Tag Archive | Đường lưỡi bò

Mỹ nổi nóng với Trung Quốc về yêu sách “đường lưỡi bò”

Mỹ nổi nóng với Trung Quốc về yêu sách (PetroTimes) – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách khu vực Đông Á, ông Daniel Russel, hôm qua (5/2) đã lên tiếng bày tỏ lo ngại về việc Trung Quốc thường xuyên khẳng định quyền kiểm soát ở Biển Đông dựa trên yêu sách chủ quyền mơ hồ và không được luật pháp quốc tế công nhận.

Tiếp tục đọc

Mã Anh Cửu: Đường lưỡi bò (phi pháp) ở Biển Đông không có gì thay đổi

 Mã Anh Cửu: Đường lưỡi bò (phi pháp) ở Biển Đông không có gì thay đổi(GDVN) – Trong những năm gần đây các tuyên bố “chủ quyền” mà Đài Loan đưa ra ở Biển Đông tương tự như Trung Quốc khiến nguy cơ bị khu vực ASEAN xa lánh, trong khi Đài Loan đang tìm cách tăng cường quan hệ kinh tế gần gũi hơn, do đó điều này phá hoại lợi ích lâu dài của Đài Loan cả trong khu vực và trên quốc tế.

Tiếp tục đọc

Về bài báo đường lưỡi bò trên China Daily

Tác giả: VIỆT LONG

Những học giả Trung Quốc chân chính cũng phải thừa nhận “trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc

LTS: Ngày 31/7/2011 Tuần Việt Nam đã đăng bài “Trung Quốc ngụy biện về đường lưỡi bò” giới thiệu bài báo của ông Lý Quốc Cường, một nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu về Biên giới Lịch sử và Địa lý Trung Quốc, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc trên báo China Daily. Mặc dù đã có khá nhiều bài viết phân tích về tính vô lý của đường lưỡi bò, việc chỉ ra những luận điểm chủ quan của tác giả bài viết trên là một việc nên làm trao đổi khoa học thẳng thắn.

Đường lưỡi bò của Trung Quốc được thế giới biết đến chính thức vào ngày 7/5/2009 qua Công hàm của Phái đoàn Ngoại giao Trung Quốc tại Liên hợp quốc phản đối hồ sơ chung ranh giới ngoài thềm lục địa Việt Nam-Malaysia và hồ sơ Việt Nam về ranh giới thềm lục địa thực hiện nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước luật biển năm 1982. Trước đó, con đường này có tồn tại một cách dấm dúi trong đầu óc của những kẻ ôm mộng Đại Hán, được thay đổi một cách tùy tiện phục vụ cho mưu đồ độc chiếm biển. Tác giả cho rằng đường chữ U là “Biên giới hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông là kết quả của tiến trình lịch sử, và đây là quốc gia duy nhất để phát triển khu vực liên tục trong suốt quá trình lịch sử. Bởi thế, người Trung Quốc có quyền chính yếu với các đảo ở Biển Đông“. Ngược lại ông cho rằng “Việt Nam, Malaysia và Philippines hầu như không biết bất kỳ điều gì về các đảo ở Biển Đông trước triều nhà Thanh (1644-1911), cũng như không có bằng chứng chứng tỏ các hoạt động của tổ tiên họ ở Biển Đông, dù chỉ là để lại một cái tên với bất kỳ hòn đảo nào“.

9 điểm phi lý của đường lưỡi bò

Về sự mơ hồ của đường lưỡi bò, đã có nhiều bài viết phân tích.[1] ở đây chỉ xin nhắc lại ít nhất 9 điểm phi lý.

Trước hết, thời điểm xuất hiện của đường lưỡi bò còn chưa được các tác giả Trung Quốc thống nhất, lúc thì nói là năm 1948, có lúc lại đẩy lên những năm 1930s.

Thứ hai, nguồn gốc đường này chỉ là một dạng xuất bản tư nhân.

“Đường lưỡi bò” phi lý do Trung Quốc tự vẽ, bị nhiều nước phản đối. Ảnh: BBC

Thứ ba, một đường lúc thì 11 đoạn, lúc thì 9 đoạn, vẽ tùy tiện, không tọa độ, không rõ ràng sao có khả năng thể hiện một đường yêu sách biên giới rõ ràng theo đúng các quy định của luật quốc tế để các quốc gia khác phải bận tâm.

Thứ tư, vào thời điểm đường lưỡi bò đang được Bộ Nội vụ Trung Hoa in trên bản đồ, Pháp đã đưa tàu và quân ra đóng giữ đảo Hoàng Sa, Trường Sa, tiếp tục duy trì danh nghĩa chủ quyền kế thừa từ Nhà nước phong kiến An Nam và hoạt động chiếm hữu theo luật quốc tế của Pháp năm 1933. Hoạt động thực tiễn này chẳng phải là sự phản đối hùng hồn ý định yêu sách hai quần đảo bằng cách vẽ đường chữ U từ phía nước láng giềng phương Bắc đó sao.

Thứ năm, Hiệp ước hòa bình San Francisco 1951 không đả động chút gì tới đường lưỡi bò. Ngay cả Tuyên bố của Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1951 về Dự thảo Hiệp ước San Francisco cũng đâu có nhắc gì đến đường chữ U. Cuộc bỏ phiếu giao Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc tại Hội nghị San Francissco theo đề nghị của Bộ trưởng Ngoại giao Xô viết Gromuko đã bị đa số bác bỏ (46 chống, 3 ủng hộ, 1 trắng). Vì vậy, không thể nói đã có sự công nhận quốc tế về chủ quyền Trung Quốc trên các đảo trong Biển Đông chứ đừng nói gì đến đường chữ U hay toàn bộ vùng biển trong đường chữ U.

Thứ sáu, thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Philippines, Malaysia đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa cho thấy không thể nói đường chữ U trên Biển Đông mà Trung Quốc vạch ra đã được các nước khác công nhận.

Thứ bảy, ngay cả những nước không liên quan gì đến tranh chấp cũng thể hiện quan điểm không đồng tình. Mỹ không công nhận bất kỳ vùng biển nào không gắn với đất liền và đảo. Indonexia cho lưu chuyển tại Liên hợp quốc ngày 8/7/2010 Công hàm không chấp nhận đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Thứ tám, đường chữ U yêu sách cái gì, nội hàm của nó yêu sách đảo, vùng biển hay cả hai, hay gì gì đi nữa là câu hỏi mà các tác giả Trung Quốc cũng chưa bao giờ thống nhất. Ngay trong bài viết trên China Daily cũng đầy mâu thuẫn khi tác giả của nó biện minh “biên giới biển của Trung Quốc ở Biển Đông là kết quả của tiến trình lịch sử” rồi lại nói “Trung Quốc sở hữu danh nghĩa lịch sử với các đảo, bãi đá ngầm, bãi cạn trong phạm vi đường chín đoạn, mặc dù điều đó không có nghĩa là toàn bộ vùng biển trong đường này thuộc về vùng nội thủy của Trung Quốc“. Ai cũng biết biên giới biển là để chia đường phân định biển giữa các quốc gia chứ không phải là đường phân chia đảo hay chủ quyền trên đảo. Đã nói đến biên giới biển tức vùng nước bên trong nó phải được đặt dưới chế độ nội thủy và lãnh hải vì biên giới đánh dấu sự kết thúc chủ quyền của một quốc gia.

Thứ chín, tác giả bài báo trên China Daily đã cố tình diễn giải sai Công ước luật biển 1982 để biện minh cho đường lưỡi bò dưới dạng một danh nghĩa lịch sử. Toàn văn điều 15 là : “Khi hai quốc gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không quốc gia nào được quyền mở rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thỏa thuận ngược lại. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác”. Không có bất kỳ một quy định nào viện dẫn danh nghĩa lịch sử cho vùng biển rộng hơn 12 hải lý chứ đừng nói cách bờ vài trăm hải lý như đường lưỡi bò. Cho nên không thể nói Công ước luật biển công nhận và bảo vệ cho danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc. Lập luận đường lưỡi bò là đường vùng nước lịch sử đã không thể thuyết phục được cộng đồng quốc tế vì ngay cả trong Tài liệu chuẩn bị cho Hội nghị của Liên hợp quốc về luật biển năm 1958 trong danh sách các vùng nước lịch sử của thế giới không có tên một vùng nước nào trong Biển Đông. Công ước luật biển năm 1982 đâu có chấp nhận một vùng nước lịch sử nào trong Biển Đông.

