Tag Archive | Đại Việt

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ cuối

Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

oOo

Ngoài các nhiệm vụ được ghi trong chính sử, đội Hoàng Sa của nhà Nguyễn còn có sứ mệnh sang Nhật và Phi Luật Tân (Philippines). Họ ra đảo cùng với bí mật quân lương và mang về những sản vật kỳ diệu…

>> Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân
>> Kỳ 2: Bí mật về cấu tạo tàu chiến

Mô hình ghe câu (khinh thuyền/lê thuyền) là phương tiện đánh bắt của ngư dân duyên hải Nam Trung Bộ và cũng là phương tiện của đội thủy binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa dùng đi làm nhiệm vụ – Ảnh: Hiển Cừ

Với kỹ thuật tàu chiến như đã đề cập ở phần trước, việc đi tới đi lui giữa đất liền với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và xa hơn nữa không mấy khó khăn. Ba bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ, hai bộ sách bí truyền khác trong hoàng tộc là Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính và Bí mật quân lương và khử uế chiến thuyền của hai vương triều Tây Sơn và Nguyễn Phúc tộc còn cho ta biết thêm nhiều bí mật thú vị về hải quân nhà Nguyễn.

Theo đó thì đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ sang Nhật Bản và Phi Luật Tân. Họ sang Nhật Bản để hợp tác huấn luyện thủy quân, vì quan hệ giữa nước ta với Nhật Bản rất thân thiện sau khi Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương gia Nhật. Các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu thêm phương cách tác chiến của thủy quân Nhật trong những trận thủy chiến với nước ngoài có tương đồng gì không với cách tác chiến của thủy quân ta để làm rõ thêm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa.

Còn họ sang Phi Luật Tân để làm gì? Ngày nay, dọc ven biển nước ta có trồng nhiều dừa. Dừa không phải là cây bản địa, đó là loại thực vật được di thực từ Phi Luật Tân sang từ thời các Chúa Nguyễn. Việc trồng dừa là theo khuyến nghị của người Nhật. Ngày xưa, trên bờ biển nơi nào có dừa chính là nơi tàu bè có thể cập vào an toàn. Chính đội Hoàng Sa đã mang những cây dừa về trồng dọc bờ biển nước ta.

Về sản vật, chính sử chỉ ghi chung chung là đội này mang về các “hóa vật”. “Hóa vật” đó gồm những gì? Đó là xà cừ, ngọc trai lộ thiên, san hô đen, san hô đỏ, tảo, vỏ hàu 9 lỗ (cửu khổng thạch khuyết minh), ốc vú nàng, chất thơm trong đầu cá nhà táng…

Ốc vú nàng và chất thơm trong đầu cá nhà táng đều là những vị thuốc quý. Ốc vú nàng được cho là có thể chữa được ung thư tụy tạng, cầm máu, chữa sốt không rõ nguyên nhân, các bệnh nhiễm trùng da và rắc rối đường huyết, bệnh phụ khoa… Vỏ ốc phải lấy vỏ từ con ốc tươi mới làm thuốc được. Cá nhà táng là một loại cá voi, chất thơm trong đầu nó được lấy khi cá đã chết hoặc do cá tiết ra trên đảo (Nhà Nguyễn, nhất là từ đời Gia Long về sau, đã cấm triệt để việc săn bắt cá voi). Chất này được ứng dụng rất hữu hiệu trong điều trị bệnh sản phụ và nhi khoa, đặc biệt trong ngừa trị tai biến mạch máu não…

Đội Hoàng Sa ra đảo mỗi năm 6 tháng, họ ăn uống như thế nào? Điều này thuộc bí mật quân lương của nhà Nguyễn. Qua sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ ta biết trên mạn thuyền của đội Hoàng Sa có trồng 7 thứ rau: rau muống, rau húng, rau lang, hẹ, hành, tỏi, me đất (đến năm Tự Đức thứ 12 có thêm rau sam bay). Đây là 7 loại rau Trung Quốc không có hoặc một số thứ có nhưng chất lượng không bằng của ta. Hẹ, hành, tỏi thì sách thuốc đã nói nhiều. Còn rau muống thì có tác dụng bổ huyết do có nhiều chất sắt, đây là loại rau di thực từ Nhật Bản sang Việt Nam thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Rau húng cân đối lượng đường trong máu, giúp tuần hoàn tim mạch, điều hòa tiêu hóa, điều hòa hô hấp, điều hòa não, nếu ăn thường xuyên từ nhỏ thì không bị trĩ… Tất cả các loại rau trên đều có tác dụng bảo vệ sức khỏe của quân dân khi ra đảo. Nhưng vì sao những thứ đó được trồng trên thuyền mà không đem trồng trên đảo? Đó là bí mật quân lương.

Họ ăn những loại rau nói trên với cá biển và nước mắm. Tuy nhiên, ăn cá biển thường xuyên sẽ không bảo đảm cho sức khỏe, cho nên lương thực – thực phẩm chính mà đội Hoàng Sa mang theo là thịt thưng và cám gạo (cám gạo, chứ không phải gạo). Các món thịt thưng chính là bí mật quân lương của quân đội nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, các vua Nguyễn sau này trong các lễ cúng tế tổ tiên bao giờ cũng có món thịt thưng.

Đó là thịt heo hoặc gà, vịt, dê… được ướp với dầu lạc (dầu ép thủ công) và nước ớt, cho muối hột và nước mắm với độ mặn gấp 3 lần so với kho thịt bình thường, cho nước ngập xăm xắp, đun nhỏ lửa cho đến khi khô hết nước. Thịt này cho vào một cái hộp đậy kín, có thể để hàng năm không hỏng. Do để lâu không hỏng nên nó mới dùng làm quân lương.

Thịt thưng ăn vào cân bằng tiêu hóa, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột và giá trị dinh dưỡng đạt đến tối ưu trong điều kiện đi xa trên biển. Còn cám gạo thì ngày nay khoa học khẳng định nó là tinh hoa của lúa gạo. Dùng cám gạo thay cho gạo vừa đạt giá trị dinh dưỡng tối đa vừa không chiếm nhiều chỗ chứa khi ra biển đảo. Mỗi thành viên trong đội Hoàng Sa được cấp một cái hộc có nắp ép như cái hộc làm bánh, mỗi bữa ăn cho cám gạo vào hộc, bỏ vài miếng thịt thưng vào giữa, ép lại thành một chiếc bánh. Cộng thêm một ít rau là đủ cho một bữa ăn không thiếu một chất dinh dưỡng nào.

Do không có nhiều nước ngọt, nên ra Hoàng Sa, Trường Sa, người xưa ăn nước mắm chứ không ăn muối. Ăn nước mắm tốt hơn ăn muối, tăng cường sự dẻo dai của thủy binh.

Điều đặc biệt là nước mắm cũng có thể dùng để… giải khát. Trên một tảng đá nghiêng, khi trời nắng lấy nước mắm thoa lên đá phía mặt trời chiếu vào, nước mắm khô sẽ bám vào mặt đá. Đêm xuống, lấy đồ hứng những giọt sương rơi trên đá chảy qua chỗ có thoa nước mắm. Khi khát nước, thấm một ít nước này vào miệng, thứ nước đó đủ cho tuyến giáp trạng điều tiết dịch, không gây ra những cơn phiền khát. Vì vậy, uống ít nước vẫn không thấy khát.

Trên đảo có một thứ rau mà ngày nay không ai nghĩ là ăn được, vì ăn vào sẽ bị say. Đó là rau muống biển. Nhưng ngày xưa, đội Hoàng Sa của chúng ta vẫn ăn được thứ rau này. Sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính có chỉ rõ y lý của rau muống biển và cách chế biến với nhiều công đoạn phức tạp nhưng có thể thực hiện được trên đảo. Ăn rau muống biển được chế biến đúng cách, phòng tránh được nhiều bệnh thông thường, tăng sự dẻo dai cho cơ thể, đặc biệt nó tránh được những cơn say sóng nặng, bởi vậy mà sách này gọi nó là một vị thuốc mang tên “Cứu mệnh thảo”. Người viết bài đã chế biến rau muống biển theo đúng cách hướng dẫn và đã ăn nó trước khi viết loạt bài này.

Trên đây là những tư liệu mới mẻ. Trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu sơ qua. Từ một nguồn, đã hé mở biết bao điều kỳ thú. Chắc chắn còn rất nhiều tài liệu đang tản mát trong các gia đình, hy vọng các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, thu thập để xác minh, tổng kết.

Hoàng Hải Vân

thanhnien.com.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ 2

Bí mật về cấu tạo tàu chiến

oOo

“Người Hà Lan… qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển” – Giám mục De Rhodes.

>> Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân

Theo tài liệu bí truyền trong hoàng tộc Nguyễn, tàu hơi nước dù rất hiện đại, nhưng cũng chỉ dùng để vận tải, không dùng làm tàu chiến. Ngay cả các thủy sư người Pháp phục vụ cho hải quân nhà Nguyễn, trong trận hải chiến lừng danh là trận Thị Nại, họ cũng chỉ làm nhiệm vụ tải lương, tức là chỉ đóng vai hậu cần. Bởi vậy mà theo Barrow, trong số 26.800 lính hải quân, chỉ có 1.200 người phục vụ trên các tàu đóng kiểu châu Âu.

Tái hiện thao diễn thủy binh thời Nguyễn tại Festival Huế 2010 – Ảnh: Bùi Ngọc Long

Tàu thuyền chạy bằng buồm cũng vậy. Dù có kết cấu hết sức linh hoạt, vỏ tàu có 3 lớp, tàu lớn tải trọng có thể trên 40 tấn, có 22 khoang, mỗi khoang đều có phao làm bằng thao tằm, có trụ trung tâm điều khiển cột buồm bằng con quay để giữ thăng bằng và bảo đảm quan sát được 4 hướng, dưới chân cột buồm có dàn xạ tiễn bắn tự động để đối phó mỗi khi bị tàu địch tấn công. Tàu buồm này chịu được sóng gió cấp 5. Tuy nhiên, tàu chạy bằng buồm cũng chỉ được dùng làm tàu vận chuyển và… nghi binh mà thôi.

