Tag Archive | Malaysia

Tập Cận Bình nói gì về tình hình Biển Đông hiện tại?

Tập Cận Bình nói gì về tình hình Biển Đông hiện tại?(PetroTimes) – Bất chấp những diễn biến căng thẳng trên Biển Đông gần đây do hành động ngang ngược của Trung Quốc, trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Malaysia Najib Razak cuối ngày hôm qua (30/5), Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn nhận định: tình hình Biển Đông “nói chung là ổn định, nhưng cũng đã nổi lên những dấu hiệu thu hút sự quan tâm của Bắc Kinh”.

Tiếp tục đọc

Chính phủ Malaysia bị “thúc” phải có hành động với Trung Quốc

Chính phủ Malaysia bị (PetroTimes) – Đảng Cải cách Nhà nước của Malaysia hôm 3/2 đã lên tiếng kêu gọi chính phủ nước này phải làm rõ thông tin về việc các tàu hải quân Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Malaysia ở ngoài khơi bờ biển Sarawak.

Tiếp tục đọc

Biển Đông – nhìn lại năm 2013 nổi sóng

Biển Đông - nhìn lại năm 2013 nổi sóngNăm 2013 qua đi với đầy những biến động trên thế giới nói chung và ở Biển Đông nói riêng.

Năm 2013 cũng là năm đầu tiên Ban lãnh đạo mới ở Bắc Kinh thi hành chính sách cứng rắn hơn, nguy hiểm hơn trên vấn đề biển đảo nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng cường quốc biển mà Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra, làm cho tình hình Biển Đông ngày càng căng thẳng.

Tiếp tục đọc

Malaysia thành lập thuỷ quân lục chiến, đóng căn cứ trên Biển Đông

Malaysia thành lập thuỷ quân lục chiến, đóng căn cứ trên Biển Đông(GDVN) – Tạp chí Janes vừa đưa tin cho biết quân đội Malaysia đang chuẩn bị thành lập lực lượng thuỷ quân lục chiến và thiết lâp căn cứ tại khu vực bãi James Shoal – nơi trong tháng 3 vừa qua, tàu hải quân Trung Quốc đã bước chân đến, tuyên bố chủ quyền, rêu rao đó là phần lãnh thổ “Tăng Mẫu, điểm cực nam” của Bắc Kinh.

Tiếp tục đọc

Bộ trưởng QP ASEAN kêu gọi các nước lớn duy trì ổn định Biển Đông

Bộ trưởng QP ASEAN kêu gọi các nước lớn duy trì ổn định Biển Đông(GDVN) – Bày tỏ quan ngại về tình hình căng thẳng tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN đã kêu gọi các cường quốc trên thế giới giúp duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tiếp tục đọc

Malaysia muốn giải pháp tốt nhất cho vấn đề Biển Đông

(Ảnh: topnews.in)

Phóng viên TTXVN tại Malaysia dẫn phát biểu của Bộ trưởng Ngoại giao nước này Anifah Aman khẳng định Malaysia có lập trường trước sau như một trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và Malaysia mong muốn giải pháp tốt nhất cho vấn đề Biển Đông để duy trì tình hữu nghị và quan hệ mật thiết trong khu vực.

Tiếp tục đọc

Học giả Malaysia ủng hộ ‘gác tranh chấp, cùng khai thác’ Biển Đông

Học giả Malaysia ủng hộ 'gác tranh chấp, cùng khai thác' Biển Đông(Petrotimes) – Thời báo Hoàn cầu (Trung Quốc) vừa đăng bài phân tích của ông Oh Ei Sun, giảng viên tại Trường S. Rajaratnam School thuộc Viện Nghiên cứu Quốc tế Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, cựu Tổng thư ký chính trị của Thủ tướng Malaysia Najib Razak. Trong đó, tác giả cho rằng, sáng kiến “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” vẫn là con đường tối ưu để làm dịu tình hình căng thẳng trên Biển Đông.

Tiếp tục đọc

Hành động bành trướng chủ quyền phải chấm dứt!

Tác giả: CAITLYN L. ANTRIM VÀ GEORGE GALDORISI

Những hành động quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông đang khiến mọi người lo ngại rằng quốc gia này đang tìm kiếm bá quyền trên lưng những người hàng xóm của mình ở Đông Nam Á cũng như trên lưng Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Trung Quốc đang có những hành động nhanh chóng và tuyên bố mơ hồ về chủ quyền trên và quanh Biển Đông. Mỹ có thể giúp giải quyết tình hình bằng cách tham gia Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Tiếp cận và sử dụng những lĩnh vực chung toàn cầu, đặc biệt là trên biển và trên vũ trụ là một yếu tố chủ chốt của sức mạnh quân sự và thương mại Mỹ.