Chính học giả TQ thừa nhận lập trường “tiền hậu bất nhất”

Sự mơ hồ và quá ư phi lý của đường lưỡi bò buộc các học giả nước ngoài phải lên tiếng yêu cầu Trung Quốc giải thích. Tại bất kỳ cuộc Hội thảo quốc tế nào về Biển Đông, các học giả Trung Quốc đều bị chất vấn về đường lưỡi bò. Tại hội thảo Vấn đề An ninh ở Biển Đông tổ chức ở Washington tháng 6/2011 gần đây khi bị chất vấn, học giả Trung Quốc đã có những phát biểu quanh co, làm những người dự hội nghị cảm thấy “quá khiên cưỡng”, gây ấn tượng “không trung thực”, mơ hồ. Họ buộc phải thừa nhận “chuẩn bị chưa đầy đủ” nhưng với cử tọa đó là biểu hiện của sự đuối lý.[2]

Stein Tonnesson, Giám đốc Viện Hòa bình Quốc tế có trụ sở ở Ôxlô (Na uy), cho rằng căng thẳng Biển Đông chủ yếu tập trung ở đường chữ U, và để giảm bớt căng thẳng , Trung Quốc cần làm rõ lập trường về đường chữ U đối với cộng đồng quốc tế cũng như dư luận trong nước đang bấy lâu “lầm tưởng” về yêu sách mà Bắc Kinh tuyên bố.[3]

Những học giả Trung Quốc chân chính cũng phải thừa nhận “trong vấn đề Biển Đông, bản thân Trung Quốc không có lập trường rõ ràng, tiền hậu bất nhất, gây tổn hại nghiêm trọng tới uy tín quốc tế của Trung Quốc”.[4]

Trần Phả trong Tạp chí “Khai Phóng” số tháng 7/2011 của Hồng Kông bình luận: “câu hỏi đặt ra là liệu việc Trung Quốc vẽ đường phạm vi chủ quyền Biển Đông (đường chữ U) tới “cửa nhà” của các nước như Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây có hợp tới tình hình khách quan hay không? Đối chiếu với các quy định bằng văn bản rõ ràng liên quan tới việc “các nước có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý” trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển mà Trung Quốc ký từ năm 1982, Trung Quốc càng khó có thể bào chữa cho kiểu hoạch định này của mình. Trên thực tế, từ việc tự vạch (đường chữ U) cho tới cách nói về “lợi ích cốt lõi” đều là chuyện “mua dây buộc mình” của Trung Quốc”. Người đọc cũng tự hỏi liệu Trung Quốc có chấp nhận có nước viện dẫn câu nói “Mặt trời không bao giờ lặn trên đất nước Anh” để đòi hỏi các vùng nước lịch sử trước cửa ngõ của Bắc Kinh?

Chủ quyền phải được xác lập bằng hành động chiếm hữu thực tế của Nhà nước

Quaa trở lại hai lập luận trên mà tác giả bài báo viện dẫn. Nếu nói chỉ có Trung Quốc là quốc gia duy nhất phát triển khu vực trong lịch sử, người Trung Quốc đã phát hiện, đã quản lý các quần đảo ở Biển Đông từ thời Nhà Hán, Nhà Tấn (hơn 200 năm trước CN), liên tục qua các đời Minh, Thanh thì tác giả nên đọc lại các tác phẩm và văn kiện của Trung Quốc trong lịch sử.

Các sách Nam châu dị vật chí của Dương Phù và Phù Nam truyện của Khang Thái, viết vào thời Tam quốc (220-265), Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công Lượng (998-1078) và Đinh Độ (990-1053) biên soạn thời Tống, Đảo di chí lược do Vương Đại Uyên soạn dưới thời nhà Nguyên (1206 – 1368), Đông Tây dương khảo của Trương Nhiếp viết thời nhà Minh (1368 – 1644), Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đầu nhà Thanh, Hải Quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh năm 1730, Dương phòng tập yếu của Nghiêm Như Dục viết, Trương Bằng Phi khắc năm 1828,…nếu có nói đến nhận biết các đảo trên Biển Đông đều là nằm ngoài cương vực Trung Quốc, thuộc các nước “man di”. Các sách chính thống như Quỳnh Châu phủ chí (1731), Hoàng Triều di tông tâm lĩnh (1894), Đại Thanh di đồ(1905), Trung Quốc Địa lý Giáo khoa thư, Thương Vụ ấn Thư Quán,Thượng Hải năm 1906 xuất bản đều xác định rõ điểm mút phía Nam của lãnh thổ Trung Quốc nằm ở Nhai Châu, Hải Nam, vĩ độ 18013′ Nam.

Suốt cả giai đoạn 2000 năm lịch sử, sách trắng Bộ Ngoại giao Trung Quốc năm 1980 cũng chỉ đưa ra được 4 đoạn cắt xén, lắp ghép có chủ ý trong Tổng Sử, Minh Sử, Nguyên Sử với những địa danh như Thất Châu dương chẳng liên quan gì đến Hoàng Sa, Trường Sa để nói là có quản lý. Chưa nói đến tính chất ngụy biện, 4 sự việc trong 2000 năm sao có thể nói là liên tục. Trong vụ đắm tàu Đức “Bellona” tại Đá Bắc và tàu Nhật “Imegi Maru” tại cụm An Vĩnh thuộc Hoàng Sa những năm 1895 – 1896, chính các quan Trung Quốc đã từ chối cứu hộ vì cho rằng các đảo Paracels không thuộc Trung Quốc.

Ngay cả đến năm 1932, khi tranh chấp với Pháp về quần đảo Hoàng Sa, Phái đoàn Trung Quốc tại Paris còn có công hàm yêu sách: cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Tây Sa”. Cái chính mà tác giả cố tình lờ đi đó là theo luật quốc tế chủ quyền chỉ có thể được xác lập bằng hành động chiếm hữu thực tế của Nhà nước chứ không phải của ngư dân, của người đi biển, của phát hiện, của nhận biết hay ngộ nhận.

Không bàn tới tính chất ngạo mạn khi nhận xét người Việt Nam, Malaysia, Philippin không biết gì về các đảo trong Biển Đông, chỉ cần giở lại chính những gì sử Trung Quốc viết. Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người Trung Quốc) năm 1696 chép: “Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng bờ biển, chạy dài từ Đông Bắc qua Tây Nam; động cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển ; mặt cắt khô rắn như sắt, rủi thuyền chạm phải ắt tan tành ; bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là ” Vạn lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo, không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Các Quốc vương thời trước, hàng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào“.

Hải Lục của Vương Bính Nam năm 1842 chép: “Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên dậu cuả An Nam”. Thậm chí người Trung Quốc còn giúp đỡ các đội viên Đội Hoàng Sa của Việt Nam bị bão trôi giạt vào bờ biển Hải Nam. Đại Nam thực lục tiền biên (1600 – 1775) quyển 10 viết: “Tháng 7, mùa thu, năm Giáp Tuất (1774), dân đội Hoàng Sa gặp gió to, giạt vào hải phận Quỳnh Châu, thuộc nhà Thanh. Quan Tổng đốc nhà Thanh chu cấp cho đầy đủ rồi sai đưa về. Chúa sai viết thư gửi qua cảm ơn”. Rõ ràng người Trung Quốc biết các đảo này thuộc quyền quản lý của các Quốc vương An Nam và đã vui vẻ giúp đỡ cho các thần dân gặp nạn của họ.

Cuối cùng, tác giả bài báo răn dạy: “Tất cả các nước ký UNCLOS nên hiểu rằng, công ước chỉ là một trong các luật pháp về biển của quốc tế (vốn không chỉ có một) và vì thế nên ngừng nghi ngờ về tính hợp pháp về đường chín đoạn của Trung Quốc“. Liệu có thể hiểu rằng, theo ý tác giả, Trung Quốc nước ký Công ước Luật biển có quyền muốn áp dụng hay không áp dụng Công ước luật biển một cách tùy thích trong khi Công ước là một biện pháp cả gói (package deal) không có bảo lưu?

Để cộng đồng thế giới ngừng nghi ngờ về tính hợp pháp về đường chín đoạn của Trung Quốc, trước hết người Trung Quốc nên nói rõ họ đòi hỏi cái gì ở Biển Đông, dựa trên những bằng chứng pháp lý nào chứ không phải những bằng cứ lịch sử mơ hồ. Nếu Trung Quốc tự tin vào đường chín đoạn của mình, hãy sẵn sàng bàn thảo đa phương với các nước liên quan cũng như lời kêu gọi của Philippin về một thủ tục trọng tài.[5]


[1] Để hiểu thêm về đường lưỡi bò trước khi đọc bài này xin tham khảo Việt Long, “Đường lưỡi bò trong Biển Đông – sự hoang tưởng thách thức luật pháp” http://hoangsa.org/diendan/timhieuluatbienquocte

[2] “Học giả Hồng Kông chỉ trích đường chữ U và lập trường Biển Đông của Trung Quốc:, http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1842-1842- 21/7/2011.

[3] Stein Tonnesson. “Trung Quốc cần làm rõ lập trường về đường chữ U”, Liên hợp buổi sáng, Singapor, 27/7/2011. Bản dịch http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1854-trung-quoc-can-lam-ro-lap-truong-ve-duong-chu-u

[4] “Học giả Hồng Kông chỉ trích đường chữ U và lập trường Biển Đông của Trung Quốc:, http://nghiencuubiendong.vn/tin-ncbd/1842-1842- 21/7/2011.

[5] “Philippines đề xuất tòa án LHQ xử vụ Biển Đông”, Vietnam + Online 11/7/2011.

tuanvietnam.vietnamnet.vn

“Đường đứt khúc 9 đoạn” – Yêu sách phi lý

QĐND – LTS: Gần đây, Trung Quốc liên tục có những hành động đáng lo ngại trên Biển Đông. Dư luận đang đặt câu hỏi, phải chăng Trung Quốc đang đi những bước đầu tiên để hiện thực hóa “Đường đứt khúc 9 đoạn”, một yêu sách chưa có quốc gia hay tổ chức quốc tế nào thừa nhận và không có chứng lý nào khả dĩ để chứng minh. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của chuyên gia Nguyễn Hồng Thao về yêu sách “Đường đứt khúc 9 đoạn” dưới góc độ luật pháp quốc tế.