Tàu chiến của nhà Nguyễn toàn bộ làm bằng tre và chỉ dùng mái chèo. Nghe thì tầm thường, nhưng sự vô song chính là ở đó. Tuy dùng bằng mái chèo nhưng có thể lướt sóng với tốc độ nhanh hơn tàu chạy bằng hơi nước, lại linh hoạt hơn và cơ động thiện chiến hơn nhiều. Vì sao vậy?

Để khỏi mang tiếng tự đề cao dân tộc mình, xin hãy nghe “Tây” nói về những chiếc thuyền chiến bé nhỏ của ta đánh thắng hạm đội Hà Lan trước đã. Tường thuật lại trận hải chiến năm 1643, trong cuốn Những người châu Âu ở nước An Nam, Charles B. Maybon, một học giả người Pháp viết:

“Ba tàu dưới sự chỉ huy của Pierre Baeck được phái đi từ Jambee (Sumatra) vào cuối năm 1643. Đến ngang tầm “Bốn mũi” (Quatre Caps), người Hà Lan phải chịu đựng đòn tấn công của chừng 60 thuyền chiến Đàng Trong, mà theo Thực lục là dưới quyền chỉ huy của Thế tử, tức Hiền Vương sau này. Tàu đô đốc, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles). Theo cha De Rhode, một trong hai tàu ấy do bị người Đàng Trong đuổi đánh đã va phải đá ngầm vỡ tan, còn chiếc kia chạy thoát được…”. (Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về trận đánh này trong bài Tàu to súng lớn vẫn thuaThanh Niên số ra ngày 4.8.2011).

Người ta cũng nhầm tưởng hải quân nhà Nguyễn thường dùng vũ khí là đại bác và súng ống phương Tây. Các thủy sư đô đốc nhà Nguyễn hiểu rằng bắn đại bác từ tàu chiến chỉ để thị uy chứ ít chính xác, nên hải quân nhà Nguyễn sử dụng chủ yếu 3 loại vũ khí: súng phun lửa, nỏ liên châu và ống phóng hơi cay. Súng phun lửa có thể sử dụng khi cận chiến cự ly 15m. Nỏ liên châu thì một phát bắn ra 20 mũi tên có thể trúng chính xác ở cự ly trên 100m. Khi xung trận, đầu tàu có thể biến thành đuôi tàu và ngược lại nên cơ động trong mọi tình huống.

Maybon dẫn lời nhà truyền giáo De Rhodes kết luận về trận hải chiến này như sau: “Người Hà Lan… qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển”.

Theo tài liệu lưu giữ trong gia đình ông Ưng Viên, tàu chiến (gọi chính xác là thuyền chiến) nhà Nguyễn, loại lớn nhất dài 30m, ngang 12m; loại nhỏ nhất dài 3m, ngang 1,2m. Vỏ tàu có 3 lớp, tất cả làm bằng tre trét bằng dầu rái và vài loại thực vật khác, các khoang tàu cũng có phao làm bằng thao tằm giống như tàu chạy buồm.

Toàn bộ thủy quân chỉ có một soái hạm, dài 50m, ngang 12m. Người phương Tây rất muốn quan sát được chiếc soái hạm này nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy, vì nó có cấu tạo đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những tình huống cần thiết, trong điều kiện bình thường nó được tách ra thành những chiếc tàu chiến nhỏ.

Tàu chiến lớn có 12 tay chèo, chia thành 3 cụm, mỗi cụm có 4 tay chèo, 1 cụm bố trí ở mũi tàu, 2 cụm bố trí ở khoảng 1/3 thân tàu tính từ phía sau. Điều thú vị là các tay chèo này không phải dùng mái chèo tác động xuống nước để đẩy thuyền đi như thuyền chèo thông thường mà việc “chèo” này là để làm quay một hệ thống ròng rọc nối liền với các quạt nước, chính những cái quạt nước này vừa nâng tàu lên vừa đẩy tàu đi giống như tàu máy hiện đại nhưng linh hoạt hơn nhiều. Mỗi cụm tuy có 4 tay chèo, nhưng chỉ có 3 quạt nước nối với 3 tay chèo thông qua ròng rọc, tay chèo còn lại có vị trí độc lập, nhiệm vụ của anh ta là điều chỉnh để cân bằng hệ thống, việc của anh ta nhẹ nhàng hơn 3 anh kia, nhưng khi gặp sự cố, một mình anh ta sẽ làm chạy một lúc 3 cái quạt nước, do mái chèo của anh ta gắn với sự chuyển động đồng thời của 3 cái quạt này.

Thuyền mông đồng (hai đáy) khắc trên Chương đỉnh – Nguồn: COVATHUE.COM

Khi 3 cụm chèo đồng thời được nâng lên bởi tay chèo điều chỉnh hệ thống, lập tức tàu chạy lướt trên mặt nước, nghệ thuật lướt này nhờ vào 2 tay chèo số 4 phía sau điều chỉnh cho bánh lái không ghì đuôi tàu xuống, đồng thời giữ thăng bằng khi tàu lướt sóng. Vì vậy mà tàu chiến có thể vượt qua được mọi điều kiện thời tiết, với tốc độ và sự linh hoạt khiến cho đối phương phải kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng.

Điều đặc biệt là toàn bộ chất liệu làm tàu chiến không dùng đến sắt thép, kể cả cánh quạt, đinh, chốt, vít. Các liên kết đều dùng mộng, các chốt liên kết làm bằng một loại gỗ tên là gỗ xây cực kỳ bền chắc. Hy vọng từ những tài liệu nói trên kết hợp với các tài liệu khác có thể tìm được, các nhà nghiên cứu và chế tạo có thể tái tạo những chiếc tàu để xác nhận tính năng của nó.

Tàu chiến của hải quân nhà Nguyễn là niềm tự hào của quân dân ta. Khi vua Gia Long đưa thủy quân ra Bắc, lúc đội tàu chiến tiến đến Nam Định, dân chúng nhìn tàu lướt trên sóng đã thán phục gọi là “thần binh”.

(còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

>> Kỳ 3: Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

thanhnien.com.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ 1

Từ thủy quân đến hải quân

oOo

Nhân việc sưu tầm, nghiên cứu những tư liệu liên quan đến việc mở cõi của nhà Nguyễn, chúng tôi có dịp tiếp cận với một số tư liệu được bảo tồn trong hoàng tộc giúp chúng ta có cái nhìn liên kết giữa sức mạnh hải quân nhà Nguyễn với việc thực hiện chủ quyền biển đảo.

Trước hết, nhà Nguyễn, từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trở đi, khi đưa dân tộc tiến về phương Nam, mỗi bước chân của tiền nhân không chỉ là đi “mở đất” mà đồng thời còn thực hiện chủ quyền biển đảo. Muốn vậy, nhà Nguyễn phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Mà muốn có một lực lượng hải quân hùng mạnh thì phải có 3 yếu tố vượt trội: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương.

Từ một mảnh đất phía sau dãy Hoành Sơn, các Chúa Nguyễn đã không dừng lại ở cái mơ ước “vạn đại dung thân” bé nhỏ cho mình mà còn cùng với dân tộc nhân đôi nước non bờ cõi, phía nam mở nước dài đến mũi Cà Mau, phía đông làm chủ một vùng biển rộng lớn với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Vua Gia Long từng nói: “Thủy chiến là sở trường của ta”.

Thuyền bọc đồng thời Minh Mệnh được chạm trên Cao đỉnh – Nguồn: Covathue.com

Thủy chiến vốn là thế mạnh của dân tộc. Nước Đại Việt ta đã dùng thủy chiến để đánh tan những đội quân xâm lược hùng mạnh. Tuy nhiên, những trận đại thắng trên sông Bạch Đằng cùng các trận Chương Dương, Hàm Tử… lừng danh trên thế giới đều là giang chiến. Riêng trận Vân Đồn, nơi Trần Khánh Dư tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên Mông là trận đánh trên biển đầu tiên, nhưng cũng là một trận “duyên chiến”. Đến thời các Chúa Nguyễn, thủy chiến đã được nâng lên một tầm cao mới – hải chiến.

Trận hải chiến đầu tiên được lịch sử ghi nhận là trận do Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần khi ấy còn là thế tử chỉ huy, đánh tan một hạm đội của Hà Lan đến hải phận nước ta “gây hấn” vào năm 1643 (Thanh Niên đã đăng trong bài Tàu to súng lớn vẫn thua, số ra ngày 4.8.2011). Trước đó, vào năm 1585, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên khi ấy còn là một hoàng tử, đã đánh tan một đội tàu chiến 6 chiếc của Nhật Bản (Đại Nam thực lục gọi đây là tàu của “tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý”, có tài liệu nói đây là tàu Kenki của Nhật Bản) đến cướp bóc vùng ven biển Cửa Việt, nhưng trận này cũng là một trận “duyên chiến”.

Có thể nói Hải quân Việt Nam được khai sinh từ trận đánh thắng đội tàu chiến Hà Lan, vốn là nước có đội tàu chiến hiện đại nhất phương Tây lúc bấy giờ.

Không chỉ đánh thắng tàu chiến Hà Lan và Nhật Bản, hải quân nhà Nguyễn còn đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch mọi loại giặc biển đến từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Hệ thống phòng thủ bờ biển được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, không chỉ Phú Quốc, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa mà hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển đều được tiếp quản, thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật, suốt mấy trăm năm không để mất một tấc đảo, một khoảnh nước nào. Trên cơ sở phòng thủ vững chắc, nhà Nguyễn đã thiết lập các tuyến hải hành và mở rộng giao thương với nước ngoài. Tàu thuyền nước ngoài đến tấp nập ở Hội An và các thương cảng; tàu thuyền nước ta cũng cập bến ở nhiều nước Á, Âu. Khiêm cung hòa hiếu nhưng dũng mãnh cương cường, không hại ai nhưng nhất quyết không để ai hại mình, đó là thế đứng vững chắc của nước ta một thời giữa thiên hạ.

