Tag Archive | Hải quân

Trung Quốc đang tăng cường bố trí vũ khí cho hướng Biển Đông

Trung Quốc đang tăng cường bố trí vũ khí cho hướng Biển Đông(GDVN) – Biên đội tàu chiến Hạm đội Nam Hải tiến hành tập trận để tăng cường khả năng tổ chức chỉ huy, dò tìm, xử lý tình huống; khả năng cơ động,phản ứng nhanh

Tiếp tục đọc

Advertisements

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ cuối

Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

oOo

Ngoài các nhiệm vụ được ghi trong chính sử, đội Hoàng Sa của nhà Nguyễn còn có sứ mệnh sang Nhật và Phi Luật Tân (Philippines). Họ ra đảo cùng với bí mật quân lương và mang về những sản vật kỳ diệu…

>> Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân
>> Kỳ 2: Bí mật về cấu tạo tàu chiến

Mô hình ghe câu (khinh thuyền/lê thuyền) là phương tiện đánh bắt của ngư dân duyên hải Nam Trung Bộ và cũng là phương tiện của đội thủy binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa dùng đi làm nhiệm vụ – Ảnh: Hiển Cừ

Với kỹ thuật tàu chiến như đã đề cập ở phần trước, việc đi tới đi lui giữa đất liền với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và xa hơn nữa không mấy khó khăn. Ba bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ, hai bộ sách bí truyền khác trong hoàng tộc là Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính và Bí mật quân lương và khử uế chiến thuyền của hai vương triều Tây Sơn và Nguyễn Phúc tộc còn cho ta biết thêm nhiều bí mật thú vị về hải quân nhà Nguyễn.

Theo đó thì đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ sang Nhật Bản và Phi Luật Tân. Họ sang Nhật Bản để hợp tác huấn luyện thủy quân, vì quan hệ giữa nước ta với Nhật Bản rất thân thiện sau khi Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương gia Nhật. Các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu thêm phương cách tác chiến của thủy quân Nhật trong những trận thủy chiến với nước ngoài có tương đồng gì không với cách tác chiến của thủy quân ta để làm rõ thêm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa.

Còn họ sang Phi Luật Tân để làm gì? Ngày nay, dọc ven biển nước ta có trồng nhiều dừa. Dừa không phải là cây bản địa, đó là loại thực vật được di thực từ Phi Luật Tân sang từ thời các Chúa Nguyễn. Việc trồng dừa là theo khuyến nghị của người Nhật. Ngày xưa, trên bờ biển nơi nào có dừa chính là nơi tàu bè có thể cập vào an toàn. Chính đội Hoàng Sa đã mang những cây dừa về trồng dọc bờ biển nước ta.

Về sản vật, chính sử chỉ ghi chung chung là đội này mang về các “hóa vật”. “Hóa vật” đó gồm những gì? Đó là xà cừ, ngọc trai lộ thiên, san hô đen, san hô đỏ, tảo, vỏ hàu 9 lỗ (cửu khổng thạch khuyết minh), ốc vú nàng, chất thơm trong đầu cá nhà táng…

Ốc vú nàng và chất thơm trong đầu cá nhà táng đều là những vị thuốc quý. Ốc vú nàng được cho là có thể chữa được ung thư tụy tạng, cầm máu, chữa sốt không rõ nguyên nhân, các bệnh nhiễm trùng da và rắc rối đường huyết, bệnh phụ khoa… Vỏ ốc phải lấy vỏ từ con ốc tươi mới làm thuốc được. Cá nhà táng là một loại cá voi, chất thơm trong đầu nó được lấy khi cá đã chết hoặc do cá tiết ra trên đảo (Nhà Nguyễn, nhất là từ đời Gia Long về sau, đã cấm triệt để việc săn bắt cá voi). Chất này được ứng dụng rất hữu hiệu trong điều trị bệnh sản phụ và nhi khoa, đặc biệt trong ngừa trị tai biến mạch máu não…

Đội Hoàng Sa ra đảo mỗi năm 6 tháng, họ ăn uống như thế nào? Điều này thuộc bí mật quân lương của nhà Nguyễn. Qua sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ ta biết trên mạn thuyền của đội Hoàng Sa có trồng 7 thứ rau: rau muống, rau húng, rau lang, hẹ, hành, tỏi, me đất (đến năm Tự Đức thứ 12 có thêm rau sam bay). Đây là 7 loại rau Trung Quốc không có hoặc một số thứ có nhưng chất lượng không bằng của ta. Hẹ, hành, tỏi thì sách thuốc đã nói nhiều. Còn rau muống thì có tác dụng bổ huyết do có nhiều chất sắt, đây là loại rau di thực từ Nhật Bản sang Việt Nam thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Rau húng cân đối lượng đường trong máu, giúp tuần hoàn tim mạch, điều hòa tiêu hóa, điều hòa hô hấp, điều hòa não, nếu ăn thường xuyên từ nhỏ thì không bị trĩ… Tất cả các loại rau trên đều có tác dụng bảo vệ sức khỏe của quân dân khi ra đảo. Nhưng vì sao những thứ đó được trồng trên thuyền mà không đem trồng trên đảo? Đó là bí mật quân lương.