Ngày 7-5-2009, Trung Quốc chính thức yêu cầu lưu truyền trong cộng đồng các nước thành viên Liên hợp quốc bản đồ thể hiện đường lưỡi bò (hay còn gọi là Đường chữ U, Đường đứt khúc 9 đoạn) trên Biển Đông, yêu sách không chỉ các đảo, đá mà toàn bộ vùng biển trong đó.

Đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc. Nguồn: Bản đồ: nghiencuubiendong.vn

Trước ngày 7-5-2009, chính quyền Trung Quốc qua các thời kỳ đều chưa có giải thích gì về con đường chữ U trong Biển Đông. Theo các tác giả Trung Quốc, Đường chữ U lần đầu tiên xuất hiện trên bản đồ các đảo trong biển Nam Trung Hoa – The Location Map of the South China Sea Islands (Nanhai zhudao weizhi tu) do Fu Jiaojin, Wang Xiguang biên soạn và được Vụ Địa lý của Bộ Nội vụ Trung Quốc xuất bản vào năm 1947. Một số người khác còn cố đẩy thời gian xuất xứ của con đường này xa hơn nhằm mục đích giải thích có lợi cho Trung Quốc. Họ cho rằng, Đường chữ U này do một người tên là Hu Jinjie vẽ từ năm 1914 và đến tháng 12-1947, một viên chức của Cộng hòa Trung Hoa tên là Bai Meichu vẽ lại đường này trong một bản đồ cá nhân. Tuy nhiên, các tác giả Trung Quốc cũng phải khách quan thừa nhận “không rõ khi vẽ đường này Bai Meichu có đủ hiểu biết và kiến thức về luật biển quốc tế đương đại hay không?”. Daniel Schaeffer trong cuốn sách “Biển Đông: Những điều hoang tưởng và sự thật của đường lưỡi bò” và các nhà nghiên cứu nước ngoài khác cũng cho rằng, bản đồ đường đứt khúc này xuất hiện trong một tập bản đồ tư nhân (chứ không phải của Nhà nước).

Đường đứt khúc gồm 11 đoạn vẽ gộp các quần đảo Đông Sa, Hoàng Sa, Trường Sa và bãi ngầm Trung Sa và có điểm giới hạn phía Nam là vĩ tuyến 40. Tuy nhiên năm 1953, đường 11 đoạn đã được điều chỉnh thành 9 đoạn, bỏ 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ, không rõ nguyên nhân. Trên thực tế, đến nay không có bất kỳ một tài liệu nào cho biết tọa độ cũng như vị trí chính xác của đường lưỡi bò. Chính quyền Trung Quốc cũng chưa bao giờ đề cập đường lưỡi bò như là một ranh giới bất khả xâm phạm đối với chủ quyền Trung Quốc mặc dù các bản đồ biển Nam Trung Hoa đều có thể hiện đường này. Chính vì vậy, đã có nhiều bàn luận giải thích về ý nghĩa của đường này. Các học giả Trung Quốc đưa ra ba cách giải thích:

1) Giáo sư Gao Zhiguo, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển biển, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc cho rằng, đường này yêu sách sở hữu các đảo nằm bên trong hơn là một đường biên giới biển. Ông nhận xét: “Nghiên cứu kỹ các tài liệu Trung Quốc cho thấy, Trung Quốc chưa bao giờ yêu sách toàn bộ cột nước của biển Nam Trung Hoa mà chỉ có các đảo và vùng nước xung quanh các đảo nằm trong đường này”.

2) Pan Shiying cho rằng, con đường này đã tồn tại một nửa thế kỷ nay, không quốc gia nào phản đối và vì vậy đã tạo ra một danh nghĩa lịch sử cho Trung Quốc, là con đường biên giới quốc gia. Trung Quốc yêu sách chủ quyền không chỉ các đảo, đá của bốn quần đảo Đông Sa, Tây Sa (Hoàng Sa), Trung Sa (bãi ngầm Macclefield) và Nam Sa (Trường Sa) mà toàn bộ vùng nước trong Đường chữ U đó. Theo ông, “Chính phủ Trung Quốc thông qua việc ấn bản các bản đồ này muốn gửi ba thông điệp tới cộng đồng quốc tế:

I. Khu vực nằm trong đường biên giới này là các đảo, đá và các vùng nước kế cận của chúng đã thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong lịch sử.

II. Phù hợp với các công ước quốc tế, vị trí và hướng đi của con đường đứt khúc 11 đoạn này (sau thay bằng 9 đoạn) đã được vạch theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa với đường bờ biển của các quốc gia kế cận. Điều này đã và đang là hợp pháp vào thời gian đó của chiếm cứ, chiếm hữu và quản lý.

III. Thực tiễn sử dụng các đường đứt khúc hơn là một đường liên tục để đánh dấu một số các khu vực chủ chốt đã chỉ ra thực chất của việc “chưa dứt điểm”, để lại khả năng đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”.

Nói cách khác, vùng nước do con đường này bao bọc là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của Trung Quốc. Con đường này chỉ là hình thức, còn danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc trên vùng biển này mới là nội dung.

3) Zou Keyuan cho rằng, yêu sách của Trung Quốc không nên xem như yêu sách vùng nước lịch sử theo nghĩa truyền thống mà giống như một dạng yêu sách các quyền chủ quyền và quyền tài phán lịch sử chứ không phải là yêu sách chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối. Nói cách khác, đây là sự ngụy biện liên hệ đường lưỡi bò với các khái niệm quyền chủ quyền và quyền tài phán trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển hiện đại.

Rõ ràng nguồn gốc và ý nghĩa của đường lưỡi bò này hoàn toàn mập mờ, không chính xác, đến nỗi bản thân các học giả Trung Quốc cũng không thống nhất được một giải thích hợp lý nào. Yann HueiSong còn cho rằng “không có cơ sở nào trong luật quốc tế cho yêu sách lịch sử đó”.

Với công hàm ngày 7-5-2009 có kèm bản đồ Đường chữ U, có vẻ như Trung Quốc đòi hỏi cộng đồng quốc tế phải thừa nhận “tính chất lịch sử của đường lưỡi bò, coi biển Đông như một vịnh lịch sử”. Đường này sẽ được ngộ nhận là đường biên giới quốc gia trên biển của Trung Quốc. Họ cũng rất khéo kết hợp con đường này với các khái niệm đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của luật biển quốc tế hiện đại bằng tuyên bố dưới dạng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi với các vùng nước phụ cận của quần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tên Việt Nam). Như vậy, toàn bộ Biển Đông sẽ trở thành “ao hồ” của Trung Quốc.

Theo luật pháp quốc tế, một vịnh hay một vùng nước được coi là lịch sử, căn cứ vào tập quán và các phán quyết của Tòa án và Trọng tài quốc tế phải thỏa mãn ít nhất hai điều kiện:

1. Tại đó quốc gia ven biển thực hiện một cách thực sự chủ quyền của mình một cách liên tục, hòa bình và lâu dài;

2. Có sự chấp nhận công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốc gia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này.

Về điều kiện thứ nhất, Trung Quốc phải chứng minh được các chính quyền của họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ Biển Đông này một cách thực sự, liên tục và hòa bình trong thời gian dài. Điều này thật khó bởi vì:

– Các văn kiện chính thức của nhà nước phong kiến Trung Quốc, như Đại Nguyên nhất thống chí (1294), Đại Minh nhất thống chí (1461), Đại Thanh nhất thống chí (1842) trước năm 1909 đều khẳng định “cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc là Nhai huyện, đảo Hải Nam”. Các bản đồ lãnh thổ Trung Quốc của người nước ngoài cùng thời cũng vẽ và giải thích phù hợp với cách hiểu này của người Trung Quốc. Bản đồ Trung Quốc thế kỷ 17 của Peter de Goyer và Jacob de Keyzer thuộc công ty Đông Ấn – Hà Lan cũng có lời giải thích rất rõ: “Nơi xa nhất của Trung Quốc bắt đầu từ phía Nam đảo Hải Nam ở 18 độ vĩ Bắc, rồi từ đó ngược lên phía Bắc đến vĩ độ 42 độ”.

Trung Quốc chỉ thực sự bước chân lên quần đảo Hoàng Sa năm 1909 khi quần đảo này đã thuộc Việt Nam, không còn là đất vô chủ. Về Trường Sa, cho tới tận năm 1932, công hàm ngày 29-9-1932 của phái đoàn ngoại giao Trung Hoa Dân quốc tại Pa-ri vẫn còn khẳng định các nhóm đảo “Amphitrite” (Lưỡi Liềm) và “Croissant” (An Vĩnh) của quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) “tạo thành phần lãnh thổ Trung Quốc nằm tận cùng ở phía Nam”.

– Trung Quốc đã không đưa ra được các bằng chứng nào có sức thuyết phục về việc họ đã thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển rộng lớn này một cách liên tục, hòa bình từ thời xa xưa. Các sách Hán văn cổ đều ghi nhận các hoạt động của dân đánh cá và dân buôn A-rập, Ấn Độ, Ma-lay, Việt, và vùng Vịnh trong vùng biển này, không có một bằng chứng nào cho thấy Biển Đông hoàn toàn là “ao hồ Trung Quốc”. Các chính quyền phong kiến Trung Quốc cũng không thiết lập hoặc duy trì có lợi cho họ một sự độc tôn nào trong vùng biển này, khả dĩ có thể loại bỏ hoạt động khai thác của các đội Hoàng Sa và Bắc Hải của triều Nguyễn. Ngược lại còn có những hành động thừa nhận tính hợp pháp của các hoạt động đó như trường hợp năm 1774: Quan huyện Văn Xương giúp đội viên đội Hoàng Sa khi đi làm nhiệm vụ bị bão dạt vào đất Trung Quốc.

