quá đáng của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ và các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia Việt Nam và một số nước Đông Nam Á.

Tiếp theo “chính sách xâm lược bằng bản đồ”, vào ngày 15.8.1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố yêu sách về vùng biển và hải đảo theo bản đồ nói trên. Từ đó, Bắc Kinh tích cực bắt tay chuẩn bị hành động. Nhưng do tình hình quốc tế lúc bấy giờ và lực lượng hải quân còn yếu nên tham vọng trên hướng biển vẫn còn có mức độ. Năm 1956, lợi dụng quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Sài Gòn chưa kịp ra thay thế ở Hoàng Sa, Trung Quốc bí mật đưa quân đổ bộ, chiếm đóng đảo Phú Lâm và Linh Côn thuộc nhóm phía đông của quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 1.1974, sau khi ký Thông cáo chung Thượng Hải và với sự làm ngơ của Mỹ, Trung Quốc huy động lực lượng kết hợp hải quân, không quân đánh chiếm nốt nhóm phía tây của Hoàng Sa. Chỉ huy chiến dịch mở mang bờ cõi bất hợp pháp này là ông Đặng Tiểu Bình và tướng Diệp Kiếm Anh (còn tiếp).

Bằng chứng về luận điệu thiếu cơ sở của Trung Quốc

–  Nhiều sách báo phương Tây ghi lại sự kiện khoảng năm 1895, 1896 tàu Bellona của Đức và tàu Ymedi Maru của Nhật chở hàng cho Anh bị đắm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, cách đảo Hải Nam 140 hải lý về phía nam. Người Trung Quốc ở đảo Hải Nam đã ra lấy trộm đồng trên tàu. Lãnh sự Anh ở Hải Nam phản đối với nhà đương cục Trung Quốc và nhận câu trả lời rằng Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc do đó Trung Quốc không có trách nhiệm gì ở đấy.

–  Hàng loạt tài liệu, bản đồ chính thức và bán chính thức của Trung Quốc cho đến đầu thế kỷ 20 đều chỉ vẽ lãnh thổ Trung Quốc đến đảo Hải Nam. “Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ” xuất bản năm 1894, “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” xuất bản 1905, tái bản 1910 thể hiện rõ ràng điểm cực nam của Trung Quốc ở bờ nam đảo Hải Nam, và cuốn Trung Quốc địa lý giáo khoa thư xuất bản 1906 ghi rõ: Điểm cực nam Trung Quốc là Châu Nhai, Quỳnh Châu (tức Hải Nam). Sợ không chính xác, cuốn sách này còn nói rõ thêm: điểm cực nam đó ở vĩ tuyến 18o13’ bắc.

–  Trong cuốn Phủ biên tạp lục của nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn viết năm 1776 cũng ghi lại một sự việc: Năm 1754, thuyền của đội Hoàng Sa do Chúa Nguyễn phái ra khai thác Hoàng Sa bị đứt dây neo, trôi dạt vào cảng Thanh Lan thuộc đảo Hải Nam. Các quan sở tại đã tra xét những người ở trên thuyền, khi biết là người của đội Hoàng Sa Việt Nam, đã chu cấp tiền, gạo cho về quê mà không hề phản đối gì. Chúa Nguyễn còn sai người viết thư cám ơn.

Tiến sĩ Hoàng Trọng Lập (*)
thanhnien.com.vn

(*) Nguyên Phó trưởng ban Biên giới của Chính phủ, nguyên Đại sứ VN tại Malaysia