Họ ăn những loại rau nói trên với cá biển và nước mắm. Tuy nhiên, ăn cá biển thường xuyên sẽ không bảo đảm cho sức khỏe, cho nên lương thực – thực phẩm chính mà đội Hoàng Sa mang theo là thịt thưng và cám gạo (cám gạo, chứ không phải gạo). Các món thịt thưng chính là bí mật quân lương của quân đội nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, các vua Nguyễn sau này trong các lễ cúng tế tổ tiên bao giờ cũng có món thịt thưng.

Đó là thịt heo hoặc gà, vịt, dê… được ướp với dầu lạc (dầu ép thủ công) và nước ớt, cho muối hột và nước mắm với độ mặn gấp 3 lần so với kho thịt bình thường, cho nước ngập xăm xắp, đun nhỏ lửa cho đến khi khô hết nước. Thịt này cho vào một cái hộp đậy kín, có thể để hàng năm không hỏng. Do để lâu không hỏng nên nó mới dùng làm quân lương.

Thịt thưng ăn vào cân bằng tiêu hóa, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột và giá trị dinh dưỡng đạt đến tối ưu trong điều kiện đi xa trên biển. Còn cám gạo thì ngày nay khoa học khẳng định nó là tinh hoa của lúa gạo. Dùng cám gạo thay cho gạo vừa đạt giá trị dinh dưỡng tối đa vừa không chiếm nhiều chỗ chứa khi ra biển đảo. Mỗi thành viên trong đội Hoàng Sa được cấp một cái hộc có nắp ép như cái hộc làm bánh, mỗi bữa ăn cho cám gạo vào hộc, bỏ vài miếng thịt thưng vào giữa, ép lại thành một chiếc bánh. Cộng thêm một ít rau là đủ cho một bữa ăn không thiếu một chất dinh dưỡng nào.

Do không có nhiều nước ngọt, nên ra Hoàng Sa, Trường Sa, người xưa ăn nước mắm chứ không ăn muối. Ăn nước mắm tốt hơn ăn muối, tăng cường sự dẻo dai của thủy binh.

Điều đặc biệt là nước mắm cũng có thể dùng để… giải khát. Trên một tảng đá nghiêng, khi trời nắng lấy nước mắm thoa lên đá phía mặt trời chiếu vào, nước mắm khô sẽ bám vào mặt đá. Đêm xuống, lấy đồ hứng những giọt sương rơi trên đá chảy qua chỗ có thoa nước mắm. Khi khát nước, thấm một ít nước này vào miệng, thứ nước đó đủ cho tuyến giáp trạng điều tiết dịch, không gây ra những cơn phiền khát. Vì vậy, uống ít nước vẫn không thấy khát.

Trên đảo có một thứ rau mà ngày nay không ai nghĩ là ăn được, vì ăn vào sẽ bị say. Đó là rau muống biển. Nhưng ngày xưa, đội Hoàng Sa của chúng ta vẫn ăn được thứ rau này. Sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính có chỉ rõ y lý của rau muống biển và cách chế biến với nhiều công đoạn phức tạp nhưng có thể thực hiện được trên đảo. Ăn rau muống biển được chế biến đúng cách, phòng tránh được nhiều bệnh thông thường, tăng sự dẻo dai cho cơ thể, đặc biệt nó tránh được những cơn say sóng nặng, bởi vậy mà sách này gọi nó là một vị thuốc mang tên “Cứu mệnh thảo”. Người viết bài đã chế biến rau muống biển theo đúng cách hướng dẫn và đã ăn nó trước khi viết loạt bài này.

Trên đây là những tư liệu mới mẻ. Trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu sơ qua. Từ một nguồn, đã hé mở biết bao điều kỳ thú. Chắc chắn còn rất nhiều tài liệu đang tản mát trong các gia đình, hy vọng các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, thu thập để xác minh, tổng kết.

Hoàng Hải Vân

thanhnien.com.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ 2

Bí mật về cấu tạo tàu chiến

oOo

“Người Hà Lan… qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển” – Giám mục De Rhodes.

>> Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân

Theo tài liệu bí truyền trong hoàng tộc Nguyễn, tàu hơi nước dù rất hiện đại, nhưng cũng chỉ dùng để vận tải, không dùng làm tàu chiến. Ngay cả các thủy sư người Pháp phục vụ cho hải quân nhà Nguyễn, trong trận hải chiến lừng danh là trận Thị Nại, họ cũng chỉ làm nhiệm vụ tải lương, tức là chỉ đóng vai hậu cần. Bởi vậy mà theo Barrow, trong số 26.800 lính hải quân, chỉ có 1.200 người phục vụ trên các tàu đóng kiểu châu Âu.