Tàu thuyền quân sự và dân sự của nhà Nguyễn gồm 3 loại: tàu thuyền dùng mái chèo, tàu thuyền dùng buồm và tàu bọc đồng chạy hơi nước. Tàu bọc đồng chạy hơi nước có từ thời Vua Gia Long, nói theo ngôn ngữ bây giờ thì nhà Nguyễn đã sớm hiện đại hóa tàu thuyền ngang với thế giới.

J.Barrow trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793 đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội nhà Nguyễn thời Vua Gia Long: Tổng quân số 139.800 người, riêng hải quân có 26.800 người.  Barrow còn ghi thêm về việc “hiện đại hóa” hải quân của Gia Long: “Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”.

Nhìn vào những tài liệu đã ghi chép, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhầm tưởng sức mạnh hải quân của nhà Nguyễn chính ở sự “hiện đại hóa” đội tàu theo kiểu châu Âu. Nhưng sự thật không phải vậy. Hiện đại theo cách của người ta thì không bao giờ bằng người ta được, chưa nói đến việc hơn người ta.

Sức mạnh hải quân Nhà Nguyễn nằm ở 3 yếu tố nổi trội nói ở đầu bài: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương. Cả ba đều là bí mật, không ghi trong sử sách (nếu ghi thì còn gì là bí mật). Chưa ai tìm ra được các tài liệu nói về 3 yếu tố trên, thậm chí cả những hình vẽ và ảnh chụp các tàu chiến nhà Nguyễn cũng không thấy để lại, ngoài một cuốn binh pháp là cuốn Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, trong đó có đề cập đến các trận pháp và kỹ thuật thủy chiến nhưng cũng không đề cập đến 3 yếu tố trên.

Rất may là các bí mật này vẫn còn lưu lại trong dòng tộc, được ghi khá tường tận trong một cuốn sách bí truyền: Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ, cuốn sách hiện vẫn còn được lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, một hậu duệ của Vua Minh Mệnh (ông Ưng Viên gọi Vua Minh Mệnh bằng ông cố).

Đại Nam thực lục tiền biên có ghi rõ lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22.740 quân, bao gồm:

– Cơ Trung hầu 10 thuyền 300 người;
– Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3.280 người;
– 2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người;
– Nội thủy 58 thuyền, 6.410 người;
– Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người;
– Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người;
– 2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người;
– Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2.700 người;
– 4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1.100 người;
– 4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người;
– 8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2.100 người;
– Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người;
– 4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người;
– Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.

(Còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

>> Kỳ 2 : Bí mật về cấu tạo tàu chiến

thanhnien.com.vn

Bài 3: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư – Kỳ 2

Sinh ra trong binh lửa, bất tử cùng chủ quyền non sông, lời thơ “Thần” – “Nam quốc sơn hà” chỉ với 28 từ (thất ngôn tứ tuyệt) mà nội dung ý tứ sâu xa. Để bảo vệ đất nước, tất thảy người dân Việt quyết đánh tan ngoại xâm dù chúng có mạnh đến mức nào. Ngày nay, lời thơ “Thần” khắc trên bia trong am thờ ở đảo Đá Tây thuộc quần đảo Trường Sa của Tổ quốc vẫn ngày đêm vọng vang cùng sóng nước.

Tranh minh họa Lý Thường Kiệt và bài thơ “Thần”

 Tranh TL

Tháng giêng năm 1072, triều đình nhà Lý “lục đục”. Vua Lý Thánh Tông băng hà, vua Lý Nhân Tông 6 tuổi nối ngôi. Phe theo Thái hậu Thượng Dương và Thái sư Lý Đạo Thành, phe kia theo Thái phi Ỷ Lan và Thái úy Lý Thường Kiệt. Tuy Thái hậu Thượng Dương và Thái sư Lý Đạo Thành xét về vị trí chức tước trong triều thì hơn hẳn Thái phi Ỷ Lan cùng Thái úy Lý Thường Kiệt nhưng “vị thế” lại không bằng. Vì lẽ: Thái phi là thân mẫu của vua Lý Nhân Tông còn Thái úy thì nắm giữ quân đội. Việc tranh giành quyền lực tột độ đã nảy sinh sự biến. Đại Việt sử ký toàn thư viết, Thái phi Ỷ Lan nói với vua trẻ: “Mẹ già đã khó nhọc nuôi nấng con, mới có ngày nay. Bây giờ đã được phú quý thì người khác giành mất chỗ, biết đặt mẹ già vào chỗ nào”. Vua Lý Nhân Tông bèn sai giam Thái hậu Thượng Dương và 72 thị nữ rồi ép phải chết theo vua Lý Thánh Tông. Lý Đạo Thành bị giáng chức làm Tả Gián nghị đại phu phải ra coi châu Nghệ An. Ỷ Lan trở thành Thái hậu nhiếp chính còn Lý Thường Kiệt được phong làm Phụ Quốc Thái úy, trông coi cả việc văn lẫn việc võ trong triều.

Bị giáng chức “đày” ra Nghệ An, Lý Đạo Thành lập Viện Địa tạng trong thờ tượng Phật và vị hiệu vua Lý Thánh Tông.

Xưa nay, ngẫm lịch sử: Cứ mỗi khi nội bộ triều chính của nước ta “bất hòa” thì mối nguy họa ngoại xâm phương Bắc là điều rất dễ xảy ra. Vào thời điểm những năm sau 1072 này, nhà Tống quyết định thôn tính nước ta vì mấy nguyên nhân sau: Thứ nhất, việc mất đoàn kết trong triều đình nhà Lý khiến thế nước suy giảm. Thứ hai, nhà Tống lo ngại việc thay đổi “nhân sự” trong triều đình Đại Việt sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của họ. Và điều thứ ba còn quan trọng nữa: Tháng 2 năm 1075, nước Liêu đe dọa biên giới phía Bắc nước Tống. Liệu thế không cự nổi, Tể tướng Vương An Thạch hiến kế với vua Tống cắt 700 dặm đất Hà Đông biếu nước Liêu để hòa hoãn, tiếp đó, tập trung binh lực đánh Đại Việt để tăng cường thế mạnh áp đảo lại nước Liêu. Đó cũng là kế sách đẩy mâu thuẫn từ bên trong ra bên ngoài của Vương An Thạch khi bị các phe phái khác trong triều công kích… Trước khi động binh, nhà Tống “xúi giục” Chiêm Thành quấy nhiễu phía Nam nước ta.

Trước tình cảnh này, Thái hậu Ỷ Lan và Thái úy Lý Thường Kiệt đã làm được một điều vĩ đại mà ít người nhắc đến: Hòa hợp phe phái, đoàn kết nhân tâm cùng nhau bàn cách chống họa ngoại xâm.

Thái úy Lý Thường Kiệt nhận mệnh vua đích thân vào Nghệ An phong chức Thái Phó, Bình chương quân quốc trọng sự cho Lý Đạo Thành và mời ông trở lại kinh đô. Chức quan này của Lý Đạo Thành trông coi tất cả việc triều chính trong nước. Còn với Lý Thường Kiệt, ông nắm quân đội lo việc đối phó với giặc ngoại xâm.

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà – Được coi là

Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt

Gạt bỏ thù hận, Thái Phó Lý Đạo Thành mạnh dạn “đề xuất” nhiếp chính Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông thực hiện việc tuyển chọn hiền tài giúp nước. Đây cũng là thực hiện tiếp nguyện ước còn dang dở của ông với vua Lý Thánh Tông từ năm 1070 khi lập Văn Miếu. Năm 1075, ở kỳ thi Nho học đầu tiên của dân tộc đã tuyển được mười người hiền tài nhất, trong đó Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu và được giao việc giúp Vua học. Chỉ chưa đầy một năm sau, khi ngọn lửa chiến tranh bắt đầu, Lê Văn Thịnh được Vua tin tưởng phong ngay chức Binh bộ Thị lang (tương đương Thứ trưởng Bộ Quốc phòng bây giờ). Như thế, bên cạnh vị võ tướng kiệt xuất có vị quân sư văn lược tinh thông.

Lịch sử nước ta từ cổ chí kim thường chống giặc ở tư thế tự vệ khi địch đã xâm phạm bờ cõi. Duy chỉ có Lý Thường Kiệt dám nghĩ tới việc “Tiên phát chế nhân”, ông khẳng khái tâu Vua: “Ngồi im đợi giặc không bằng chủ động đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”.

Phán đoán quân Tống vào đánh nước ta qua hai đường chính: Đường bộ từ Ung Châu và đường thủy từ cửa bể Khâm, Liêm, Thái úy Lý Thường Kiệt chủ động tấn công trước. Từ Vĩnh An (Hải Ninh, Móng Cái, Quảng Ninh), đại quân đường thủy do Thái úy Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy đánh vào ven biển Quảng Đông. Cánh quân bộ từ biên giới miền Quảng Nguyên kéo sang đánh Tống ở vùng Quảng Tây do Nùng Tôn Đản quản lĩnh. Vùng Môn Châu có Hoàng Kim Mãn thống lĩnh, vùng Lạng Châu có phò mã Thân Cảnh Phúc và vùng Tô Mậu do Vi Thủ An cầm quân. Hành quân táo bạo, bất ngờ, thêm mưu lược tài tình, quân đội nhà Lý mau chóng phá tan các cứ điểm xung yếu chứa lương thực, vũ khí. Đại quân do Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy chỉ trong 7 ngày là đã tới vây thành Ung Châu (Nam Ninh, Trung Quốc). Để tránh xung đột với dân Tống và bất lợi về lương thực, Lý Thường Kiệt đã tìm một danh nghĩa cho cuộc tiến công. Ông yết bảng “Phạt Tống lộ bố văn” kể tội quân Tống, nêu cao đại nghĩa tự thủ chủ quyền và giúp dân Tống chống lại phép Thanh Miêu, Trợ dịch hà khắc của triều đình nhà Tống. Người dân Tống đọc lời lộ bố vui mừng đem lương thực tới giúp quân đội nhà Lý… Với chất lượng vũ khí hơn hẳn nhà Tống cộng với mưu lược tài trí, chỉ trong 42 ngày đêm công kích, thành Ung Châu kiên cố đã thất thủ. Đại quân nhà Lý thừa thắng kéo tiếp lên phía Bắc phá thành Tân Châu rồi mau chóng kéo quân về, trước khi quân nhà Tống đang ồ ạt kéo xuống.