Trong những thời điểm xảy ra chiến tranh, việc kiểm soát những lĩnh vực chung này có thể được thực hiện bằng các biện pháp quân sự.

Trong thời bình, nó được bảo đảm thông qua phản ứng quân sự có giới hạn khi những qui định về việc sử dụng những lợi ích chung bị xâm phạm. Trong một số trường hợp, một biến cố thời bình có thể nhanh chóng dẫn tới việc tái khẳng định sự tự do truyền thống trên biển.

Trong những trường hợp khác, nỗ lực kết hợp hơn, phối hợp giữa ngoại giao với biểu dương lực lượng, có thể là cần thiết để quay trở lại tuân thủ những chuẩn mực quốc tế. Sự kết hợp thứ hai có vẻ là hiệu quả hơn nếu áp dụng với Trung Quốc và Biển Đông.

Như Patrick Cronin và Paul Giarra gần đây đã nói: “Sự khẳng định của Trung Quốc với khu vực đang tăng lên nhanh chóng nhờ sức mạnh nội lực và phương thức triển khai sức mạnh. Những động cơ không mấy thân thiện của Bắc Kinh có vẻ như muốn mọi người chú ý tới việc Trung Quốc đang không tham gia vào Những giá trị chung toàn cầu.”

Mô hình tàu sân bay của Trung Quốc.

Mặc dù không phải là một biểu hiện mới, nhưng những hành động quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông đang khiến mọi người lo ngại rằng quốc gia này đang tìm kiếm bá quyền trên lưng những người hàng xóm của mình ở Đông Nam Á cũng như trên lưng Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thách thức của Trung Quốc với những qui chuẩn quốc tế về luật biển liên quan tới quyền tự do trên biển là một việc không hề đơn giản. Biển Đông, với diện tích gần 650.000 dặm vuông, là nơi có tuyến đường biển đông đúc thứ hai trên thế giới, nối liền với Eo Singapore ở phía nam, và mũi phía bắc Đài Loan ở phía bắc, là nơi tiếp giáp với Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, và Việt Nam. Theo báo cáo năm 2006 “gần 50% lượng dầu thô, và 66% lượng khí đốt tự nhiên của thế giới cùng 40% thương mại toàn cầu đi qua vùng biển này.

Quyền tự do đi lại không chỉ là vấn đề quan trọng đối với khu vực. Năng lượng là một vấn đề, vì đáy biển được cho là có chứa dầu và khí, tạo ra quyền về lợi ích kinh tế của các quốc gia ven biển và lợi ích an ninh với lĩnh vực công nghiệp đang khát tài nguyên và năng lượng của Trung Quốc.

Những yếu tố chiến lược và kinh tế ở Biển Đông đã dẫn tới những tranh chấp chủ quyền và việc kiểm soát khoáng sản cũng như các hoạt động ở đó. Là một cường quốc toàn cầu với những lợi ích trong khu vực này, Mỹ phải phối hợp với các bạn bè, đồng minh và đối tác, bao gồm cả Trung Quốc, để bảo vệ quyền của mình theo luật pháp quốc tế.

Vùng biển với những căng thẳng

Với vị thế chiến lược và giá trị tiềm năng của các nguồn năng lượng, Biển Đông đã trở thành một vùng căng thẳng và xung đột cho cả các quốc gia ven biển và cho nước Mỹ. Theo dữ liệu của Hội đồng thông tin năng lượng Mỹ trong giai đoạn 1974-2001 có:

  • 4 cuộc xung đột vũ trang trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, dẫn tới thương vong của 88 binh sĩ
  • 8 biến cố, kể cả nổ súng giữa các tàu chiến Trung Quốc và tàu chiến Philippines
  • Ba biến cố giữa Việt Nam và Philippines
  • Một biến cố giữa Philippines và Malaysia, và một biến cố giữa Đài Loan và Việt Nam.

Bên cạnh những biến cố này là những va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc, bao gồm cả vụ va chạm hồi tháng 4/2001 giữa một máy bay phản lực Trung Quốc và máy bay EP-3E Aries II của Hải quân Mỹ khi máy bay EP-3E đang bay tuần trên Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) khoảng 70 hải lý từ căn cứ tàu ngầm lớn của Trung Quốc trên đảo Hải Nam, phía Tây Bắc đảo Hoàng Sa, dẫn tới việc máy bay phản lực của Trung Quốc bị rơi xuống biển, phi công chết, và máy bay của Mỹ phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam.