Tái hiện thao diễn thủy binh thời Nguyễn tại Festival Huế 2010 – Ảnh: Bùi Ngọc Long

Tàu thuyền chạy bằng buồm cũng vậy. Dù có kết cấu hết sức linh hoạt, vỏ tàu có 3 lớp, tàu lớn tải trọng có thể trên 40 tấn, có 22 khoang, mỗi khoang đều có phao làm bằng thao tằm, có trụ trung tâm điều khiển cột buồm bằng con quay để giữ thăng bằng và bảo đảm quan sát được 4 hướng, dưới chân cột buồm có dàn xạ tiễn bắn tự động để đối phó mỗi khi bị tàu địch tấn công. Tàu buồm này chịu được sóng gió cấp 5. Tuy nhiên, tàu chạy bằng buồm cũng chỉ được dùng làm tàu vận chuyển và… nghi binh mà thôi.

Tàu chiến của nhà Nguyễn toàn bộ làm bằng tre và chỉ dùng mái chèo. Nghe thì tầm thường, nhưng sự vô song chính là ở đó. Tuy dùng bằng mái chèo nhưng có thể lướt sóng với tốc độ nhanh hơn tàu chạy bằng hơi nước, lại linh hoạt hơn và cơ động thiện chiến hơn nhiều. Vì sao vậy?

Để khỏi mang tiếng tự đề cao dân tộc mình, xin hãy nghe “Tây” nói về những chiếc thuyền chiến bé nhỏ của ta đánh thắng hạm đội Hà Lan trước đã. Tường thuật lại trận hải chiến năm 1643, trong cuốn Những người châu Âu ở nước An Nam, Charles B. Maybon, một học giả người Pháp viết:

“Ba tàu dưới sự chỉ huy của Pierre Baeck được phái đi từ Jambee (Sumatra) vào cuối năm 1643. Đến ngang tầm “Bốn mũi” (Quatre Caps), người Hà Lan phải chịu đựng đòn tấn công của chừng 60 thuyền chiến Đàng Trong, mà theo Thực lục là dưới quyền chỉ huy của Thế tử, tức Hiền Vương sau này. Tàu đô đốc, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles). Theo cha De Rhode, một trong hai tàu ấy do bị người Đàng Trong đuổi đánh đã va phải đá ngầm vỡ tan, còn chiếc kia chạy thoát được…”. (Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về trận đánh này trong bài Tàu to súng lớn vẫn thuaThanh Niên số ra ngày 4.8.2011).

Người ta cũng nhầm tưởng hải quân nhà Nguyễn thường dùng vũ khí là đại bác và súng ống phương Tây. Các thủy sư đô đốc nhà Nguyễn hiểu rằng bắn đại bác từ tàu chiến chỉ để thị uy chứ ít chính xác, nên hải quân nhà Nguyễn sử dụng chủ yếu 3 loại vũ khí: súng phun lửa, nỏ liên châu và ống phóng hơi cay. Súng phun lửa có thể sử dụng khi cận chiến cự ly 15m. Nỏ liên châu thì một phát bắn ra 20 mũi tên có thể trúng chính xác ở cự ly trên 100m. Khi xung trận, đầu tàu có thể biến thành đuôi tàu và ngược lại nên cơ động trong mọi tình huống.

Maybon dẫn lời nhà truyền giáo De Rhodes kết luận về trận hải chiến này như sau: “Người Hà Lan… qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển”.

Theo tài liệu lưu giữ trong gia đình ông Ưng Viên, tàu chiến (gọi chính xác là thuyền chiến) nhà Nguyễn, loại lớn nhất dài 30m, ngang 12m; loại nhỏ nhất dài 3m, ngang 1,2m. Vỏ tàu có 3 lớp, tất cả làm bằng tre trét bằng dầu rái và vài loại thực vật khác, các khoang tàu cũng có phao làm bằng thao tằm giống như tàu chạy buồm.

Toàn bộ thủy quân chỉ có một soái hạm, dài 50m, ngang 12m. Người phương Tây rất muốn quan sát được chiếc soái hạm này nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy, vì nó có cấu tạo đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những tình huống cần thiết, trong điều kiện bình thường nó được tách ra thành những chiếc tàu chiến nhỏ.