Sau gần một năm khắc phục thiệt hại, quân đội nhà Tống do Nguyên soái Quách Quỳ và Triệu Tiết (Phó Nguyên soái) chỉ huy tiến đánh Đại Việt. Đó là tháng 11 năm Bính Thìn (1076).

Tranh minh họa Thái úy Lý Thường Kiệt dẫn quân đánh giặc Tống

Tránh thế giặc cuồng bạo, Lý Thường Kiệt đã sớm chuẩn bị. Ông cho nhiều toán quân tập kích giặc trên đường hành quân nhằm tiêu hao lực lượng. Thời gian này, phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) được xây dựng kiên cố để cố thủ. Nếu địch vượt qua được chiến tuyến này, lăng tẩm nhà Lý sẽ bị san phẳng, Thăng Long có thể thất thủ trong chốc lát, vì phòng tuyến chỉ cách Thăng Long 20 km. Phòng tuyến dài ngót 100 km được đắp đất và rào tre làm giậu (nay là đoạn từ huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) sang Đa Phúc (Sóc Sơn, Hà Nội) đến Phả Lại). Hỗ trợ phòng tuyến, thuỷ quân Đại Việt đóng ở Lục Đầu Giang sẵn sàng tiếp ứng cùng các cánh quân thuỷ khác ở sông Thương, sông Bạch Đằng… Các cánh quân người thiểu số do Lý Kế Nguyên, Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Nùng Trí Cao, Nùng Thuận Linh chỉ huy sẽ quấy nhiễu hậu phương địch.

Quân Tống đổ dồn tụ tập trước phòng tuyến từ địa phận Hiệp Hòa, Việt Yên, Yên Dũng (Bắc Giang) với chiều dài khoảng 30 km. Do lực lượng địch áp đảo, cũng có lúc phòng tuyến tưởng chừng khó giữ, nhưng bằng quyết tâm sắt đá, phòng tuyến luôn luôn được củng cố. Trong một lần tập kích sang trại giặc, hai hoàng tử Hoằng Chân và Chiêu Văn cùng hơn 500 quân ta tử trận. Thế giằng co tới mùa hè năm sau. Thời tiết nóng nực khiến quân Tống mỏi mệt, bệnh tật lan tràn, tinh thần suy sụp còn lương thực sắp cạn. Quân tướng Tống tiến thoái lưỡng nan.

Thời cơ phản công đã đến. Vào một đêm, từ đại bản doanh trên núi Thất Diệu (đền Núi, Yên Phong, Bắc Ninh) Lý Thường Kiệt sai người tới ngôi đền thiêng thờ Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát) ở ngã ba Xà (nơi hợp lưu sông Cà Lồ, Như Nguyệt) nơi gần đại bản doanh Triệu Tiết, tựa như thần nhân đọc vang lên bài thơ mắng giặc:

Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phậm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Dịch nghĩa:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Khí thơ hùng tráng, quật cường này sống mãi trong lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, được coi là Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên của nước Việt ta.

Phút chốc, lời thơ “Thần” như một liều thuốc tinh thần cực mạnh, nhuệ khí quân dân Đại Việt vụt bùng lên, ngược lại, quân Tống thất vía kinh hồn. Quân Đại Việt bất ngờ tập kích. Sau ngót ngàn năm, đến nay, nhân dân vùng Hiệp Hòa vẫn còn gọi một cánh đồng rộng là cánh đồng Xác – nơi xác giặc chết la liệt ngày xưa và có một ngôi chùa Xác – ngôi chùa cầu siêu cho vong linh lính bại trận năm nào.

Tổng kết chiến tranh, không tính thiệt hại vô kể của lần bị quân Đại Việt sang đánh, Chính Thúc, sử gia nhà Tống viết: “8 vạn phu vận lương và 11 vạn chiến binh chết vì lam chướng. Còn được 28 ngàn người sống sót về, mà trong đó còn ốm yếu nhiều. Kể cả số trước bị địch giết thêm mấy vạn, cả thảy không dưới 30 vạn”. Phí tổn tiền vàng tính ra là 5 triệu 190 ngàn lượng vàng”.

Chiến thắng vang dội, thế nước cường thịnh, Đoàn ngoại giao do Binh bộ Thượng thư Lê Văn Thịnh (tương đương Bộ trưởng Quốc phòng) sang trại Vĩnh Bình đàm phán thắng lợi, giành lại cương thổ đã mất về tay nhà Tống trước và trong chiến tranh.

Lập võ công hiển hách, nhưng để giữ hòa khí bang giao (nhà Tống đòi xử người cầm đầu cuộc chiến ở Đại Việt), Lý Thường Kiệt tự nguyện rời triều đình vào Thanh Hóa trấn nhậm. Song đó cũng là sách lược để giữ yên cương thổ phía Nam Tổ quốc.

Từ Khôi

daidoanket.vn

Bài 3: Giặc dữ Mông – Nguyên ba lần đại bại – Kỳ 3

Năm 1236, Mông Cổ chính thức xâm lược nhà Nam Tống. Năm 1256, toàn bộ nước Đại Lý (nay là tỉnh Vân Nam) đã chia thành phủ, huyện đặt dưới quyền cai trị của người Mông Cổ, đứng đầu là viên tướng Uriyangqadai. Nước Đại Việt từ nay bị Mông Cổ trực tiếp uy hiếp. Uriyangqadai cho sứ tới Thăng Long đòi Nhà nước Đại Việt phải chấp nhận ba việc: Một là triều cống; hai là cho quân Mông Cổ mượn đường đánh vào Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc); Ba là đặt chức Daguratri (viên toàn quyền) tại Thăng Long. Nhà Trần chỉ chấp nhận có một việc là cống nạp mà thôi.

Tướng giặc Nguyên là Thoát Hoan bị quân dân Đại Việt
 đánh cho đại bại, phải chui vào ống đồng chạy trốn

Tranh của họa sĩ Nguyễn Bích

Lường trước được tình thế nên từ năm 1230 trở đi, nhà Trần đã lo củng cố và phát triển kinh tế, chăm lo đời sống cho dân. Về việc binh, ngoài số quân thường trực ít ỏi của triều đình, nhà vua cho phép các vương hầu được lập phủ binh, gia binh lấy từ số nông phu trong điền trang thái ấp của mình. Quân ấy khi thường thì giữ gìn an ninh ở địa phương, khi nước có giặc thì Nhà nước sai khiến vào việc đánh giặc, giữ nước. Ngoài ra, với chính sách “ngụ binh ư nông” đã có từ thời nhà Lý, nay vẫn duy trì, nên số quân dự bị khá đông, sẵn sàng bổ sung cho quân thường trực khi cần. Năm 1257, chúa Mông Cổ mở đợt đại tiến công vào thành trì nhà Nam Tống theo bốn hướng qua các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Kinh Sơn và Nam Ninh (Quảng Tây). Nhưng quân Mông Cổ muốn đánh vào Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây) phải qua nẻo đường Đại Việt. Vì vậy năm Đinh Tỵ (1257), tướng Mông Cổ ở Vân Nam (Đại Lý) đã ba lần cử sứ vào Đại Việt. Lần thứ nhất, vào tháng 8, lần thứ hai vào tháng 9 và lần thứ ba vào tháng 11. Các viên tuyên dụ sứ Mông Cổ vào Thăng Long đòi nhà Trần phải thực hiện đầy đủ cả ba yêu sách. Bị nhà Trần khước từ, chúng buông lời mạt sát hỗn hào xâm phạm đến quốc chủ và quốc thể, nên cả ba lần, các tên chánh sứ đều bị giam trong nhà công quán.

Cả ba đoàn tuyên dụ sứ vào Thăng Long không một đoàn nào trở về. Mặt khác, lại bị triều đình thúc giục tiến đánh Ung Châu để phối hợp với các cánh quân khác, Uriyangqadai liền huy động hơn 30 ngàn quân kỵ Mông Cổ và 20 ngàn quân bộ là người Thoán – Bặc của tên vua bù nhìn Đoàn Hưng Trí lên đường vào xâm lăng Đại Việt từ ngày 12 tháng chạp năm Đinh Tỵ (17-1-1258).

Vua Trần Thái Tôn lập trận địa cản giặc tại Đồng Bình Lệ (nay thuộc Vĩnh Phúc) rồi lui quân về Thăng Long. Sau lại bỏ Thăng Long về tập kết quân đội tại vùng Mạn Trù (Hưng Yên).