Năm 2009, tàu USNS Impeccable (T-AGOS-23) đã bị quấy rối khi đang tiến hành hoạt động cảnh giới ở vùng biển quốc tế, cũng cách hơn 70 hải lý từ đảo Hải Nam.

Những biến cố tương tự liên quan tới tàu USNS Bowditch (T-AGS-62), năm 2001 và 2002 ở vùng Đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trên Biển Hoàng Hải.

Điểm chung của hầu hết các cuộc đụng độ, va chạm này là quan niệm của Trung Quốc về an ninh quốc gia và trách nhiệm quốc tế. Bắc Kinh tự coi mình đang cạnh tranh với các quốc gia láng giềng về việc kiểm soát các nguồn năng lượng dưới đáy biển Biển Đông. Với Mỹ, Trung Quốc coi đây là một lực lượng mạnh có thể đe dọa những lợi ích của họ cả khi là một đối thủ đơn lẻ hay khi phối hợp với các quốc gia láng giềng trên Biển Đông.

Những tuyên bố của Trung Quốc đối với những nguồn tài nguyên này dựa một phần vào những tuyên bố lịch sử được phác họa trên một bản đồ trong đó có 9 đường đứt đoạn ám chỉ mức độ nào đó quyền lợi với hầu như toàn bộ vùng biển trong khu vực (một tuyên bố tương tự đã được Đài Loan đưa ra).

Với hoạt động của Hải quân Mỹ, Trung Quốc đã cho rằng Công ước về Luật biển Quốc tế năm 1982 nghiêm cấm hoạt động quân sự của nước ngoài trong vùng Đặc quyền kinh tế của mỗi nước, một nội dung không hề có trong công ước. Trung Quốc đã gia tăng sự bành trướng bằng tuyên bố rằng việc kiểm soát Biển Đông và những nguồn tài nguyên ở đó là lợi ích cốt lõi của quốc gia tương tự như những gì Bắc Kinh tuyên bố với Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương.

Tuy nhiên, tuyên bố của Trung Quốc là rất mơ hồ. Liệu đường đứt đoạn 9 vạch có thể hiện tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông và vùng đáy biển, hay nó chỉ áp dụng với những hòn đảo và vùng biển ở chính những vạch này? Liệu những tuyên bố có thực sự là “lợi ích cốt lõi”, hay chúng chỉ là điểm khởi đầu cho việc đàm phán phân chia vùng đáng cá và khai thác nguồn năng lượng trong khu vực?

Những lập luận và hành động của Trung Quốc phản ánh quan điểm khu vực của Bắc Kinh và việc nó sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để tranh giành những lợi ích khu vực. Việc này đang thay đổi khi Trung Quốc đang ngày càng phải dựa vào những tuyến đường biển xa để có được những nguyên liệu chiến lược và cực kỳ quan trọng, đặc biệt là năng lượng từ Vịnh Pécxích, khoáng sản từ Châu Phi, và gần đây là những nguồn tài nguyên ở Bắc Cực. An ninh của những tuyến đường biển đang trở thành một phần trong quan điểm chiến lược về thế giới của Bắc Kinh.

Trung Quốc đã tham gia các cuộc tuần tra chống cướp biển trên Vịnh Ađen. Bắc Kinh cũng vận hành một tàu phá băng ở Bắc Cực, đảm trách vai trò quan sát viên trong Hội đồng Bắc Cực, và đã tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại với những người dân bản xứ ở Canađa. Có vẻ như người Trung Quốc đang theo đuổi hai chính sách khác nhau và xung khắc nhau: kiểm soát vùng biển khu vực bên ngoài những vùng lãnh hải của họ và việc tự do đi lại trên những vùng biển khu vực và vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển khác. Những hành động của Trung Quốc nhằm bá quyền khu vực cũng rất mơ hồ. Bắc Kinh đã đảm nhận vai trò quan sát viên trong Hội đồng Bắc Cực đồng thời cũng tìm cách làm giảm vai trò của Mỹ trong mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN.