Tàu chiến lớn có 12 tay chèo, chia thành 3 cụm, mỗi cụm có 4 tay chèo, 1 cụm bố trí ở mũi tàu, 2 cụm bố trí ở khoảng 1/3 thân tàu tính từ phía sau. Điều thú vị là các tay chèo này không phải dùng mái chèo tác động xuống nước để đẩy thuyền đi như thuyền chèo thông thường mà việc “chèo” này là để làm quay một hệ thống ròng rọc nối liền với các quạt nước, chính những cái quạt nước này vừa nâng tàu lên vừa đẩy tàu đi giống như tàu máy hiện đại nhưng linh hoạt hơn nhiều. Mỗi cụm tuy có 4 tay chèo, nhưng chỉ có 3 quạt nước nối với 3 tay chèo thông qua ròng rọc, tay chèo còn lại có vị trí độc lập, nhiệm vụ của anh ta là điều chỉnh để cân bằng hệ thống, việc của anh ta nhẹ nhàng hơn 3 anh kia, nhưng khi gặp sự cố, một mình anh ta sẽ làm chạy một lúc 3 cái quạt nước, do mái chèo của anh ta gắn với sự chuyển động đồng thời của 3 cái quạt này.

Thuyền mông đồng (hai đáy) khắc trên Chương đỉnh – Nguồn: COVATHUE.COM

Khi 3 cụm chèo đồng thời được nâng lên bởi tay chèo điều chỉnh hệ thống, lập tức tàu chạy lướt trên mặt nước, nghệ thuật lướt này nhờ vào 2 tay chèo số 4 phía sau điều chỉnh cho bánh lái không ghì đuôi tàu xuống, đồng thời giữ thăng bằng khi tàu lướt sóng. Vì vậy mà tàu chiến có thể vượt qua được mọi điều kiện thời tiết, với tốc độ và sự linh hoạt khiến cho đối phương phải kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng.

Điều đặc biệt là toàn bộ chất liệu làm tàu chiến không dùng đến sắt thép, kể cả cánh quạt, đinh, chốt, vít. Các liên kết đều dùng mộng, các chốt liên kết làm bằng một loại gỗ tên là gỗ xây cực kỳ bền chắc. Hy vọng từ những tài liệu nói trên kết hợp với các tài liệu khác có thể tìm được, các nhà nghiên cứu và chế tạo có thể tái tạo những chiếc tàu để xác nhận tính năng của nó.

Tàu chiến của hải quân nhà Nguyễn là niềm tự hào của quân dân ta. Khi vua Gia Long đưa thủy quân ra Bắc, lúc đội tàu chiến tiến đến Nam Định, dân chúng nhìn tàu lướt trên sóng đã thán phục gọi là “thần binh”.

(còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

>> Kỳ 3: Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

thanhnien.com.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ 1

Từ thủy quân đến hải quân

oOo

Nhân việc sưu tầm, nghiên cứu những tư liệu liên quan đến việc mở cõi của nhà Nguyễn, chúng tôi có dịp tiếp cận với một số tư liệu được bảo tồn trong hoàng tộc giúp chúng ta có cái nhìn liên kết giữa sức mạnh hải quân nhà Nguyễn với việc thực hiện chủ quyền biển đảo.

Trước hết, nhà Nguyễn, từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trở đi, khi đưa dân tộc tiến về phương Nam, mỗi bước chân của tiền nhân không chỉ là đi “mở đất” mà đồng thời còn thực hiện chủ quyền biển đảo. Muốn vậy, nhà Nguyễn phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Mà muốn có một lực lượng hải quân hùng mạnh thì phải có 3 yếu tố vượt trội: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương.

Từ một mảnh đất phía sau dãy Hoành Sơn, các Chúa Nguyễn đã không dừng lại ở cái mơ ước “vạn đại dung thân” bé nhỏ cho mình mà còn cùng với dân tộc nhân đôi nước non bờ cõi, phía nam mở nước dài đến mũi Cà Mau, phía đông làm chủ một vùng biển rộng lớn với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Vua Gia Long từng nói: “Thủy chiến là sở trường của ta”.

Thuyền bọc đồng thời Minh Mệnh được chạm trên Cao đỉnh – Nguồn: Covathue.com

Thủy chiến vốn là thế mạnh của dân tộc. Nước Đại Việt ta đã dùng thủy chiến để đánh tan những đội quân xâm lược hùng mạnh. Tuy nhiên, những trận đại thắng trên sông Bạch Đằng cùng các trận Chương Dương, Hàm Tử… lừng danh trên thế giới đều là giang chiến. Riêng trận Vân Đồn, nơi Trần Khánh Dư tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên Mông là trận đánh trên biển đầu tiên, nhưng cũng là một trận “duyên chiến”. Đến thời các Chúa Nguyễn, thủy chiến đã được nâng lên một tầm cao mới – hải chiến.

Trận hải chiến đầu tiên được lịch sử ghi nhận là trận do Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần khi ấy còn là thế tử chỉ huy, đánh tan một hạm đội của Hà Lan đến hải phận nước ta “gây hấn” vào năm 1643 (Thanh Niên đã đăng trong bài Tàu to súng lớn vẫn thua, số ra ngày 4.8.2011). Trước đó, vào năm 1585, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên khi ấy còn là một hoàng tử, đã đánh tan một đội tàu chiến 6 chiếc của Nhật Bản (Đại Nam thực lục gọi đây là tàu của “tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý”, có tài liệu nói đây là tàu Kenki của Nhật Bản) đến cướp bóc vùng ven biển Cửa Việt, nhưng trận này cũng là một trận “duyên chiến”.