Quân giặc vào Thăng Long tìm tới nhà công quán thấy ba tên chánh sứ còn đang bị trói, một tên bị trói chặt quá đã chết. Một tuần sau quân ta phản công. Lúc này, quân của Trần Hưng Đạo phối hợp với quân của các tù trưởng Hà Bổng, Hà Khuất trên vùng Lào Cai, Yên Bái đã tiêu diệt gọn 2 vạn quân Thoán – Bặc của Đoàn Hưng Trí. Tướng giặc biết được tin này nên khi quân ta phản kích, giặc hoảng hốt tháo chạy, bỏ lại Thăng Long tất cả những gì chúng vơ vét được và trên đường rút chạy, giặc không dám dừng lại cướp bóc hoặc giết chóc, không gây thiệt hại gì cho dân, nên dân gọi nó là “giặc Phật”. Và đoàn quân xâm lược ấy lúc đi có hơn 3 vạn, lúc về chỉ còn lại hơn 5 ngàn. Bị thiệt hại nặng nề, từ đó người Mông Cổ không ép ta nữa mà chỉ mơn trớn, dụ dỗ. Dò biết được tình hình quân Mông Cổ đánh Trung Hoa dữ dội, nhà Trần đi sâu vào việc tăng cường binh bị, cố kết trăm họ để giữ nước. Năm 1279, quân Mông Cổ đã hoàn toàn tiêu diệt nhà Nam Tống, đặt nền thống trị trên toàn cõi Trung Hoa, lập ra Nhà nước Đại Nguyên do Hốt Tất Liệt – cháu nội Thành Cát Tư Hãn lên ngôi hoàng đế. Lúc này, Hốt Tất Liệt rảnh tay thôn tính Đại Việt. Trước hết, y dùng sức ép, đòi nhà Trần phải thực thi 6 điều: Quân trưởng (vua Đại Việt) phải vào chầu; Kê khai hộ khẩu; Phải chịu quân dịch; Phải nộp phú thuế; Cho mượn đường sang đánh Chiêm Thành; Đặt chức Daguratri (toàn quyền), đeo hổ phù, ra vào triều đình Đại Việt và đi bất cứ nơi chốn nào trong nước mà y muốn. Xét ra nhà Trần chỉ nhận một trong sáu điều trên thì coi như nước đã mất chủ quyền. Vả lại lúc này Hốt Tất Liệt chỉ cần Đại Việt sơ sẩy điều gì trong quan hệ bang giao là y có cớ cất quân xâm chiếm ngay.

Vua tôi nhà Trần phải bàn tính, làm thế nào từ chối cả 6 điều mà vẫn tránh được can qua. Không những thế từ triều đình đến các vương hầu khẩn trương luyện tập tinh binh đề phòng bất trắc. Ngoài ra còn phải lo cất giấu lương thực để tiếp tế cho quân, lo tổ chức và huấn luyện các đội dân binh, hương binh… trăm thứ phải lo khẩn cấp như giặc đã áp sát biên thùy, nhưng lại phải che tai bịt mắt sứ giặc khiến chúng có tai như điếc, có mắt như đui.

Chỉ cần đọc lại các sự kiện lịch sử diễn ra từ 1280 đến 1285 chứ chưa phải chứng kiến, ta thấy tổ tiên ta phải nín nhịn, kể cả nhịn nhục đến mức nào để tranh thủ hòa hoãn từng ngày, nhằm có thời gian chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Và chỉ cần đọc qua “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn cũng đủ làm ta sôi máu: “…ngó thấy sứ giặc nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham khôn cùng; giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng để vét của kho có hạn”. Sứ giặc thì nghênh ngang ngay giữa triều đình của ta mà như đi vào chỗ không người, nói năng thì hỗn xược như một kẻ phàm phu say máu. Chân tay, tai mắt chúng cài cắm khắp nơi, đến nỗi họp đại hội để bàn kế đánh giặc, triều đình phải đưa về tận bến Bình Than, họp trên những chiến thuyền neo đậu giữa sông để tránh tai mắt giặc.

Trong khi đó nhà Nguyên ép ta tưởng đến nghẹt thở. Hàng ngày, sứ giặc thúc triều đình ta phải thực hiện cả 6 điều mà Hốt Tất Liệt đòi hỏi. Nhà vua phải cử quốc thúc (chú vua) là Trần Di Ái và cả một phái bộ sang Yên Kinh triều cống và bàn hòa. Hốt Tất Liệt phong cho Trần Di Ái làm An Nam Quốc vương và chức tước cho những người đi theo, tựa như đó mới là triều đình được nhà Nguyên công nhận, đương nhiên chúng coi triều đình ở Thăng Long dường như không tồn tại.

Tiếp đó, nhà Nguyên cho 5 ngàn quân hộ tống Trần Di Ái về nước chấp chính, cùng đi có chánh sứ nhà Nguyên là Sài Thung giám sát. Đây là một ngón đòn cực hiểm trong thế cuộc bang giao. Cuộc bang giao có vũ trang này, chỉ cần phía Đại Việt tiêu diệt cánh quân Nguyên và làm thương tổn đến sứ đoàn nơi biên thùy hoặc trên đất Đại Việt thì lập tức có hàng chục vạn quân Nguyên tràn ngay vào Đại Việt.

Triều đình Đại Việt vừa khôn khéo vừa quyết liệt. Nghĩa là cản không cho quân hộ vệ viên sứ giả Sài Thung và cái triều đình bù nhìn kia vào đất ta. Nhưng phải bảo vệ cho Sài Thung và sứ đoàn rồi đưa về Thăng Long thương thảo, mặt khác bắt cho bằng được Trần Di Ái và những kẻ cộng sự về trị tội.

Chúng ta đã làm tất cả, nhưng tham vọng thống trị thiên hạ của Hốt Tất Liệt là không có giới hạn. Y không cho phép một quốc gia nhỏ bé như Đại Việt được tồn tại, trong khi nước Tống rộng lớn, giàu có và đông đúc gấp cả trăm lần Đại Việt đã phải quỳ gối làm tôi người Mông Cổ. Và thế là cuối năm Giáp Thân, đầu năm Ất Dậu (cuối năm 1284, đầu năm 1285) Hốt Tất Liệt xua 50 vạn quân cùng với hàng trăm danh tướng do đích thân Thoát Hoan là con trai y chỉ huy.

Sau gần 30 năm dân chúng sống trong hòa bình, nay phải đương đầu với đội quân xâm lược cực lớn lại thiện chiến và vô cùng tàn bạo, chúng đánh nhau khắp bốn phương trời hầu như không có địch thủ. Thế nước vô cùng chao đảo, mệnh nước tưởng như sắp đứt thì Trần Kiện, cha con Trần Ích Tắc là những thân vương, nắm giữ trong tay nhiều quân tinh nhuệ lũ lượt kéo nhau ra hàng giặc.

Hai cây lim cổ thụ còn sót lại từ khu rừng được lấy gỗ làm bẫy cọc
 trong trận Bạch Đằng năm 1288 tại Yên Giang

Ảnh: Từ Khôi

Ấy vậy mà các vua nhà Trần cùng toàn quân, toàn dân muôn người như một dưới sự chỉ đạo khôn khéo và ngoan cường của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, đã vực được thế quân lên. Cuối cùng, đã đuổi được giặc ra khỏi nước, giết và bắt sống hàng chục vạn binh lính giặc. Hàng chục viên danh tướng của giặc bị giết, bị bắt, Trấn Nam Vương Thoát Hoan run sợ trên đường tháo chạy phải chui trong rọ tre ngoài bọc đồng lá để tránh tên đạn và y chịu để cho quân lính kéo lê dọc đường. Cuối tháng chạp năm trước giặc hùng hổ kéo quân vào xâm lược nước ta, giữa tháng 6 năm sau trên đất ta đã sạch bóng quân thù.

Lũ tướng bại trận kéo nhau về Yên Kinh phủ phục trước thềm đại điện chịu tội trước Hốt Tất Liệt. Chúa nhà Nguyên thật sự đau lòng, nhưng không nuốt trôi thất bại. Y chỉ quở nhẹ tướng lĩnh rồi sai lập ngay bộ chỉ huy quân sự mới, huy động thuyền bè, lừa ngựa, quân lương để đến cuối năm lại xuất chinh làm cỏ Đại Việt. Nhưng giặc già Hốt Tất Liệt không thể làm theo ý mình, bởi trời không chiều kẻ ác. Vì rằng dân Trung quốc không chịu nổi ách thống trị ngoại bang, nhiều nơi dân chúng đã nổi dậy chống lại kẻ cai trị, và cũng nhiều tỉnh phía Nam dân đói tràn lan, bọn thống trị không thu được lương thực. Và mãi tới cuối năm 1287 đầu năm 1288 giặc mới khởi sự cuộc xâm lăng nước ta. Lần này cũng vẫn số quân lớn như lần trước, cũng do hoàng tử Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương tổng chỉ huy đội quân xâm lược. Tuy vậy, lần này có khác hơn lần trước, giặc chở theo hơn 70 vạn thạch lương và số thủy quân hơn 10 vạn, số thuyền chiến hơn 700 chiếc, mục đích của chúng là chinh phục bằng được Đại Việt.

Hai mặt thủy bộ giặc tiến ào ạt như gió lốc. Cuộc chiến năm Ất Dậu (1285) Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã hơi nao núng bèn hỏi Trần Quốc Tuấn: “Thế giặc đang cường, nếu ta không cản được, chúng sẽ tàn sát hết lương dân, hay ta tạm hòa để cứu trăm họ?”. Quốc Tuấn khảng khái đáp: “Nếu bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần”. Năm Mậu Tý (1288) giặc lại ầm ầm kéo vào, Trần Nhân Tông hỏi Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: “Năm nay giặc lại đến, làm thế nào?”. Hưng Đạo Vương liền đáp: “Kim niên tặc nhàn” (năm nay đánh giặc dễ).

Thật vậy, đầu tháng giêng năm Mậu Tý (1288) giặc mới vào hết đất ta, nửa đầu tháng 3 ta đã đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Lần này, ta thắng tuyệt đối, đánh đắm và thu toàn bộ hơn 70 vạn thạch lương, khi giặc rút về nẻo sông Bạch Đằng có gần 10 vạn quân thủy với hơn 600 chiến thuyền bị hút vào thế trận cọc đã mai phục sẵn, nên hết thảy quân chúng đều bị bắt, bị giết. Không một tên quân, tên tướng, một chiến thuyền nào chạy thoát. Hốt Tất Liệt lại mưu toan đánh ta một lần nữa. Mưu chưa thành thì Hốt Tất Liệt lăn ra chết. Con lên nối ngôi xuống chiếu bãi việc Nam chinh. Đất nước ta từ đấy được yên hưởng hòa bình, nhưng cái họa phương Bắc thì không lúc nào nguôi vợi.