Những vấn đề khu vực và luật quốc tế

Trong khi Mỹ và Trung Quốc đối đầu với nhau về những hoạt động trên biển trong Vùng đặc quyền kinh tế, thì phần còn lại của khu vực phải giải quyết được mê cung của những tuyên bố chồng lấn đối với nguồn tài nguyên trên Biển Đông. Trung Quốc đã nỗ lực mở rộng quyền của mình trên biển và dưới đáy biển, đôi khi bằng lực lượng. Những quốc gia láng giềng nhỏ hơn phải dựa vào những phản đối ngoại giao và phản ứng quân sự có giới hạn và việc sử dụng áp lực quốc tế phù hợp với luật quốc tế và việc ngăn cấm xâm lược.

Tất cả các quốc gia ven biển trong khu vực là thành viên của UNCLOS, vì thế đó là cơ sở pháp lý chung cho việc xác định quyền chủ quyền ở Biển Đông. Dù Mỹ vẫn chưa tham gia công ước, nhưng Oasinhtơn áp dụng tuyên bố của cựu Tổng thống Ronald Reagan năm 1983 trong đó ông nói rằng nước Mỹ áp dụng các điều khoản về hàng hải, Vùng đặc quyền kinh tế, và thềm lục địa trong sự nhân nhượng lẫn nhau với các quốc gia khác. Công ước giải quyết được cả hai vấn đề cốt lõi liên quan tới các hoạt động ở EEZ.

Hàng hải trong EEZ: Các quốc gia ven biển có quyền kiểm soát nguồn hải sản và tài nguyên thiên nhiên trong khi quyền đi lại ở những vùng biển xa vẫn được bảo đảm cho các tàu thuyền và máy bay. Máy bay cảnh giới quân sự cũng được phép hoạt động trên EEZ; việc cảnh giới chỉ bị cấm trong vùng lãnh hải các quốc gia.

Quyền chủ quyền trong EEZ và Thềm lục địa: Công ước thừa nhận những đặc quyền đối với nguồn hải sản và khoáng sản trong EEZ tính từ bờ biển và những đảo có thể sống được (có người sinh sống).

Những đảo không thể sống được (không có người sinh sống) thì không có EEZ, chỉ có vùng biển 12 dặm bao quanh. Những tranh chấp việc kiểm soát các nguồn tài nguyên trên Biển Đông tập trung chủ yếu vào tranh chấp các đảo và quyền chủ quyền trong những vùng EEZ quanh đảo, và tranh chấp về việc liệu chúng chỉ là những vùng đá nhô lên hay là đảo. Những tuyên bố của Trung Quốc và của một số quốc gia khác đôi khi là phi lý nếu xem xét tới yếu tố lịch sử và có thể sống được.

Những quan điểm xung đột nhau của Trung Quốc

Những nỗ lực nhằm mở rộng quyền kiểm soát của Trung Quốc đối với vùng Biển Đông đã vi phạm UNCLOS. Những ví dụ về việc vi phạm của Trung Quốc bao gồm:

  • Tuyên bố rằng các máy bay quân sự không có quyền bay trên các EEZ: việc bay trên EEZ đã được thừa nhận trong công ước, và máy bay cảnh giới quân sự không phải là một ngoại lệ
  • Ngăn chặn các tàu của chính phủ Mỹ khi chúng hoạt động bên ngoài phạm vi 12 hải lý lãnh hải, đáng chú ý là việc ngăn chặn tàu USNS Impeccable và tàu USNS Bowditch vì chúng “đang hoạt động trong vùng Đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.
  • Tuyên bố rằng những hòn đảo không có người sinh sống ở Hoàng Sa và Trường Sa đã có thể sống được, vì thế Trung Quốc có thể tuyên bố chúng là những đảo có vùng đặc quyền kinh tế lên tới 200 hải lý, và việc tham gia vào những chiến dịch quân sự để giành quyền kiểm soát các đảo đá từ tay các nước khác trong khu vực.

Lý lẽ biện minh cho những hành động này của Trung Quốc là rất khó chấp nhận, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ở Biển Đông, thậm chí còn khó chấp nhận hơn.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Đô đốc Mike Mullen gần đây đã nói rằng: “Những hành động đầu tư mạnh mẽ gần đây của Trung Quốc vào khả năng viễn chinh trên biển và những loại máy bay hiện đại dường như không nằm trong mục tiêu được tuyên bố là phòng thủ đất nước của Bắc Kinh.”

Trong khi đó Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates lên án các sĩ quan quân sự hàng đầu Trung Quốc đã không tuân thủ các chính sách mà những nhà lãnh đạo cấp cao của họ đã vạch ra nhằm phát triển những lĩnh vực khác của mối quan hệ Mỹ – Trung Quốc.