Có thể nói Hải quân Việt Nam được khai sinh từ trận đánh thắng đội tàu chiến Hà Lan, vốn là nước có đội tàu chiến hiện đại nhất phương Tây lúc bấy giờ.

Không chỉ đánh thắng tàu chiến Hà Lan và Nhật Bản, hải quân nhà Nguyễn còn đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch mọi loại giặc biển đến từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Hệ thống phòng thủ bờ biển được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, không chỉ Phú Quốc, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa mà hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển đều được tiếp quản, thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật, suốt mấy trăm năm không để mất một tấc đảo, một khoảnh nước nào. Trên cơ sở phòng thủ vững chắc, nhà Nguyễn đã thiết lập các tuyến hải hành và mở rộng giao thương với nước ngoài. Tàu thuyền nước ngoài đến tấp nập ở Hội An và các thương cảng; tàu thuyền nước ta cũng cập bến ở nhiều nước Á, Âu. Khiêm cung hòa hiếu nhưng dũng mãnh cương cường, không hại ai nhưng nhất quyết không để ai hại mình, đó là thế đứng vững chắc của nước ta một thời giữa thiên hạ.

Tàu thuyền quân sự và dân sự của nhà Nguyễn gồm 3 loại: tàu thuyền dùng mái chèo, tàu thuyền dùng buồm và tàu bọc đồng chạy hơi nước. Tàu bọc đồng chạy hơi nước có từ thời Vua Gia Long, nói theo ngôn ngữ bây giờ thì nhà Nguyễn đã sớm hiện đại hóa tàu thuyền ngang với thế giới.

J.Barrow trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793 đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội nhà Nguyễn thời Vua Gia Long: Tổng quân số 139.800 người, riêng hải quân có 26.800 người.  Barrow còn ghi thêm về việc “hiện đại hóa” hải quân của Gia Long: “Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”.

Nhìn vào những tài liệu đã ghi chép, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhầm tưởng sức mạnh hải quân của nhà Nguyễn chính ở sự “hiện đại hóa” đội tàu theo kiểu châu Âu. Nhưng sự thật không phải vậy. Hiện đại theo cách của người ta thì không bao giờ bằng người ta được, chưa nói đến việc hơn người ta.

Sức mạnh hải quân Nhà Nguyễn nằm ở 3 yếu tố nổi trội nói ở đầu bài: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương. Cả ba đều là bí mật, không ghi trong sử sách (nếu ghi thì còn gì là bí mật). Chưa ai tìm ra được các tài liệu nói về 3 yếu tố trên, thậm chí cả những hình vẽ và ảnh chụp các tàu chiến nhà Nguyễn cũng không thấy để lại, ngoài một cuốn binh pháp là cuốn Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, trong đó có đề cập đến các trận pháp và kỹ thuật thủy chiến nhưng cũng không đề cập đến 3 yếu tố trên.

Rất may là các bí mật này vẫn còn lưu lại trong dòng tộc, được ghi khá tường tận trong một cuốn sách bí truyền: Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ, cuốn sách hiện vẫn còn được lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, một hậu duệ của Vua Minh Mệnh (ông Ưng Viên gọi Vua Minh Mệnh bằng ông cố).

Đại Nam thực lục tiền biên có ghi rõ lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22.740 quân, bao gồm:

– Cơ Trung hầu 10 thuyền 300 người;
– Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3.280 người;
– 2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người;
– Nội thủy 58 thuyền, 6.410 người;
– Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người;
– Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người;
– 2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người;
– Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2.700 người;
– 4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1.100 người;
– 4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người;
– 8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2.100 người;
– Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người;
– 4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người;
– Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.

(Còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

>> Kỳ 2 : Bí mật về cấu tạo tàu chiến

thanhnien.com.vn

Indonesia, Việt Nam sắp tuần tra chung Biển Đông

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Đại sứ Indonesia tại Việt Nam Pitono Purnomo. (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)

Đại sứ Indonesia ở Việt Nam, Pitono Purnomo cho biết, phía Indonesia đang hướng tới cuộc tuần tra chung lần thứ tư cùng lực lượng hải quân Việt Nam trên một phần của Biển Đông.

Thông tin trên đã được Đại sứ Pitono Purnomo cho biết trong buổi gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chiều 18/8,  để chào từ biệt nhân dịp ông Purnomo kết thúc nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam.

Tại buổi tiếp, thay mặt Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bày tỏ vui mừng vì sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ Việt Nam-Indonesia trên tất cả các lĩnh vực.