Qua ba lần chiến thắng giặc dữ Mông – Nguyên có thể rút ra những bài học quý báu:

Về mặt đối nội:

Triều đình sáng suốt, đoàn kết chặt chẽ nội bộ, cố kết toàn dân, dựa hẳn vào dân để tạo ra sức mạnh dời non lấp biển; Chăm lo đời sống cho dân về mọi mặt; Coi trọng phát triển sản xuất; xây dựng các chủng quân tinh nhuệ ngay trong thời bình; Xây dựng quân dự bị xưa gọi là “phiên binh” liên tục trên cơ sở của chính sách “ngụ binh ư nông”; Khi chiến tranh nổ ra thì thực hiện chính sách toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vườn không nhà trống (thanh dã), không một nơi nào trên đất nước ta để giặc được ở yên.

Về đối ngoại:

Luôn luôn tôn trọng đối phương; Lấy hòa hiếu ổn định làm trọng; Vì ta là nước nhỏ nên lấy sự mềm dẻo làm chính, lấy nhu hòa làm chính. Mềm và nhu là sách lược. Cho nên mềm mà không tỏ ra yếu, nhu mà không tỏ ra nhược. Ví như kẻ địch cậy mạnh mà lấn lướt vi phạm đến quốc thể và quốc uy thì như sứ Mông Cổ ba lần vào Thăng Long năm 1257 đều bị nhà Trần tống giam, mặc dù trước đó ta đã hết sức mềm dẻo và chịu sự cống nạp. Thật vậy, nếu ta nhún nhường chỉ lùi một bước thì giặc sẽ tiến cả trăm bước; Giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc bất di bất dịch trong đối sách bang giao.

Do đường lối chính sách đúng đắn về đối nội và đối ngoại nên nhà Trần đã tạo ra được sức mạnh siêu thần nhập hóa, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc trước một kẻ thù khổng lồ và chúng chưa từng biết đến chiến bại trước khi vào xâm lăng Đại Việt.

Thiết tưởng các bài học giữ nước của nhà Trần tới nay vẫn còn nguyên giá trị.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải

daidoanket.vn

Bài 3: Lê Lợi – 10 năm trường kỳ kháng chiến quét sạch giặc Minh xâm lược – Kỳ 4

Trong vòng 30 năm, từ mấy năm cuối thế kỷ XIV và những thập kỷ đầu thế kỷ XV, Đại Việt xảy ra nhiều sự kiện lịch sử trọng đại. Năm 1397, Hồ Quý Ly cho xây thành Tây Đô, buộc vương triều Trần từ bỏ kinh đô Thăng Long. Năm 1400, Hồ Quý Ly phế bỏ vương triều Trần, lập vương triều Hồ.

Năm 1407, nhà Minh cử 80 vạn quân sang xâm lược Đại Việt, cha con Hồ Quý Ly bị bắt, vương triều Hồ tan vỡ. Trần Ngỗi tái lập nhà Hậu Trần, tổ chức kháng chiến chống Minh, nhưng rồi thất bại; Trần Quý Khoáng tiếp tục sự nghiệp, nhưng cuối cùng giặc Minh đàn áp và bình định xong Đại Việt, đặt ách đô hộ lên toàn lãnh thổ Đại Việt vào năm 1414. Từ năm 1416 – 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa và trải qua 10 năm, đến năm 1427 quét sạch hoàn toàn 95 vạn quân Minh xâm lược ra khỏi bờ cõi. Đầu năm 1428, Lê Lợi vào Thăng Long, thành lập vương triều Lê, mở đầu thời đại mới của nền độc lập dân tộc.

Tranh minh họa Lê Lợi trả gươm cho rùa thần

Ảnh TL

Vì sao nhà Minh xâm lăng Đại Việt?

Đánh phá, xâm lăng, thôn tính, tiêu diệt các nước láng giềng, là bản chất thâm căn cố đế của chủ nghĩa bành trướng phương Bắc từ hàng ngàn năm qua, nhưng để làm việc đó phải có cơ hội. Nhà Minh khởi phát từ năm 1368, hơn 30 năm qua đang chờ thời cơ, và việc nhà Hồ thay nhà Trần là nguyên cớ trực tiếp vì từ năm 1369, nhà Minh đã sai sứ đem ấn vàng sắc rồng sang phong vương cho Trần Hiến Tông, như là một “bảo kê” vững chắc cho “chư hầu” Đại Việt, hễ ai xâm phạm (chỉ nhà Hồ) sẽ bị thiên triều cử quân sang hỏi tội và phục lại triều Trần. Chính nhà Minh năm 1406 cử Chu Năng thống lĩnh đại quân đánh Đại Việt, khi đến Quảng Tây, thảo văn thư bố cáo thiên hạ, kể tội họ Hồ, nói phục tìm con cháu họ Trần để giao lại ngôi Vương. Không may Chu Năng ốm chết. Đến lượt Trương Phụ “nhai lại” luận điệu cầm quân sang tìm lại con cháu họ Trần. Bởi vì năm 1400, Hồ Quý Ly nói với nhà Minh rằng: Họ Trần đã tuyệt chủng, Hán Thương là cháu ngoại Trần Minh Tông tạm trông coi việc nước. Lý ngay tình gian, nhà Minh không nghe vì đây chính là cơ hội có một không hai để xâm lăng Đại Việt.

Quân dân Đại Việt đứng lên đánh giặc dưới cờ Lam Sơn

Sự thất bại nhanh chóng của quân lính nhà Hồ và sự kém may mắn của lực lượng kháng chiến của nhà Hậu Trần, xét cho đến cùng là có nguyên nhân của nó. Với nhà Hồ, đó là sự “đơn thương độc mã” của quân chính quy trước uy lực của quân xâm lăng. Việc cướp ngôi nhà Trần gây mất lòng dân chúng đến cực độ, đến nỗi con em đại thần của nhà Trần, như các cháu của Mạc Đĩnh Chi, cũng theo quân giặc chống lại nhà Hồ, thế nên cuộc kháng chiến nhanh chóng thất bại vì thiếu sự ủng hộ phối hợp của dân chúng. Còn với nhà Hậu Trần, lực lượng mạnh, có nhiều cơ may nhưng lại thiếu một bộ chỉ huy tài ba. Chẳng hạn, Trần Ngỗi vì nghe lời dèm pha mà giết Nguyễn Cảnh Chân và Đặng Tất khi chiến thắng sắp tới tận Thăng Long. Với Trần Quý Khoáng thì bị cha con Phạm Quý Hữu, Phạm Liễu (từng cộng tác với nhà Hậu Trần) khai báo hết bí mật cho Trương Phụ. Chúng còn xúc xiểm Trương Phụ giết chết tướng lĩnh tài ba Nguyễn Biểu…

Rút được bài học từ các cuộc kháng chiến của nhà Hồ, nhà Hậu Trần và thừa kế truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn được thành lập năm 1416 tại Lam Sơn (Thanh Hóa), đã phát động và tổ chức cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược một cách bài bản hơn, thực tế và thiết thực hơn hay nói cách khác là bộ chỉ huy Lam Sơn đã “biết ta biết địch” một cách chắc chắn, cái còn lại là biện pháp tiến hành chiến tranh hướng đến ngày toàn thắng.

Trải gần 600 năm sau cuộc kháng chiến chống Minh và hàng chục cuộc kháng chiến chống ngoại xâm diễn ra liên tiếp sau đó cho đến nay, cho phép chúng ta hiểu rõ hơn và khái quát được những gì cần thiết để củng cố và nâng cao hơn nữa ý thức, trình độ và những kế sách cần thiết để tiếp tục bảo vệ vững bền nền độc lập dân tộc đánh bại mọi âm mưu xâm lăng, thôn tính của ngoại bang. Đại thể nên được khái quát và nhìn nhận như sau:

1. Muốn bảo vệ độc lập dân tộc trước hết phải khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia dân tộc.

Đó là cái bẩm sinh, có tính di truyền bền vững của mọi dân tộc với lãnh thổ quốc gia của mình. Hai Bà Trưng phất cờ đánh Tô Định cũng vì “xin giữ lại nghiệp xưa Vua Hùng”, Lý Bí lập quốc và con cháu ông sau này đã tuyên bố: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư”. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi khẳng định trong Bình Ngô đại cáo: “Nghĩ như nước Đại Việt ta, thực là một nước văn hiến. Cõi bờ sông núi đã riêng, phong tục Bắc Nam cũng khác. Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương…”. Chủ quyền lãnh thổ và độc lập quốc gia dân tộc là vô cùng thiêng liêng không ai có quyền xâm phạm và không thể bị xâm phạm. Ai đó và trong lúc nào đó lơ là chủ quyền và độc lập sẽ làm phương hại đến từng tấc đất và lãnh thổ quốc gia mà tổ tiên đã dày công bảo tồn. Chiến đấu cho độc lập dân tộc trở thành nghĩa vụ xương máu của mọi thế hệ thần dân Đại Việt. Bộ Chỉ huy Lam Sơn đã khơi dậy lòng tự tôn dân tộc, phát huy tiềm năng dân tộc đang bị kìm nén bởi bọn xâm lược hung tàn, như Bình Ngô đại cáo đã tố cáo: “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ dưới hầm tai họa”.

2. Phát động toàn dân kháng chiến – xây dựng căn cứ và mở rộng hậu phương kháng chiến

Rút ra bài học thất bại của nhà Hồ, là khi biết quân địch hùng mạnh sang, chỉ lo củng cố lực lượng chính quy của Nhà nước, mà không xây dựng lực lượng dân binh đến tận địa phương, cho nên khi quân đội chính quy bị tiêu diệt, không còn ai kháng chiến nữa. Hàng trăm vạn thần dân không thể chiến đấu, trở thành tù binh của quân xâm lược. Lê Lợi và bộ chỉ huy ngay từ đầu đã ý thức được điều này: Giặc là giặc nước, giặc dân, toàn dân phải đứng lên đánh giặc, phải có tổ chức, có chỉ huy, có người đưa đường dẫn lối để làm nên chiến thắng cuối cùng.