– Đường đứt khúc 9 đoạn của Trung Quốc không phải là một con đường có tính ổn định và xác định. Từ 11 đoạn nó đã phải bỏ đi 2 đoạn trong Vịnh Bắc Bộ vì quá vô lý. Tính chất không liên tục của đường này được các tác giả Trung Quốc giải thích để cho “những điều chỉnh cần thiết trong tương lai”. Một con đường như vậy rõ ràng không thể nào lại được coi là “biên giới quốc gia” theo luật pháp quốc tế. Đặc tính quan trọng nhất của một đường biên giới quốc tế là tính ổn định và dứt khoát. Trong một xã hội có trật tự riêng, các đường biên giới là một trong số các thể chế ổn định nhất từ tất cả các thể chế. Vậy mà ở đây, đến cả người Trung Quốc, tác giả của đường này còn chưa biết nó đi thế nào, thì sao có thể gọi đó là biên giới quốc gia được?

Về điều kiện thứ hai, Trung Quốc chưa bao giờ công bố chính thức yêu sách Biển Đông theo đường ranh giới gồm 9 đoạn không liền nhau này. Theo luật pháp quốc tế, các hành vi mà quốc gia thể hiện phải mang tính công khai ý chí thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó. Các hành vi này phải chính danh như những hành vi bình thường của một quốc gia. Những hành vi bí mật không thể tạo nên cơ sở cho quyền lịch sử; ít nhất các quốc gia khác phải có cơ hội để biết được cái gì đang diễn ra.

Các học giả Trung Quốc mặc nhận rằng, con đường này tồn tại từ lâu mà không có quốc gia nào phản đối. Tuy nhiên, luật pháp quốc tế cho rằng một yêu sách phải được tuyên bố rõ ràng, không mập mờ, chính thức và được duy trì trong một thời gian dài đủ để quốc gia có ý kiến bất đồng phải đưa ra ý kiến chính thức của họ. Đường chữ U có nguồn gốc từ một bản đồ tư nhân, không phải là cái để các quốc gia khác có ý kiến. Hơn nữa, việc các nước tham gia Hội nghị Xan Phran-xi-xcô năm 1951 bác bỏ đề nghị của Liên Xô trao cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và thực tế tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đòi hỏi của Phi-líp-pin, Ma-lai-xi-a đối với hầu như toàn bộ hoặc một bộ phận của quần đảo Trường Sa cho thấy không thể nói đường ranh giới 9 đoạn trên Biển Đông mà Trung Quốc vạch ra đã được các nước khác công nhận. Trong các hội nghị quốc tế như Hội nghị kiềm chế các xung đột tiềm tàng trong Nam Trung Hoa tổ chức hằng năm theo sáng kiến của In-đô-nê-xi-a, các đại biểu Trung Quốc luôn lảng tránh khi bị chất vấn về cơ sở pháp lý và lịch sử của con đường này.

Hội nghị Xan Phran-xi-xcô năm 1951. Ảnh tư liệu

– Con đường đứt khúc 9 đoạn này mâu thuẫn ngay với quan điểm chính thức của Trung Quốc đã nêu trong Tuyên bố ngày 4-9-1958 về các vùng biển Trung Quốc:

“Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố:

1. Bề rộng lãnh hải của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Quy định này áp dụng cho tất cả lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm lục địa và các đảo ven bờ, cũng như Đài Loan và các đảo phụ cận, Bành Hồ, Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa quần đảo và tất cả các đảo thuộc Trung Quốc được tách rời khỏi lục địa và các đảo ven bờ bởi biển cả”.

Rõ ràng Trung Quốc công nhận rằng các đảo bị tách biệt với lục địa bởi biển cả, chứ không phải các vùng nước lịch sử. Trong Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của CHND Trung Hoa năm 1992, Trung Quốc cũng chỉ nêu đòi hỏi lãnh hải 12 hải lý xung quanh những vùng đất yêu sách chủ quyền và vùng tiếp giáp 12 hải lý dành cho thuế quan và các mục đích tương tự chứ không xác định “vùng nước lịch sử”. Ngày 15-6-1996, Trung Quốc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và ban hành “Quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa). Quy định đường cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa đã vi phạm hai nguyên tắc cơ bản: Đó là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam và cũng là sự vi phạm các quy định của Luật Biển quốc tế về vạch đường cơ sở. Nếu đặt vấn đề chủ quyền lãnh thổ sang một bên để chỉ xét về mặt kỹ thuật thì việc vạch đường cơ sở của Trung Quốc tại Hoàng Sa không tôn trọng tinh thần và nội dung của Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển. Hệ thống đường cơ sở thẳng ở đây nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm ngoài cùng của quần đảo như: Đá Bắc (Beijiao), Cồn Cát Tây (Zhaoshudao), Đảo Bắc (Beidao), Đảo Nam (Nandao), Đảo Lincon (Dongdao), Đá Bông Bay (Langhuajiao). Các đoạn dài nhất là đoạn 3-4 (Lincon-Đá Bông Bay) 36,3 hải lý; đoạn 7-8 (Đá Bông Bay-Đá Triton) 75,8 hải lý; đoạn 14-15 (Đá Triton-Đá Bắc) 78,8 hải lý; đoạn 22-23 (Đá Bắc-Cồn Cát tây) 41,5 hải lý; đoạn 28-1 (Đảo Nam-Đảo Lincon) 28 hải lý. Ở đây rõ ràng Trung Quốc đã áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở quần đảo chỉ quy định cho các quốc gia quần đảo (Điều 47 của Công ước) để vạch đường cơ sở cho các quần đảo xa bờ. Điều 47 quy định: Quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nửa nổi nửa chìm của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô phải ở giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Diện tích mà hệ đường cơ sở này của Trung Quốc bao lấy là một khu vực rộng 17.000km2, trong khi tổng diện tích các đảo nổi của quần đảo Hoàng Sa là 10km2. Ngoài ra, hầu hết các đá, bãi san hô mà Trung Quốc sử dụng ở đây đều không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có một đời sống kinh tế riêng. Các đảo này lại cách xa nhau quá 24 hải lý, không có lý do gì có thể nối các đoạn đường cơ sở như vậy. Do vậy, bất kỳ một vùng biển nào mà Trung Quốc tuyên bố bao quanh vùng biển của các mỏm đá, bãi san hô này về mặt kỹ thuật đều trái với các quy định của Công ước 1982. Tuyên bố về đường cơ sở ngày 15-5-1996 của Trung Quốc áp dụng đối với cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam cho thấy, việc Trung Quốc yêu sách một vùng nội thủy nằm trong một vùng nước lịch sử có cùng chế độ nội thủy là một mâu thuẫn lớn trong lập trường của họ. Lập trường này của Trung Quốc cũng mâu thuẫn ngay với chính các tuyên bố của Trung Quốc về việc tàu chiến Mỹ đã vi phạm vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trong vụ ngày 8-3-2009. Chẳng lẽ cùng lúc Trung Quốc lại yêu sách một vùng biển với hai chế độ pháp lý khác nhau: Quyền chủ quyền trong vùng đặc quyền kinh tế nằm trong vùng nước nội thủy có tính chất chủ quyền?

– Trong lập luận của mình, các học giả Trung Quốc đã viện dẫn một số trường hợp yêu sách vùng nước lịch sử trong thực tiễn quốc tế như yêu sách của Liên Xô trước đây ngày 20-7-1957 tại vịnh Pierre Đại đế, yêu sách của Li-bi ngày 11-10-1973 tại vịnh Sidra. Theo họ, các ví dụ này chứng tỏ rằng trong thực tiễn quốc tế, luật về các vịnh lịch sử đã có được một quy chế pháp lý riêng biệt và như vậy yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc là hợp pháp. Lập luận này dựa trên cơ sở 15 trường hợp yêu sách quá đáng vùng nước lịch sử mà luật pháp quốc tế luôn phê phán. Các trường hợp ít ỏi này không tạo ra được một opinion juris (ý thức pháp luật) và một thực tiễn pháp lý không đổi nên chúng không bao giờ được luật quốc tế chấp nhận như một quy tắc tập quán. Vùng nước nằm trong đường 9 đoạn chiếm 80% diện tích Biển Đông mà Trung Quốc cho là “vùng nước lịch sử” là không có cơ sở pháp lý. Luật quốc tế không hề biết đến một vùng nước lịch sử lớn đến như vậy. Yêu sách “đường lưỡi bò” đi ngược lại với học thuyết các vùng nước lịch sử. Cộng đồng quốc tế chưa bao giờ ghi nhận một yêu sách như vậy và sẽ không chấp nhận một khoảng không gian rộng lớn như Biển Đông – biển lớn nhất, nhì thế giới – nằm dưới quyền tài phán của duy nhất một nước.