Đánh giá cao những đóng góp của Đại sứ trong việc thúc đẩy quan hệ song phương, Thủ tướng nhấn mạnh, là hai nước láng giềng truyền thống và cùng là thành viên của ASEAN, Việt Nam luôn mong muốn cùng Indonesia nỗ lực phấn đấu để tiếp tục đưa quan hệ với Indonesia lên tầm cao mới, đem lại lợi ích cho hai bên, cùng đóng góp xây dựng Cộng đồng ASEAN, hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

Thủ tướng chúc mừng Indonesia tổ chức thành công sự kiện Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 18 và Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 44, tin tưởng Indonesia tiếp tục phát huy được vai trò Chủ tịch, nâng cao vai trò của Hiệp hội trong cộng đồng quốc tế. Thủ tướng hy vọng hai bên thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ đầu tư, du lịch để nhân dân hai nước hiểu biết nhau hơn.

Thủ tướng mong muốn hai bên thúc đẩy tuần tra chung của hải quân hai nước để giữ gìn an ninh trật tự trên vùng biển tiếp giáp giữa hai nước. Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề nghị Indonesia xem xét vấn đề ngư dân Việt Nam vi phạm đánh cá ở vùng biển Indonesia trên tinh thần nhân đạo và tình hữu nghị giữa hai quốc gia. Thủ tướng hy vọng dù ở cương vị nào, Đại sứ tiếp tục đóng góp tích cực cho sự phát triển quan hệ hai nước trong thời gian tới.

Cảm ơn Thủ tướng đã dành thời gian tiếp, Đại sứ Pitono Purnomo gửi lời chúc mừng của Tổng thống Indonesia nhân dịp Thủ tướng tái đắc cử nhiệm kỳ 2 và đánh giá cao tốc độ trưởng kinh tế cao của Việt Nam, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu../.

TTN (TTXVN/Vietnam+)

vietnamplus.vn

Hải quân của ASEAN cần thống nhất về Biển Đông

Đây là dịp tốt để lực lượng hải quân các nước cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tìm hiểu các lĩnh vực có thể hợp tác.

Tiếp Tư lệnh Hải quân Singapore chiều 27/7, Trung tướng Đỗ Bá Tỵ, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cho rằng hải quân các nước ASEAN cần có sự trao đổi, thống nhất quan điểm về các vấn đề liên quan tới Biển Đông.

Trung tướng Đỗ Bá Tỵ hoan nghênh Chuẩn đô đốc Ng Chee Peng và đoàn sang thăm và dự Hội nghị Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN lần thứ 5 tại Việt Nam. Ông nói hội nghị là dịp tốt để lực lượng hải quân các nước cùng trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tìm hiểu các lĩnh vực có thể hợp tác.

Ông cũng nêu rõ Hội nghị Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN lần thứ 5 tại Việt Nam lần này bàn nhiều vấn đề liên quan đến biển Đông như bảo đảm an ninh hàng hải, chia sẻ thông tin tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, quy ước ứng xử trên biển, giao lưu sỹ quan trẻ…

“Do vậy, việc trao đổi, thống nhất quan điểm giữa hải quân các nước ASEAN là rất cần thiết,” ông nói. “Việt Nam luôn ủng hộ hết sức mình đối với các chủ trương mà hội nghị đề ra.”

Trung tướng Đỗ Bá Tỵ cho rằng thời gian qua, quan hệ hợp tác giữa quân đội và hải quân hai nước Việt Nam-Singapore đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trên các lĩnh vực trao đổi đoàn, đào tạo ngôn ngữ, chia sẻ thông tin hàng hải, phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn.

Ông mong rằng các mối quan hệ hợp tác, hữu nghị này tiếp tục phát triển phù hợp với lợi ích chung của nhân dân và quân đội hai nước.

Chuẩn đô đốc Ng Chee Peng cảm ơn Trung tướng Đỗ Bá Tỵ đã dành thời gian tiếp và chúc mừng Hải quân nhân dân Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN lần thứ 5.

Ông bày tỏ mong muốn thời gian tới Quân đội Nhân dân Việt Nam giúp đỡ quân đội Singapore đào tạo cán bộ phiên dịch tiếng Việt, cử sỹ quan làm việc tại trung tâm chia sẻ thông tin của lực lượng hải quân Singapore, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, nâng cao hiệu quả hợp tác phát triển giữa quân đội và hải quân hai nước./.

TTXVN

vov.vn

Giáo sư Đài Loan nói về Trung Quốc

(ANTĐ) – Tình hình biển Đông nói chung và hải phận Việt Nam trong vùng biển này nói riêng vẫn nóng bỏng vì những hành động uy hiếp răn đe của Trung Quốc.

Trước phản ứng của quốc tế và của Việt Nam, liệu Bắc Kinh có ngưng thái độ nước lớn cố hữu hay tiếp tục giương nanh vuốt? Ngoài vấn đề chủ quyền và dầu khí trên biển Đông thì còn điều gì tiềm ẩn đằng sau mối đe dọa của Trung Quốc?