Từ Lam Sơn, Lê Lợi phát lời hiệu triệu toàn dân đánh giặc. Hào kiệt cả nước đổ về Lam Sơn mở Hội thề Lũng Nhai (1416). Noi gương Lam Sơn, khắp nơi trong nước, các lực lượng kháng chiến địa phương hình thành. Cho đến trước năm 1418, cả nước có hàng chục nơi hình thành lực lượng, như: Nguyễn Biên, Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Vĩnh Lộc… ở Nghệ Tĩnh và nhiều nơi khác. Các thế lực đó hướng về Lam Sơn, cộng tác với Lam Sơn tạo nên nhiều chiến công.

Căn cứ Lam Sơn không ngừng được củng cố. Bắt đầu từ năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn tổ chức tập kích quân địch. Song buổi đầu thua nhiều hơn thắng, phải hy sinh Lê Lai, để bảo toàn Lê Lợi và bộ chỉ huy Lam Sơn, duy trì căn cứ kháng chiến. Tình thế kéo dài 5 – 6 năm, những hạn chế của căn cứ được khắc phục bằng một chuyển hướng mở rộng hậu phương tại Nghệ An.

Lê Lợi là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn, chiến thắng quân Minh

Để vào được Nghệ An, nghĩa quân Lam Sơn đã tiến hành cuộc hành quân vất vả nhưng oai hùng. Lần lượt tiêu diệt các đồn binh giặc từ Trà Long, Khả Lưu, Bồ Ải… đến Lục Niên, Linh Cảm, rồi vây kín quân giặc tại Lam Thành, giải phóng nông thôn Nghệ An, tiến vào giải phóng nông thôn Tân Bình – Thuận Hóa. Trong vòng 2 năm 1424 – 1425, từ Thanh Hóa trở vào là khu hậu phương rộng lớn, quân giặc bị vây hãm chặt ở trong các thành: Tây Đô, Diễn Châu, Lam Thành, Tân Bình và Thuận Hóa chờ ngày ra hàng hoặc bị tiêu diệt nếu ngoan cố. Với hậu phương bao la, các địa phương từ Thanh Hóa trở ra, lực lượng kháng chiến toàn dân phát triển rộng khắp, có hàng chục thủ lĩnh địa phương hoạt động bao vây tấn công địch, làm cho chúng co cụm lại trong các nơi đóng quân, lương thực bị phong tỏa, lực lượng suy yếu dần, đang chờ vận chết.

3. Vừa đánh vừa hòa, thắng lợi trọn vẹn nhất, ít hao tốn xương máu nhất

Chiến tranh truyền thống được hiểu: Kẻ nào mạnh hơn, tiêu diệt được đối phương là chiến thắng, có nghĩa là giá cho chiến tranh là giá của xương máu. Với nghĩa quân Lam Sơn, do Nguyễn Trãi làm tham mưu, thì cùng với “vũ công” (đánh nhau bằng chiến trận…) là “Tâm công” (đánh bằng lòng nhân ái). Tất nhiên, nếu chưa đủ mạnh bằng “vũ công” thì chưa thể “tâm công”. Một khi đạt đến “vũ công” rồi mà sử dụng “tâm công” thì thiệt hại xương máu cho mọi phía sẽ là ít nhất và chiến thắng sẽ trọn vẹn nhất. Những thư hòa, dụ hàng của Nguyễn Trãi sau này được tập hợp trong “Quân trung từ mệnh tập”.

Mười năm trường kỳ kháng chiến, nghĩa quân Lam Sơn chăm lo củng cố lực lượng, nhưng luôn luôn chủ trương hòa với giặc, nếu hòa mà đạt được mục đích “thôi chiến” là tuyệt vời, nếu không cũng có thời gian để củng cố thêm lực lượng. Thời kỳ còn ở Lam Sơn, nghĩa quân đã hòa với quân Minh một thời gian dài, nhưng chúng lật lọng, buộc phải chuyển hướng. Khi vào Nghệ An, Lê Lợi gương cao ngọn cờ hòa, dụ hàng quân giặc. Khi sắp đánh đồn nào, trước hết là có thư dụ hàng, nếu giặc không hàng mới đánh. Đến như khi đánh quân viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh, Lê Lợi đều có thư dụ hàng. Vì không chịu dụ hàng mà 10 vạn viện binh của Liễu Thăng chỉ có mấy tên thoát chết.

Cuối năm 1427, Vương Thông bị vây hãm ở Đông Quan, chỉ một trận công kích mạnh là xong, vậy mà Lê Lợi chủ trương cầu hòa để họ an toàn về nước, không những thế còn cấp ngựa, cấp thuyền, cấp lương thực cho giặc trở về nước. Bình Ngô đại cáo viết: “Nó đã sợ chết tham sống mà thực bụng cầu hòa; Ta lấy toàn quân là hơn để cho dân được nghỉ. Không những là tính mưu lược cực kỳ sâu rộng; lại cũng là việc xưa nay chưa từng nghe thấy; Xã Tắc do đó vững bền! Non sông do đó tươi đẹp”.

Đất nước yên bình trở lại, tư tưởng hòa hợp, cất bỏ giáo gươm để văn trị được dịp nảy nở phát triển mạnh mẽ, đem đến sự cường thịnh của quốc gia, dân chúng, được triều đình thực thi. Câu chuyện vua Lê trả gươm và tên gọi hồ Hoàn Kiếm mãi là biểu tượng đẹp của dân tộc ta về ước nguyện hòa bình, đầy tính nhân văn cao cả.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chiến công lừng lẫy của 10 năm kháng chiến chống giặc Minh, nhưng những trình bày ở trên là cơ bản và chủ đạo, cũng có thể đó là những bài học lịch sử khi tổng kết truyền thống giữ nước chống ngoại xâm của hôm qua, và cũng có thể để cho hôm nay và mai sau tham khảo, chắt lọc thừa kế, bổ sung để hoàn thiện.

Nhân đây xin được nói thêm rằng, chúng ta lâu nay có một thói quen cố hữu, rằng: Tất cả các cuộc chống xâm lăng, từ thời Hai Bà Trưng (40 – 44 SCN) cho đến các cuộc chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, hết thảy đều quy vào “khởi nghĩa”. Nghĩa từ “khởi nghĩa” là để chỉ các cuộc nổi dậy trong nước chống lại nhà chức trách đương thời, có nghĩa là làm loạn, làm phản… bao hàm nghĩa xấu, nếu khởi nghĩa giành thắng lợi sẽ được định danh là “cách mạng”. Hết thảy các cuộc chống ngoại xâm của các dân tộc, các quốc gia trên thế giới từ xưa đến nay, nhất loạt đều gọi là các cuộc “kháng chiến”. Vì vậy, xin đề nghị các nhà nghiên cứu, các tác giả, các cơ quan truyền thông, từ nay nên dùng từ “kháng chiến” để thay cho “khởi nghĩa”, khi nói đến các cuộc nổi dậy chống xâm lăng.

Nhà sử học Bùi Thiết

daidoanket.vn

Bài 3: Quang Trung – 40 ngày thần tốc đại phá quân Thanh – Kỳ 5

Năm 1771 tại ấp Tây Sơn (Bình Định), xuất hiện một thế lực hùng mạnh của 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, một thời gian sau thanh toán thế lực họ Nguyễn Đàng Trong, năm 1778 thành lập Vương triều Tây Sơn, năm 1786 tiến ra Thăng Long thanh toán thế lực Trịnh, giúp Vương triều Lê giữ lấy chính triều.

Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, Vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân sang xâm lăng Đại Việt. Sau khi vượt qua kháng cự, quân Thanh vào chiếm đóng Thăng Long từ trước Tết Kỷ Dậu (1789) chờ đến ngày 6 tháng giêng Kỷ Dậu động binh tiến quân vào Nam. Từ ngoài Bắc cấp báo vào cho Nguyễn Huệ, ngày 24-11 Mậu Thân, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế Quang Trung tại Phú Xuân và ngày 25-11 chỉ huy 10 vạn quân thần tốc ra Thăng Long theo kế hoạch định sẵn và sẽ đập tan quân xâm lược ngay trước ngày chúng động binh, đó chính là chiến thắng Đống Đa ngày 5 Tết Kỷ Dậu.

Lễ hội Gò Đống Đa

Ảnh: Thái An

Nguyên cớ trực tiếp để quân Thanh vào Đại Việt

Xâm lược Đại Việt vẫn là mưu đồ của thế lực bành trướng xưa nay. Nhà Minh sau thất bại bởi Lê Lợi buộc phải thừa nhận Lê Lợi là Quốc vương An Nam, chịu “thần phục” nhà Minh, buộc thường kỳ Đại Việt phải nộp cống hai người vàng tượng trưng cho chánh và phó tướng Liễu Thăng bị chết trận năm 1427 (lệ này về sau bị bỏ). Cũng có lần sứ bộ nhà Minh đã hạch sách (sứ bộ Đại Việt là Nguyễn Văn Giai (1554 – 1628) rằng họ Trịnh đã cướp ngôi họ Lê thì được trả lời rằng họ Trịnh phò Lê và cộng sự của họ Lê nên họ khó có cớ xâm lăng. Nhà Thanh lên từ năm 1616, song nhà Lê lấy cớ “thuộc” Minh, mãi đến năm 1668 mới chính thức “phục” nhà Thanh. Trong hơn 160 năm, nhiều lần nhà Thanh tạo cớ thôn tính Đại Việt, song cơ may chưa đến, và lần này, tự thân Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh. Lời cầu vừa đến tai Càn Long, thì quân tướng binh lương nhà Thanh đã sẵn sàng lên đường, gồm 29 vạn quân theo ba hướng vào Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, hướng về Thăng Long. Quân Thanh xuất quân vào tháng 10 âm lịch, trên đường đến Thăng Long không gặp trở ngại gì, đến như một vạn quân mà Quang Trung giao cho Ngô Văn Sở chỉ huy đóng ở sông Cầu cũng phải rút lui về Tam Điệp để bảo toàn lực lượng đợi đại quân Quang Trung từ Huế. Mọi thông tin được cấp báo về Huế và mọi kế hoạch được Quang Trung vạch sẵn.