– Quan điểm của Trung Quốc và Đài Loan, bên đầu tiên đưa ra yêu sách Đường chữ U cũng khác nhau. Ngày 30-12-1992, Viện Lập pháp Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) đã thông qua “Luật vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trung Hoa Dân quốc”. Luật này được ban hành trên cơ sở nguyên tắc “chủ quyền thực tế” bỏ đi điều khoản về “vùng nước lịch sử” (vùng nước trong Đường chữ U). Ngày 2-1-1993, Viện Lập pháp Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) thông qua “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp Trung Hoa Dân quốc”. Luật này quy định Lãnh hải Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) rộng 12 hải lý đồng thời quy định các điểm cơ sở để vạch đường cơ sở và ranh giới ngoài lãnh hải do Viện Hành chính quy định và công bố trong thời gian tới. Trong các đạo luật này, khác với Trung Quốc, Đài Loan đã không đề cập “tính chất lịch sử” của “đường lưỡi bò” mà họ đã từng yêu sách năm 1947. Họ chỉ yêu sách các đảo đá, bãi cạn nằm trong giới hạn Đường chữ U nhưng không yêu sách vùng nước trong giới hạn đó.

– Đường đứt khúc 9 đoạn mà Trung Quốc yêu sách này chạy sát bờ biển của các nước, có đoạn chỉ cách bờ biển Việt Nam khoảng 50 – 100km, trong khi Trường Sa cách bờ Việt Nam khoảng hơn 200 hải lý. Đường này còn chạy sát bãi Shoal James (Tăng Mẫu) của Ma-lai-xi-a và đảo Natuna của In-đô-nê-xi-a, quần đảo Phi-líp-pin, gây lo ngại sâu sắc cho các nước trong khu vực. Vì vậy, thật khó có thể đồng ý với các học giả Trung Quốc rằng con đường này được vạch “theo cách gần như là đường cách đều giữa rìa ngoài của bốn quần đảo trong biển Nam Trung Hoa với đường bờ biển của các quốc gia kế cận, phù hợp với các công ước quốc tế”. Trước hết, các công ước quốc tế cũng như thực tế xét xử của các cơ quan tài phán quốc tế không trù định quyền ưu tiên của phương pháp đường cách đều trong phân định nhất là trong trường hợp có các danh nghĩa lịch sử. Trung Quốc khẳng định xây dựng yêu sách của mình trên cơ sở “danh nghĩa lịch sử”, đồng thời lại áp dụng phương pháp đường cách đều để phân định, phủ nhận danh nghĩa lịch sử đó. Điều này không nhất quán. Thứ hai, nếu vẽ đúng kỹ thuật, con đường này hoàn toàn không thể là con đường cách đều giữa các đảo nằm giữa Biển Đông với bờ biển của các nước xung quanh. Đó là chưa kể đến điều 121 của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 quy định rằng những đảo, đá nào không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải rộng không quá 12 hải lý.

Thay lời kết, B.A. Hamzah, học giả Ma-lai-xi-a nhận xét: “Một yêu sách phi lý như vậy không thể có một danh nghĩa gì, do đó sự không có danh nghĩa sẽ kéo theo sự không có quyền tài phán”. Chủ quyền không thể suy diễn, không thể dựa trên những dẫn chứng thiếu cơ sở. “Đường đứt khúc 9 đoạn”, con đường không được xác định rõ cả về cơ sở pháp lý lẫn tọa độ địa lý, đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ không chỉ của các nước liên quan mà còn là sự thách thức đối với quyền lợi hàng hải, hàng không… của cộng đồng quốc tế. Từ bao đời nay, các quốc gia trong khu vực vẫn tiến hành các hoạt động sử dụng biển một cách bình thường trong Biển Đông không có sự ngăn cản nào của Trung Quốc. Đòi hỏi Đường chữ U như là một đường biên giới quốc gia trên biển và yêu sách hầu hết Biển Đông cùng các đảo, đá trong đó như Daniel Schaeffer – nguyên Tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan – nhận xét, “thực chất cố tình làm cho hầu hết người dân Trung Quốc và một số người khác hiểu rằng đây đơn giản là sự khẳng định đối với “việc đã rồi”, biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và 4 quần đảo trong đó là của Trung Quốc, và vì thế không việc gì phải bàn cãi”.

Tuy nhiên, đối với những người Trung Quốc đang muốn đất nước mình là một thành viên đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế, của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 thì việc từ bỏ đường này sẽ khắc phục được tình trạng mập mờ cản trở thực tiễn, tạo niềm tin với các nước hữu quan, làm cho các cuộc đàm phán phân định biển trong khu vực trở nên khách quan hơn, thúc đẩy hợp tác và phát triển.

Một cách tự nhiên, Biển Đông là nơi liên kết các nền văn minh kinh tế giữa các nước Đông Nam Á và giữa họ với phần lục địa phía Nam Trung Quốc. Với vị trí địa chính trị, cấu tạo tự nhiên và hoạt động kinh tế – xã hội liên kết giữa các quốc gia, Biển Đông là ngôi nhà chung của các nước trong khu vực và chứa đựng nhiều quan tâm chung của các nước trong và ngoài khu vực. Các vấn đề của Biển Đông cần được các nước trong khu vực, trên tinh thần cầu thị, tôn trọng chủ quyền và lợi ích của nhau, tuân thủ pháp luật quốc tế, cùng nhau tìm một giải pháp công bằng, mà các bên có thể chấp nhận.

Nguyễn Hồng Thao
qdnd.vn

Trung Quốc sẽ không từ bỏ tham vọng Đường lưỡi bò phi pháp

(GDVN) – Tình hình biển Đông hiện đã có nhiều thay đổi, chuyển mạnh sang tranh quyền kiểm soát, quản lý, quốc tế hóa tranh chấp, dễ va chạm hơn…

Ngày 24/7/2012, Trung Quốc  thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Trang báo điện tử Trung Quốc – Tân Hoa xã cách đây không lâu đã có bài viết cho rằng, khi năm 2012 qua đi, khi nhìn lại tình hình an ninh trên biển ở xung quanh Trung Quốc, đối với vấn đề tranh chấp chủ quyền đảo xảy ra ở bãi cạn Scarborough trên biển Đông và đảo Senkaku trên biển Hoa Đông, người ta vẫn cảm thấy còn mới mẻ.

Đồng thời, Tân Hoa xã cho rằng, họ cảm thấy “hoan hỉ, phấn chấn” với một số thủ đoạn đòi hỏi quyền lợi biển (bất hợp pháp) của Trung Quốc như lập ra cái gọi là “thành phố Tam Sa” và vẽ ra “đường cơ sở lãnh hải ở đảo Senkaku”…

Tàu Hải giám 75 Trung Quốc, lượng giãn nước 1.290 tấn, trang bị năm 2010, hoạt động trên biển Đông.

Nói đến bản chất vấn đề biển Đông, Tân Hoa xã tuyên truyền rằng, tranh chấp chủ quyền bãi cạn Scarborough tuy xảy ra giữa Trung Quốc và Philippines, nhưng lại là hình ảnh thu nhỏ của vấn đề biển Đông, nên có thể thông qua nó để hiểu bản chất vấn đề biển Đông.

Đó là một loạt vấn đề như sự quy thuộc chủ quyền các hòn đảo trên biển Đông, phân định ranh giới các vùng biển và tranh giành tài nguyên biển. Các bên tranh chấp gồm có Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei, được gọi là “6 nước 7 bên”.

Chưa rõ lấy chứng cứ lịch sử và pháp lý ở đâu ra, Tân Hoa xã đã tưởng tượng theo giấc mơ của một bộ phận người Trung Quốc có “tham vọng” cho rằng “Trung Quốc thực hiện chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) và vùng biển lân cận là sự thực lịch sử lâu dài, được cộng đồng quốc tế công nhận” (?), trong một thời gian dài sau Chiến tranh thế giới thứ hai trở về trước là “không tồn tại vấn đề biển Đông”, các nước xung quanh biển Đông cũng không hề “dị nghị” (?).

Tham vọng đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc bao trọng gần như toàn bộ diện tích Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường  Sa của Việt Nam

Tân Hoa xã tự cho rằng, các hiệp ước quốc tế công nhận chủ quyền biển Đông của Trung Quốc gồm có “Tuyên bố Cairo”, “Tuyên bố Potsdam”, “Hòa ước Nhật-Đài” và “Hòa ước về Nhật Bản” San Francisco. Tuy nhiên, tính cho đến nay, chưa có bất kỳ văn bản nào đề cập rằng các hiệp ước này đã “công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam ) nhưng Tân Hoa xã nặn ra.

Theo bài viết “nhào nặn” này tuyên truyền, vào thập niên 50, 60 của thế kỷ 20, triển vọng tàng trữ tài nguyên dầu khí ở biển Đông được phát hiện. Vào thập niên 1950, “Ủy ban kế hoạch địa chất bờ biển và duyên hải Đông Á và Đông Nam Á” đã tiến hành thăm dò, khảo sát vật lý địa cầu và địa chất ở vùng biển Trường Sa.

Năm 1968, báo cáo của “Ủy ban phối hợp khảo sát tài nguyên khoáng sản vùng biển ngoài đảo châu Á” – thuộc Ủy ban Kinh tế Viễn Đông và châu Á của Liên Hợp Quốc tiếp tục công bố triển vọng tàng trữ dầu mỏ ở biển Đông.

Tân Hoa xã xuyên tạc lịch sử cho rằng: Sau đó, các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia “đã dùng biện pháp quân sự để chiếm đóng các hòn đảo ở quần đảo Trường Sa, tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên quy mô lớn ở vùng biển xung quanh quần đảo Trường Sa và đưa ra đòi hỏi chủ quyền, từ đó tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa mới xảy ra và ngày càng gay gắt”.