Chiến lược và âm mưu thâm độc của Bắc Kinh

“Trung Quốc lộng hành với Việt Nam là chuyện đã lâu. Gần đây họ ra mặt một cách công khai, dùng chính những tàu của hải quân, được gọi là tàu hải giám, đến can thiệp trong lãnh hải của Việt Nam. Báo chí trong và ngoài nước nói có thể do vấn đề dầu khí mà Trung Quốc đang cần, vấn đề công nghiệp hóa đất nước mà họ bắt buộc phải nắm rất cả những kho dầu khí ở biển Đông. Đó là lý do về kinh tế mà nhiều người nói đến. Nhưng tôi nghĩ đó không phải là lý do chính”.

Đó là lời Tiến sĩ Trần Văn Đoàn, Giáo sư Viện Đại học Quốc lập Đài Loan, cũng từng là Giảng viên Đại học Bắc Kinh. Là người am hiểu khá nhiều về Trung Quốc trong tương quan với Đài Loan và các nước nhỏ thuộc khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, điều Giáo sư Trần Văn Đoàn phân tích và góp ý ở đây là đào sâu khía cạnh tâm lý nước lớn mà Trung Quốc thường chủ trương: “Họ tiếp tục chính sách cũ, gọi là cách nhìn hay tâm lý của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, chiến thuật bành trướng của họ”.

 Quân đội Trung Quốc ngày càng “hung hăng” hơn

Để thực hiện chính sách bành trướng, Giáo sư Trần Văn Đoàn dẫn giải, Trung Quốc áp dụng ba cách: “Cách thứ nhất là thúc đẩy những người Trung Quốc di dân ra các nước lân cận để lâu dần biến đó thành vệ tinh của Trung Quốc. Cách thứ hai, họ tìm cách lấn từng tấc đất, từng tấc biển. Trong quá khứ, họ đã bành trướng nước Trung Hoa từ vùng Hoàng Hà cho đến giờ vượt ra ngoài Mông Cổ đến Tây Tạng và xuống tận dưới Việt Nam và có thể sẽ đi xa hơn nữa. Bước thứ ba là họ muốn bành trướng theo kiểu kinh tế của người Mỹ. Tức là nếu họ nắm được kinh tế của những nước xung quanh thì họ có thể thống trị đất nước đó.

Lấy ví dụ điển hình như Hồng Kông, tất cả thực phẩm, nước uống, điện đều từ Trung Quốc, thành ra bây giờ Trung Quốc nói Hồng Kông phải nghe. Họ cũng từng dùng chiến thuật như vậy với Đài Loan. Kinh tế Đài Loan lệ thuộc gần 34% vào Trung Quốc và tương lai sẽ còn nhiều hơn. Tương tự ở Việt Nam, bây giờ có thể nói kinh tế Việt Nam đã lệ thuộc vào Trung Quốc rất nhiều. Và trong thời gian tới, nếu không để ý, kinh tế của chúng ta sẽ bị Trung Quốc lũng đoạn và lúc đó Việt Nam khó có thể độc lập được”.

Về mặt chính trị của Trung Quốc, điểm quan trọng từ đó xuất phát thái độ nước lớn uy hiếp nước nhỏ mà Giáo sư Trần Văn Đoàn vạch ra là nếu trong nước có những vấn đề đặc biệt thì Bắc Kinh sẽ gây hấn với các quốc gia lân cận, dùng ảnh hưởng ở bên ngoài sẽ đàn áp hoặc để giảm nhẹ mức nghiêm trọng ở bên trong: “Lấy ví dụ rất có thể ông Tập Cận Bình được bầu làm Tổng Bí thư vào năm tới. Để có được quyền hành thì phải nắm được quân đội. Chính vì lẽ đó, quân đội đã gây sức ép buộc Tập Cận Bình tăng cường thế lực của họ. Đấy là phương pháp tăng cường hải quân của họ, và để tăng cường hải quân họ bắt buộc phải gây hấn với nước nhỏ để thí nghiệm. Nếu thắng họ sẽ được nhiều tiền hơn, nếu thua họ cũng sẽ được nhiều tiền hơn để đổi mới. Đó là điều Đặng Tiểu Bình đã làm năm 1979 đối với Việt Nam. Khi đó nếu đánh Việt Nam mà thắng thì ông lấy đó để dẹp tan phe cuối cùng của bè lũ bốn tên. Trường hợp thua thì ông vẫn đổ lỗi được cho cách mạng văn hóa đã làm Trung Quốc tê liệt. Dù thắng hay thua ông ta đều thắng cả. Tôi nghĩ lần này ở Biển Đông y hệt như vậy, Tập Cận Bình và các nước Đông Nam Á, hoặc cảnh cáo được cả Nhật Bản nữa, thì uy thế của Trung Quốc rất lớn, nhóm Tập Cận Bình sẽ thành ông vua mới thay thế Hồ Cẩm Đào. Nếu không thắng, ông sẽ nói ở trong nước không có đoàn kết, ông tìm cách dập tan nhóm phản đối để có uy quyền trong tay”.