Hoàng đế Quang Trung trên đường ra Bắc Hà

Tranh minh họa

Quang Trung thần tốc đại phá quân Thanh

Quân Thanh tiến vào Đại Việt, đến tận Thăng Long một cách dễ dàng không bị kháng cự nào, tạo cho chúng thái độ chủ quan rằng quân dân Đại Việt ở Bắc Hà nghênh tiếp chúng một cách hoan hỉ và mục tiêu cuối cùng của chúng là Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Cho nên quân lính của chúng ở lại Thăng Long ăn Tết xả láng. Ở Phú Xuân, Hoàng đế Quang Trung chỉ còn chẵn 40 ngày để đưa quân đến tận Thăng Long đánh úp vào quân xâm lược đang phè phỡn, mất cảnh giác. Cả Tôn Sĩ Nghị cũng không tính được đến mùng 6 Tết quân Quang Trung có thể đến Thăng Long.

Bốn mươi ngày đường, khoảng cách 1.200 dặm, tổng số quân 10 vạn có 5 vạn từ Huế và 5 vạn tại Thanh Nghệ cùng 300 thớt voi, nếu muốn đến Thăng Long thì 1 ngày phải đi được 30 dặm (tức 15km), và phải đi liên tục không có ngày nghỉ nào cả. Vào thời điểm đó, từ Huế ra Thăng Long chỉ có hai tuyến đường chính: Đó là đường dịch trạm hay đường thiên lý (gần trùng với Quốc lộ 1A hiện nay) và tuyến Thượng đạo, men theo đồi núi trung du phía Tây, giãn cách với Quốc lộ 1A từ 30 – 40km đến 70 – 80km.

Với cuộc hành quân cấp tốc này của Quang Trung, cho đến nay hoàn toàn bí mật. Đương thời Quang Trung không tiết lộ, các tài liệu đương thời không có ai ghi chép, có lẽ đây là bí mật tuyệt đối không được tiết lộ cho ai kể cả tướng lĩnh tâm phúc nhất của Quang Trung, thậm chí quân lính chỉ chấp hành tiến theo từng chặng theo hướng dẫn, mà chẳng định vị đó là con đường nào. Muốn đi thần tốc, Quang Trung phải chọn một trong hai tuyến đường đó, và tuyến đường nào sẽ là tuyến hành quân chiến lược của đại quân Quang Trung?

Tuyến Lai Kinh (Quốc lộ 1A) có ưu điểm là ngắn hơn (nhưng không bao nhiêu), nhưng đó là đường đất và đặc biệt có từ 5 – 10 km là sông hồ, cầu đò, hai bên bờ sông lầy thụt, hàng vạn quân cùng 300 thớt voi sẽ khó vượt qua cầu đò để đạt tốc độ ngày 10 – 15km. Có thể khẳng định chắc chắn rằng đại quân, voi và phương tiện chiến tranh không thể nào vận hành theo tuyến Lai Kinh. Cũng có người cho rằng con đường nối Huế – Nghệ An, Nghệ An – Tam Điệp, Tam Điệp – Thăng Long theo trục Lai Kinh là đường hành quân của đại quân Quang Trung theo phương thức hành quân chia thành tốp 3 người, ngoài tư trang 3 người phải mang theo một chiếc thuyền thúng vừa thay nhau cáng để một người ngủ, và cả 3 cùng qua sông. Thật ra thuyền thúng chỉ là phương tiện đi lại trên ao đầm sông cạn, không thể là phương tiện chở người qua sông, nếu cho thuyền thúng xuống sông Gianh, sông Cả, sông Mã… thuyền chỉ có thể trôi theo dòng không thể qua bến bờ bên kia được. Vả lại một chiếc thuyền nặng đến 10kg, sẽ là một trọng lượng lớn cho hành quân đường xa. Lại nữa, các bờ sông lầy thụt trên tuyến Lai Kinh của vài ba chục dòng sông, sẽ nhấn chìm hết voi chiến. Nhiều tài liệu đến nay cũng cho rằng, đại quân Quang Trung theo tuyến Lai Kinh, được nghỉ lại ở Nghệ An 10 ngày, ở Tam Điệp 10 ngày. Như thế chỉ còn 20 ngày hành quân, mỗi ngày phải đi được 30 – 40km. Lịch sử hành quân của những đạo quân đương thời với Quang Trung cũng chỉ đạt 10 – 15km là tối đa. Đi bộ 1 ngày 40km có thể đi được (nhưng chỉ 1 ngày) còn liên tục là khó thực hiện đối với đông đảo quân lính. Đó là chưa nói nói đến việc, nếu đại quân Quang Trung tiến theo đường Lai Kinh sẽ không lọt qua tai mắt thám thính của bọn xâm lược và tay sai, nhất là các thế lực chống lại Tây Sơn. Trong nghệ thuật chọn con đường tốt nhất tiếp cận mục tiêu, ngoài các yếu tố địa hình, hậu cần, còn phải bảo đảm yếu tố bí mật đến tuyệt mật, trong binh pháp có tổng kết “lai vô ảnh, khứ vô hình” là muốn ám chỉ sự bí mật của đường đi.

Bia khắc lời vua Quang Trung trước khi

xuất quân đánh giặc Thanh xâm lược

Ảnh: Từ Khôi

Tuyến Thượng đạo có dài hơn một ít so với tuyến Lai Kinh nhưng địa hình đồi núi trung du, chỉ qua sông đầu nguồn và những con suối cạn. Chỉ có vài ba con sông lớn như sông Lam, sông Mã… Đây là Thượng đạo có từ xa xưa và các cuộc hành quân của các triều đại trước thường sử dụng. Đại thể có mấy chặng: Từ Huế – Quảng Bình trùng Quốc lộ 1A; Quảng Bình – Nghệ An trùng với đường sắt Đồng Hới – Vinh, nhưng đến Linh Cảm thẳng ra Nam Đàm; từ Nam Đàn thẳng ra Tân Kỳ – Như Xuân – Vĩnh Lộc – Thạch Thành (Thanh Hóa); từ đó ra Nho Quan, đến Chương Mỹ rồi vào Thăng Long (bỏ qua Tam Điệp). Như vậy quân sĩ, voi có thể theo Thượng đạo một cách bí mật thần tốc và đi bình thường 15km hàng ngày suốt 40 ngày đêm không mệt mỏi.

Với tuyến Thượng đạo, vấn đề qua sông suối là dễ dàng, 300 thớt voi đã có chuối rừng và cỏ làm thứ ăn thuận tiện. Và điều quan trọng là quân địch không thể nào phát hiện có sự động binh của Quang Trung ra Bắc. Nếu cứ theo tuyến Lai Kinh, đại quân sẽ đi qua các vùng có nhiều tai mắt của quân Thanh, chắc rằng quân Thanh sẽ động binh sớm hơn kế hoạch dự định.

Từ nghệ thuật chọn đường hành quân, tạo cho đại quân Quang Trung nhanh chóng – bất ngờ tiếp cận mục tiêu không để chúng kịp thời đối phó. Đại quân Quang Trung đến vùng Ninh Bình, kịp vào Tết Nguyên Đán. Đại quân đóng ở Nho Quan và ở Tam Điệp là căn cứ tập kết cũ. Từ hai địa điểm đó các cánh quân khinh binh từ Tam Điệp tiến theo Quốc lộ 1A và đường sông về Thăng Long và Hải Dương, đánh quân địch tại các đồn từ Thanh Quyết đến Hạ Hồi, Ngọc Hồi; Đại quân theo Thượng đạo vẫn bí mật bám sát tiến trình của khinh binh. Đêm mùng 4 rạng mùng 5 từ Chương Mỹ, đại quân chia làm 2 mũi, một mũi do Đô đốc Long đánh thẳng vào Đống Đa, nhanh chóng tiêu diệt Đống Đa. Thái Thú Sầm Nghi Đống thắt cổ tự tử. Cùng lúc và muộn hơn chút ít, khinh binh tấn công đồn Ngọc Hồi, tiêu diệt một vạn quân Thanh. Hai vạn quân địch vòng lên phía Tây Bắc định về Thăng Long liền bị cánh quân do Đô đốc Bảo từ Chương Mỹ qua Thanh Trì đánh làm hai vạn quân địch bị dìm chết tại Đầm Mực khiến cho quân Thanh kịp động binh vào mùng 6 Tết.

Tiêu diệt xong hai đồn quân tiền tiêu Đống Đa, Ngọc Hồi mà tại cung Tây Long Tôn Sĩ Nghị không hề hay biết, vì hai đồn này bị đánh bất ngờ, không có thông tin nào được truyền vào ngay trong chiến sự. Đại quân tiến vào Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị chui ống đồng cho quân sĩ dẫn sang bên kia sông Hồng, cùng bại binh tháo chạy về nước. Thăng Long và Đại Việt hoàn toàn sạch bóng quân thù.

Đại thắng Mậu Thân – Kỷ Dậu ở Thăng Long đã thể hiện vai trò nổi bật của Hoàng đế Quang Trung vừa là một chiến tướng, khoác áo bào đánh từ Ngọc Hồi đến Đống Đa vừa là linh hồn và người chủ xướng cách đánh, chỉ cho các tướng phải đánh ra sao cho thắng để giành thắng lợi hoàn toàn.

Nhà sử học Bùi Thiết

daidoanket.vn