Theo Tân Hoa xã, giữa các bên tranh chấp Đông Nam Á có mâu thuẫn và bất đồng, nhưng mâu thuẫn giữa Trung Quốc với các nước này là nổi cộm nhất. Hiện nay, các nước xung quanh biển Đông đang gia tăng đòi hỏi chủ quyền và mức độ quản lý, kiểm soát đối với quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam), xu thế tranh chấp quần đảo Trường Sa từ “tranh chấp chủ trương” chuyển sang “tranh chấp quản lý” rõ rệt hơn.

Tàu Hải tuần 31 – tàu tuần tra cỡ lớn, có lượng giãn nước 3.000 tấn, ngày 8/11/2012 đã dẫn đầu một biên đội tuần tra trên biển Đông, dưới sự hợp tác của 4 tỉnh gồm Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Phúc Kiến.

Thực ra, Tân Hoa xã đã cố tình lờ đi rằng, chính các pho lịch sử, các tấm bản đồ của chính Trung Quốc đã khẳng định về mặt lịch sử và pháp lý, rằng, cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam, chứ không hề có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cũng như các quần đảo khác trên biển Đông.

Sợ đa  phương hoá, quốc tế hoá

Tân Hoa xã tỏ ra lo ngại về một xu thế lớn và mới ở biển Đông, cho rằng: “Các thế lực bên ngoài cũng thừa cơ can thiệp để giành lấy lợi ích cho họ, đã làm cho cạnh tranh địa-chính trị, đa phương hóa, quốc tế hóa biển Đông thêm trầm trọng hơn.

Tranh chấp chủ quyền đảo, đá ở biển Đông từng bước diễn biến thành ‘vấn đề biển Đông’ kết hợp thống nhất 4 yếu tố gồm tranh chấp chủ quyền đảo đá, tranh chấp phân định ranh giới biển, tranh chấp tài nguyên biển và đấu đá địa-chiến lược, đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với môi trường an ninh xung quanh của Trung Quốc”.

Theo quan điểm đó, Tân Hoa xã đổ lỗi hoàn toàn cho Philippines rằng, nước này đã bị lợi ích thúc đẩy, “chiếm đoạt đảo đá và vùng biển của Trung Quốc”, đồng thời coi các hành động của Trung Quốc là “bảo vệ quyền lợi biển hợp pháp”.

Trung Quốc muốn tàu sân bay Liêu Ninh có khả năng tác chiến

Tháng 6/2012, Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, một hành động bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước khác ven biển Đông.

“Thành phố” này đưa toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam với đầy đủ bằng chứng lịch sử và thực tế) và vùng biển xung quanh thuộc chủ quyền của Việt Nam vào phạm vi “quản lý”, trụ sở chính quyền đặt ở đảo Phú Lâm trên quần đảo Hoàng Sa – quần đảo mà Trung Quốc đã xâm chiếm bằng vũ lực năm 1974.

Ngoài ra, tháng 7/2012, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh cũng thêm một lần nữa công khai về hành vi xâm phạm chủ quyền nước khác của Trung Quốc: “Quân đội Trung Quốc đã thiết lập chế độ tuần tra sẵn sàng chiến đấu bình thường ở vùng biển quản lý (biển Đông)”.

Thêm một lần nữa, dư luận lại tỏ ra lo ngại với thái độ và hành động ngày càng cứng rắn của Trung Quốc trên biển Đông, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc đang ra sức thúc đẩy xây dựng cường quốc biển, muốn biến Hải Nam – tỉnh phụ trách cái gọi là “thành phố Tam Sa” – thành tỉnh mạnh về biển; Trung ương để cho địa phương đưa ra và thực thi những quy định mới bất hợp pháp gây thiệt hại cho lợi ích của các nước khác trên biển Đông.

Điều này thực sự trái ngược với những tuyên bố chính thức của Trung Quốc, rằng để cho “sự phát triển của Trung Quốc có lợi cho sự phát triển chung của các nước”, rằng “Trung Quốc quyết không bành trướng, không xưng bá”.

Việt Dũng
giaoduc.net.vn

Tạp chí Science ‘lật tẩy’ đường lưỡi bò

Mới đây, một bức thư phản đối về đường lưỡi bò phi lý của GS Phạm Quang Tuấn (Australia) và một số tri thức Việt đã được Tạp chí Science công bố sau nhiều lần trì hoãn.

Bức thư giải thích tính phi pháp của đường lưỡi bò bị chèn vào các ấn phẩm khoa học từ Trung Quốc, cũng như lên án hành động phản khoa học, nghi ngờ mưu đồ chính trị của các học giả Trung Quốc.

Xin điểm qua những chi tiết quan trọng trong bức thư của tri thức Việt được đăng trên Science – Phản hồi bài “Lịch sử nhân khẩu học của Trung Quốc và thách thức trong tương lai” của X. Peng, đăng trên Science vào ngày 29/7/2011, số trang 1581-587:

1. Các bản đồ của Trung Quốc có một đường cong hình chữ U hay còn gọi là đường lưỡi bò kèm theo gần như ôm trọn Biển Đông và các đảo trong đó (quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa), rõ ràng ngụ ý rằng các khu vực được tô màu trong đường cong này thuộc về Trung Quốc. Tuy nhiên, các quần đảo này thuộc các vùng lãnh thổ đang bị tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, và Đài Loan (Trung Quốc). Vì thế việc cho rằng các quần đảo này là lãnh thổ Trung Quốc một cách không thể chối cãi là có vấn đề, đặc biệt là khi chúng gần như không có người ở và không liên quan đến nghiên cứu dân số trong bài báo.

Bài báo Quan ngại về Biển Đông trên Science.

2. Đường cong hình chữ U trong bản đồ thì thực sự ít thuyết phục. Nó chỉ xuất hiện trong các bản đồ Trung Quốc và chỉ được tuyên bố bởi các tác giả Trung Quốc để biểu thị đường ranh giới hàng hải truyền thống của Trung Quốc. Nó được sử dụng chính thức bởi Trung Quốc để khẳng định “quyền chủ quyền và quyền tài phán” đối với các nguồn tài nguyên của biển Biển Đông. Bất cứ nơi nào nó xuất hiện, đường cong này ngang nhiên vi phạm vùng đặc quyền kinh tế200 hải lý (EEZ) các nước khác được công nhận bởi luật pháp quốc tế. Nó mở rộng vượt ra ngoài đường trung tâm giữa các đảo đang bị tranh chấp và bờ biển của các quốc gia khác, và do đó hình thành một yêu sách rộng lớn hơn nhiều so với các vùng nước liên quan đến các quần đảo này.

3. Tuyên bố đơn phương của Trung Quốc đối với các vùng biển mở rộng là chưa từng có trong lịch sử thế giới và vi phạm Luật Biển của Liên Hợp Quốc, mà tất cả các quốc gia xung quanh Biển Đông, bao gồm Trung Quốc, đã phê chuẩn. Việc Trung Quốc đẩy tuyên bố này một cách cương quyết là không nghi ngờ, bằng chứng là các sự cố gần đây trong đó các tàu Trung Quốc quấy rối tàu thăm dò dầu Việt Nam bên trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

4. Không một quốc gia nào công nhận biên giới biển hình chữ U của TQ. Indonesia và Việt Nam đã chính thức bày tỏ mối quan ngại. Thượng viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết nhất trí lên án hành động của TQ. Không có sự biện minh nào cho một chi tiết gây tranh cãi và phi pháp (trong điều khoản của luật pháp quốc tế) trong một bài báo mang tính học thuật. Người ta chỉ có thể hy vọng rằng sự hiện diện của chi tiết này không phải do áp lực chính trị.

Science đã giật tít “Concern over the South China Sea” tức “Quan ngại về Biển Đông” chứng tỏ họ đã không nhẫn tâm xem nhẹ sự liêm khiết trong môi trường học thuật. Động thái này chứng tỏ rằng Science đã bị khuất phục bởi các tri thức Việt, tôn trọng tính chân thật trong khoa học và phải giữ cho môi trường xuất bản các ấn phẩm khoa học không bị hoen ố bởi những mục tiêu chính trị.

Như vậy đến thời điểm này, hai tạp chí vào hàng bậc nhất trong khoa học, Nature và Science, đã tỏ rõ thái độ không chấp nhận đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc trong các ẩn phẩm khoa học. Đây sẽ là lí do để các tạp chí khác có quyền tẩy chay các bài báo có đường lưỡi bò từ Trung Quốc, bởi một tạp chí khoa học nghiêm túc không bao giờ chấp nhận bị lợi dụng bởi những mục tiêu chính trị và không bao giờ muốn những ấn phẩm của họ bị phản đối.

Như chúng ta đã biết, trong thời gian qua tri thức Việt đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo và yêu cầu các tạp chí khoa học quốc tế phải có hành động bảo vệ sự liêm chính của môi trường khoa học quốc tế trước việc các học giả Trung Quốc lấp liếm chèn đường lưỡi bò phi pháp vào các ấn phẩm khoa học của họ khi gửi công bố trên các tạp chí quốc tế.

Tri thức Việt đã thu được những thắng lợi quan trọng. Một thắng lợi chấn động cả cộng đồng khoa học quốc tế là tạp chí lừng danh Nature đã lên án hành động lấp liếm và phản khoa học cuả các học giả TQ về vấn đề trên, và cũng tuyên bố “sẽ không có chổ cho đường lưỡi bò” trên tạp chí này.