Có hay không cuộc chiến Biển Đông

Dưới mắt ông Trần Văn Đoàn, trong vấn đề Biển Đông, mới nhất là hôm 16/6, Trung Quốc đã huy động một tàu tuần tra lớn đến khu vực tranh chấp, trong lúc vẫn cam kết là chỉ muốn duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực, thì vấn đề cần được nhìn và được hiểu theo văn hóa của Trung Quốc.

Theo ông: “Văn hóa của Trung Quốc là vấn đề đất và nước, làm thế nào để có càng nhiều đất càng nhiều nước, biểu tượng sự giàu có và thành công của Trung Quốc. Thành thử xưa nay họ luôn theo chiến lược tiến hai bước, nếu bị quốc tế cảnh cáo họ sẽ lùi một bước”.

Đó cũng là chiến thuật mà Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, ông Lương Quang Liệt, sử dụng tại Hội nghị Đối thoại An ninh ở Singapore mới đây. Ông Trần Văn Đoàn cho biết: “Ông Lương Quang Liệt trong bài diễn thuyết tại Singapore đã hai mươi bảy lần nói tới chữ “hòa bình”. Đây chỉ là một bước lùi của Trung Quốc mà thôi. Đó là vấn đề văn hóa bản chất của con người Trung Quốc.

Vấn đề thứ hai, trong khi thế giới mới hôm nay chúng ta phải ngồi vào bàn hội nghị để giải quyết mọi vấn đề. Đó là cái nhìn của người phương Tây, cái nhìn khi mà cân bằng lực lượng với nhau. Nhưng khi với một lực lượng quá lớn thì Trung Quốc sẽ không ngồi vào bàn hội nghị, và nếu có thì họ sẽ tìm cách áp đặt. Họ sẽ cùng đàm phán và cùng một lúc lấn đất của người khác. Khi mọi người phản đối, họ có thể lùi một bước. Lùi lại một bước thì họ đã tiến được một bước rồi. Thành thử trong thế giới ngày hôm nay, họ sẽ ngồi vào bàn hội nghị nhưng họ sẽ tìm cách để thắng. Đó là tính cách của Trung Quốc”.

Được hỏi về điều này, nhất là câu hỏi Trung Quốc thực sự có tiềm năng nước lớn để uy hiếp lấn chiếm và đe dọa các nước nhỏ xung quanh, nhất là Việt Nam hay không Giáo sư Trần Văn Đoàn nhận định: “Cho rằng Trung Quốc có tiềm năng thì chỉ là bề ngoài thôi. Tôi không nghĩ là Trung Quốc có tiềm năng. Thứ nhất, Trung Quốc phải lo giải quyết vấn đề một tỷ ba trăm triệu dân, trong đó 300-400 triệu người còn đói kém. Cứ tưởng tượng 300-400 triệu người nổi loạn thì Trung Quốc có đủ tiềm năng giải quyết vấn đề đó không. Bây giờ vấn đề quan trọng nhất của Trung Quốc là tìm cách đánh bóng bên ngoài để làm cho những người nghèo đói thỏa mãn tinh thần yêu nước để quên đi tình cảnh nghèo đói của họ. Nhưng đó chỉ nhất thời. Khi điều nhất thời qua đi họ phải trở lại giải quyết cái nghèo và lúc đó là vấn đề nhức đầu của Trung Quốc. Điểm thứ hai, người Trung Quốc rất đoàn kết bên ngoài nhưng thực tế bên trong họ chia rẽ khi nói đến quyền lực, tài sản, đất đai. Đó là điều thường xuyên xảy ra ở Trung Quốc, không giống như châu Âu hay Mỹ. Tôi không sợ tiềm năng của Trung Quốc như bên ngoài thường thổi phồng”.

Theo Giáo sư Trần Văn Đoàn, dù được coi là một cường quốc kinh tế trên thế giới, dẫu cố tìm cách bành trướng thế lực quân sự và dương oai diễu võ với lân bang, Trung Quốc thực sự không đáng sợ bởi vấn đề khó khăn phải đeo mang là một tỷ ba trăm triệu dân: “Để giải quyết một tỷ ba trăm triệu dân thì kinh tế của họ ngày nay vẫn còn nghèo và chưa đủ để giải quyết vấn đề đó”.

Thế nhưng có một cuộc chiến tranh khác, một cuộc chiến thầm lặng mà Việt Nam và các nước Đông Nam Á cần lưu ý, ông Trần Văn Đoàn kết luận, đó là chiến thuật lấn đất để chen dân vào bên cạnh chiến thuật lũng đoạn kinh tế bằng hàng hóa Trung Quốc.

Theo RFA

anninhthudo.vn