Một tạp chí lừng danh khác là tạp chí Science bị phản đối và cũng đã nhận thức được tính phi pháp của đường lưỡi bò. Tạp chí này cũng đã ra tuyên bố về vấn đề này. Tuy nhiên tạp chí này có phần hơi lấp liếm, kiểu như “có thể đã có sự hiểu nhầm”, “Science không đứng về bên nào” hay “chúng tôi sẽ xem lại quy trình … để tránh lặp lại …”.

Theo người viết, dù Science không nói rõ nhưng họ sẽ không đăng bài có đường lưỡi bò phi pháp của các học giả Trung Quốc. Nhiều nhà khoa học đã tiếp tục phản đối và yêu cầu Science phải giải thích rõ ràng hơn về lập trường của họ đối với đường lưỡi bò và đã đạt được kết quả nói trên. Đây có thể nói là một thắng lợi cực kỳ quan trọng nữa của tri thức Việt trong quá trình đấu tranh xóa đường lưỡi bò của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu.

Kỳ tới: Tường thuật lại quá trình “tranh luận” giữa GS. Phạm Quang Tuấn và biên tập viên của Science

TS Lê Văn Út, ĐH Oslou, Phần Lan (Bee)
baodatviet.vn

Xem xét trách nhiệm việc phát hành games có bản đồ “đường lưỡi bò”

Từ 19/12, Công ty CP Vinagames (VNG) được yêu cầu phải ngừng phát hành chính thức phiên bản games “Chinh Đồ”, do xuất hiện hình ảnh “đường lưỡi bò” trong games. Hình ảnh này thể hiện vùng Biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, nhưng lại nằm trong “đường lưỡi bò” của Trung Quốc, đã được dư luận quốc tế lên án từ nhiều năm qua.

>> Trung Quốc lại đưa ‘đường lưỡi bò’ vào game

“Đường lưỡi bò” phi pháp thể hiện trong games “Chinh đồ”

VNG là đơn vị cung cấp chính thức của games “Chinh Đồ” đã gặp phải sự phản ứng dữ dội của các games thủ, sau khi họ phát hiện hình ảnh “đường lưỡi bò” trong phiên bản trò chơi này. Để trấn an dư luận và khách hàng, VNG đã chính thức ra thông báo từ ngày 19/12 sẽ chính thức ngừng phát hành games “Chinh Đồ”, đồng thời sẽ xem xét trách nhiệm cá nhân trong việc phát hiện mẫu thiết kế bản đồ mới của trò chơi, trong đó có những nội dung vi phạm chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

Phiên bản mới của trò chơi Chinh Đồ được VNG tung ra thị trường chính thức từ ngày 14/12, tuy nhiên phải nhiều ngày sau, người chơi mới bắt đầu chú ý tới một bản đồ điện tử có in “đường lười bò” gắn trong hình ảnh của games.

Trao đổi với báo chí, bà Đoàn Đỗ Ngọc Thi, Trưởng ban truyền thông Công ty CP VNG thừa nhận sơ suất, đồng thời thay mặt nhà cung cấp gửi lời xin lỗi tới khách hàng, cũng như cộng đồng mạng vì những sai sót gặp phải trong quá trình vận hành trò chơi Chinh Đồ. Bà Thi cũng cho biết, sẽ làm việc với nhà sản xuất, và chắc chắn sẽ chấm dứt hợp tác. “Chúng tôi sẽ không thỏa hiệp và chấp nhận với bất kỳ động thái nào làm ảnh hưởng đến văn hóa, pháp luật, con người và đặc biệt là tinh thần dân tộc Việt Nam”, bà Thi khẳng định.

Theo ĐĐK
petrotimes.vn

Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc nói gì về vụ kiện ‘đường chín đoạn’

(Petrotimes) – Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ) Ban Ki-moon hôm qua đã kêu gọi giải quyết vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông một cách “thân thiện” giữa Trung Quốc và các nước ASEAN.

>> Philippines kêu gọi toàn dân đoàn kết ủng hộ kiện Trung Quốc

>> Philippines chính thức kiện Trung Quốc tại Tòa án quốc tế

>> Philippines lại tố cáo Trung Quốc bội ước về bãi cạn Scarborough

>> Ngoại trưởng Philippines: “Cái gì của chúng ta là của chúng ta”

Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon

Bình luận của ông Ban Ki-moon đưa ra vài giờ sau khi Philippines công bố chính thức đệ đơn kiện Trung Quốc lên Tòa án LHQ về cái gọi là yêu sách “đường chín đoạn” phi lý của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Tổng Thư ký LHQ cho biết ông sẽ theo dõi sát sao vụ việc. “Điều quan trọng là các nước trong khu vực giải quyết các vấn đề này thông qua đối thoại và theo cách hòa bình và thân thiện”, ông Ban nói.

Theo ông Ban, LHQ luôn sẵn sàng “cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật chuyên nghiệp” cho việc giải quyết tranh chấp Biển Đông, “nhưng chủ yếu là vấn đề này nên được giải quyết bởi các bên liên quan”. Tuy nhiên, phát ngôn của nhà lãnh đạo LHQ cũng tránh đề cập đến việc ông ủng hộ 1 nước cụ thể nào trong các bên tranh chấp.

Brunei, Malaysia, Việt Nam và Philippines đều có tuyên bố chủ quyền một phần lãnh thổ trong vùng biển được cho là giàu tài nguyên dầu mỏ, khoáng sản và hải sản này. Trong khi đó, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như tất cả các vùng lãnh hải trong Biển Đông và những năm gần đây đã liên tiếp có những động thái khiêu khích, gây hấn thể hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông, không chỉ khiến các nước láng giềng bất bình mà còn gây quan ngại trong cộng đồng quốc tế.

Philippines đã nhiều lần phản đối gay gắt và tranh thủ mọi diễn đàn khu vực hay quốc tế để kêu gọi mọi người quan tâm đến một giải pháp hòa bình cho tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông. Trong khi đó, Trung Quốc luôn né tránh quốc tế hóa vấn đề này và nằng nặc đòi giải quyết tranh chấp với các bên thông qua đàm phán song phương. Hành xử của Bắc Kinh đã từng bị Manila cáo buộc là “tráo trở và hăm dọa” các nước khác trong tranh chấp Biển Đông.

Nhưng cho tới thời điểm này, theo Ngoại trưởng Del Rosario, Philippines đã cạn kiệt hầu như mọi con đường chính trị, ngoại giao, đàm phán để giải quyết hòa bình các tranh chấp hàng hải với Trung Quốc. Do đó, Manila quyếtt định đưa tranh chấp ra tòa án trọng tài quốc tế theo Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp Quốc năm 1982, mà cả Philippines và Trung Quốc đều là các bên ký kết.

Philippines muốn hội đồng bác bỏ các khẳng định của Trung Quốc đòi chủ quyền gần như toàn bộ vùng biển phía nam nước này. Philippines cũng chống đối điều mà nước này nói là hoạt động “phi pháp” của Trung Quốc quanh các đảo đá mà Philippines nói là thuộc đặc khu kinh tế của Manila theo công ước của Liên Hiệp Quốc.

Trung Quốc ngay lập tức đã có phản ứng trước quyết định kiện lên Tòa án Liên Hiệp Quốc của Philippines. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố phản đối việc làm mà Trung Quốc coi là “quốc tế hóa tranh chấp” của Manila. Bắc Kinh cũng nhắc lại quan điểm của họ muốn giải quyết thông qua đàm phán song phương giữa các bên có tuyên bố chủ quyền chồng lấn.

Bình luận về các diễn biến trên, giới phân tích quốc tế chuyên gia nhận định nhiều khả năng Trung Quốc sẽ làm lơ trước quyết định của Philippines đưa vụ đối đầu về lãnh hải đã kéo dài lâu nay ra trước một tòa án quốc tế, và tiếp tục nhấn mạnh vào việc giải quyết các tranh chấp lãnh hải mà không có sự can dự của bên thứ ba.

Tuy nhiên, Giáo sư Carl Thayer của trường Ðại học New South Wales cho rằng phiên tòa có thể sẽ xúc tiến mà không có sự tham dự của phía Trung Quốc. Ông nói, Philippines hy vọng một quyết định thuận lợi sẽ đem lại cho họ một thắng lợi tinh thần.

Theo vị giáo sư có nhiều năm theo dõi về vấn đề Biển Đông, “đây là một vụ không những mang tính pháp lý mà còn mang tính thuyết phục tinh thần rất mạnh. Nếu tòa phán quyết thậm chí chỉ thiên một phần về Philippinese thôi, thì cũng làm xẹp bớt những khẳng định của Trung Quốc và đem lại thêm tính hợp pháp và sự che chở quốc tế cho Philippines.”

Nhưng ông Thayer nói phán quyết của tòa, tuy trên nguyên tắc mang tính “ràng buộc,” có thể dễ dàng bị Trung Quốc làm lơ, bởi vì không có cơ chế nào quy định bắt buộc thi hành bất kỳ phán quyết nào có thể được đưa ra.

Minh Châu (Theo AFP, Reuters)
vietnamplus.vn

Biển Đông: Một đòn mạnh giáng vào “đường lưỡi bò” phi pháp

Với việc kiện Trung Quốc ra Tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc, Philippines đang theo đuổi chiến lược ba mũi nhọn nhằm đối phó với những yêu sách chủ quyền phi pháp của Trung Quốc trên biển Đông.

Ba mũi nhọn này là ngoại giao, chính trị và pháp lý. Philippines đưa ra bốn cáo buộc. Một là, “đường lưỡi bò” của Trung Quốc là phi pháp xét theo luật pháp quốc tế. Hai là, Trung Quốc đã chiếm giữ và xây dựng cơ sở trên các bãi đá ngầm, bãi cạn, bãi cạn lúc chìm lúc nổi… trên biển Đông và gọi chúng một cách bất hợp pháp là “đảo”. Ba là, Trung Quốc đã can thiệp bất hợp pháp vào các hoạt động bảo vệ chủ quyền của Philippines trong vùng lãnh hải nước này. Bốn là, Philippines tìm kiếm một phán quyết trong luật pháp quốc tế về vấn đề mà Trung Quốc chưa đưa vào danh sách “không chấp nhận” của Bắc Kinh.

Tàu hải giám Trung Quốc xuất hiện gần bãi cạn Scarborough Ảnh: AFP

Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định đã vận dụng mọi giải pháp chính trị và ngoại giao để giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc một cách hòa bình nhưng bất thành. Nếu Philippines không hành động, cộng đồng quốc tế sẽ cho rằng Manila ngầm chấp thuận việc Trung Quốc “thực hiện chủ quyền” trên vùng biển Philippines bằng các tàu hải giám. Trên thực tế, Trung Quốc đã thôn tính bãi cạn Scarborough bằng việc triển khai tàu chiến, tàu tuần tra tại khu vực này, thậm chí còn lập rào chắn. Ngư dân Trung Quốc cứ tiếp tục đánh bắt cá trái phép trên vùng biển của Philippines.

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) đưa ra bốn cơ chế giải quyết tranh chấp lãnh thổ: Tòa án luật biển quốc tế (ITLOS), Tòa án công lý quốc tế (ICJ), Tòa án trọng tài và Tòa án trọng tài đặc biệt. Philippines đã tuân thủ mọi quy trình của UNCLOS. Các nước khi ký kết UNCLOS là đã chấp nhận việc giải quyết tranh chấp bắt buộc. Đầu tiên các nước phải giải quyết tranh chấp song phương. Nếu không đạt được thỏa thuận, một quốc gia có quyền đưa vụ việc ra tòa quốc tế theo UNCLOS. Quốc gia này có quyền chọn ITLOS hoặc Tòa án trọng tài.

Philippines đã chọn Tòa án trọng tài. Ban đầu Tòa án trọng tài sẽ xác định cơ quan này có thẩm quyền giải quyết tranh chấp hay không. Có nghĩa là tòa án sẽ xác định lập luận của Philippines có bao gồm việc diễn giải hoặc áp dụng UNCLOS hay không. Tòa án trọng tài có thể xác định xem liệu một địa điểm tranh chấp là đảo, bãi cạn hay bãi đá ngầm. Quan trọng hơn, Tòa án trọng tài có thể xác định xem liệu Trung Quốc có can thiệp bất hợp pháp vào chủ quyền lãnh thổ của Philippines trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines hay không.

Tháng 8-2006, Trung Quốc tuyên bố không chấp nhận quy trình giải quyết tranh chấp bắt buộc dựa trên bốn cơ chế trên trong các vấn đề về phân định vùng lãnh hải, EEZ và thềm lục địa. Philippines khẳng định vụ việc này liên quan đến các vấn đề ngoài vùng lãnh hải, EEZ hay thềm lục địa. Vụ việc của Philippines cũng bao gồm việc diễn giải luật quốc tế theo UNCLOS. Do đó, Tòa án trọng tài có thể sẽ ra phán quyết ủng hộ Philippines. Nhiều khả năng phán quyết này sẽ tái xác nhận đường bờ biển, vùng lãnh hải và EEZ của Philippines dựa trên luật pháp quốc tế. Đó sẽ là một đòn mạnh giáng vào yêu sách “đường lưỡi bò” bất hợp pháp của Trung Quốc.

Chính quyền Philippines đã lựa chọn một cách cẩn thận những khía cạnh pháp lý đặc thù trong tranh chấp với Trung Quốc để đưa ra tòa án Liên Hiệp Quốc. Bất kỳ một phán quyết nào của Tòa án trọng tài phủ nhận “đường lưỡi bò” của Trung Quốc cũng đều có lợi cho các quốc gia khác có đòi hỏi chủ quyền trên biển Đông. Các nước như Việt Nam hoàn toàn có thể học tập kinh nghiệm và tiền lệ của Philippines.

Thúc đẩy quốc tế hóa tranh chấp biển Đông

Hành động chính trị – pháp lý của Philippines sẽ thúc đẩy hơn nữa tiến trình “quốc tế hóa” tranh chấp biển Đông. Nó cũng có thể dẫn tới phản ứng dây chuyền tại các quốc gia khác có tuyên bố chủ quyền tại biển Đông. Có thể các quốc gia này sẽ theo gương Manila đưa tranh chấp với Trung Quốc ra Tòa án trọng tài quốc tế.

Lường định những rủi ro có thể có, các nhà hoạch định chính sách ở Manila không hề hành động một cách bất cẩn. Trong nhiều tháng qua, dưới sự chủ trì của Ngoại trưởng Albert del Rosario, các học giả và luật sư Philippines và quốc tế đã hình thành một chiến lược pháp lý. Sự khôn khéo của Manila là việc chọn một khía cạnh pháp lý – chính trị liên quan “đường lưỡi bò” mà dư luận quốc tế đều thừa nhận là phi lý. Một khi “đường lưỡi bò” bị bác bỏ về mặt pháp lý và công lý quốc tế, lợi ích của Philippines tại bãi cạn Scarborough cũng sẽ được bảo vệ. Ở mức độ, vụ kiện này sẽ góp phần vào cuộc đấu tranh chung về pháp lý, chính trị, ngoại giao để tìm một giải pháp cho cuộc tranh chấp trên biển Đông. “Cách tiếp cận luật pháp quốc tế” luôn là một sự lựa chọn có giá trị, một lá bài chiến lược để ngỏ.

TS Nguyễn Ngọc Trường

H.TRUNG ghi/tuoitre
giaoduc.net.vn

Hội thảo tại Paris: Đường lưỡi bò không thuyết phục

Hình ảnh trong cuốn sách ”Dấu ấn Việt Nam ở Biển Đông” của Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông do Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ làm chủ biên (Nguồn: TTXVN)

Ngày 16/10, tại hội trường Nhà Hóa học ở Paris (Pháp) đã diễn ra Hội thảo quốc tế với chủ đề “Biển Đông: Đây có phải là không gian khủng hoảng mới không?” do Học viện Quan hệ quốc tế và Chiến lược Pháp (IRIS) phối hợp với Quỹ Gabriel Péri tổ chức.

Đến dự hội thảo có gần 300 đại biểu, gồm các học giả hàng đầu của Pháp, Bỉ và Anh về luật biển, các chuyên gia thuộc một số cơ quan nghiên cứu của Pháp và các nước châu Âu, trong đó có Cố vấn đối ngoại Tổng thống Pháp về các vấn đề chiến lược khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Christian Lechervy.

Hội thảo chia làm ba bàn tròn: bàn tròn thứ nhất nhan đề “Luật Pháp quốc tế nói gì?” bàn về tầm quan trọng của Biển Đông về các mặt chính trị, chiến lược và kinh tế nhìn dưới góc độ luật pháp quốc tế; bàn tròn thứ hai về tầm quan trọng của Biển Đông về chính trị, chiến lược và kinh tế; và bàn tròn thứ ba đánh giá khả năng giải pháp chính trị và quân sự cho các tranh chấp đặt ra.

Các đại biểu đã nghe báo cáo tham luận của các học giả, nhà nghiên cứu Pháp, Bỉ một số nước châu Âu khác về bối cảnh lịch sử của vấn đề Biển Đông, các cơ sở pháp lý liên quan đến các vấn để địa chính trị, chiến lược và kinh tế Biển Đông.

Nhiều diễn giả bày tỏ lo ngại về tình hình căng thẳng nổi lên trong thời gian qua xung quanh các vùng tranh chấp tại Biển Đông, và cho rằng đây là một vấn đề không chỉ liên quan đến khu vực mà còn liên quan đến cộng đồng quốc tế.

Các phát biểu đã liên hệ nhiều giữa tình hình tại Biển Đông và sự nổi lên của Trung Quốc trong thời gian qua, cũng như những diễn biến gần đây ở biển Hoa Đông.

Theo một số nhà phân tích, những luận cứ tiếp cận về lịch sử liên quan đến đường lưỡi bò Trung Quốc cũng như một số luận cứ khác của Trung Quốc về lịch sử và các vấn đề chủ quyền đưa ra là “không có tính thuyết phục”. Có ý kiến tỏ lo ngại rằng nếu Trung Quốc tiếp tục chính sách hiện nay thì tình hình tại khu vực sẽ còn căng thẳng.

Các diễn giả cũng đề xuất một số giải pháp, trong đó các nước ASEAN cần xem xét khả năng thống nhất đưa vấn đề tranh chấp ra quốc tế, đồng thời cộng đồng quốc tế cũng cần quan tâm, đóng góp hơn nữa cho việc giải quyết tình hình tại khu vực./.

Lê Hà/Paris (Vietnam+)
vietnamnet.vn