Là một quốc gia rộng lớn và ngày càng công nghiệp hóa, Trung Quốc rất quan tâm tới vấn đề tiếp cận các nguồn nguyên liệu chiến lược và thiết yếu, đặc biêt là dầu lửa và khí đốt cũng như các nguồn nguyên liệu cho công nghiệp. Về ngắn hạn, Trung Quốc có thể đưa những mối quan tâm trong khu vực lên là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, khi quốc gia này lớn mạnh và trở thành một cường quốc kinh tế toàn cầu, nó sẽ nhận ra rằng tự do hàng hải và tự do bay trên khắp thế giới là cần thiết đối với an ninh của mình.

Sự phụ thuộc ngày càng tăng vào những tuyến đường biển để nhập khẩu dầu thô và khoáng sản cũng như việc tiếp cận các thị trường xuất khẩu sẽ thúc đẩy việc chuyển trọng tâm ưu tiên sang sự cơ động toàn cầu thay vì kiểm soát toàn bộ vùng biển trong vùng.

Một lý do chính khiến Trung Quốc ủng hộ UNCLOS là điều khoản “tuyến trung chuyển” theo đó khẳng định việc tự do đi lại của các tàu thương mại và tàu chiến đang ngày càng cần thiết để hộ tống họ qua Eo biểnsingapore và Malacca, Eo Hormuz, và những nút cổ chai khác mà các con tàu nhập khẩu quan trọng của họ phải đi qua.

Vai trò của Mỹ trên Biển Đông

Những quan tâm của Trung Quốc về quyền đối với vùng Biển Đông đã được chỉ rõ trong bản đồ “chín đoạn” vốn bao trọn toàn bộ những vùng biển quốc tế và những vùng thuộc EEZ của các quốc gia khác trong khu vực. Việc đưa ra tuyên bố này, vốn xâm hại nghiệm trọng các tuyên bố chủ quyền của các quốc gia ven biển khác trong khu vực, đã tạo ra tình huống trong đó Mỹ có vai trò cân bằng năng lực hải quân khu vực ngày càng tăng của Trung Quốc.

Trong chuyến thăm Hà Nội năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đề cập tới những tranh chấp và nhấn mạnh sự cần thiết có một giải pháp khu vực. Dù có vẻ như Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề này với từng quốc gia riêng rẽ trong khu vực, cách tiếp cận đa phương được các quốc gia nhỏ hơn lựa chọn và nó tốt hơn với việc cân bằng sức mạnh ngày một tăng của Trung Quốc. Ý thức được vấn đề này, Trung Quốc đã phản đối việc Ngoại trưởng Clinton ủng hộ cho cách tiếp cận đa phương. Tuy nhiên, cuối cùng lợi ích của việc phát triển kinh tế và trầm tích dầu lửa và khí đốt trong khu vực phụ thuộc vào một giải pháp khu vực thỏa đáng giữa các quốc gia biển. Mỹ quan tâm tới việc bảo đảm rằng một tiến trình hòa bình dẫn tới một giải pháp thỏa đáng được thực thi.

Mỹ phụ thuộc vào sự ủng hộ của các thành viên ASEAN để duy trì hoạt động hiệu quả trên Biển Đông, vì thế phản ứng của nước này với Trung Quốc phải tôn trọng lợi ích và mối quan tâm của khu vực. Dù Mỹ được nhiều quốc gia thành viên coi là một người bạn, nhưng họ cũng biết rằng có những lúc lợi ích của họ là khác xa những lợi ích của Mỹ. Oasinhtơn không thể coi sự ủng hộ của các quốc gia này là điều hiển nhiên. Nếu làm như vậy có thể làm suy yếu những phản ứng chung trước sự bành trướng của Trung Quốc; nó có thể khiến những sáng kiến biển đa phương khác gặp rủi ro, như Sáng kiến an ninh phổ biến và Nghị quyết chống cướp biển của Hội đồng Bảo an LHQ.

Các quốc gia thành viên ASEAN phải được bảo đảm rằng Mỹ sẽ tạo ra sự cân bằng với cường quốc ngày một mạnh lên đó mà không trở thành một mối đe dọa tới lợi ích của họ. Mỹ có thể chứng minh điều này bằng cách nhấn mạnh rằng hành động của mình sẽ phù hợp với UNCLOS. Chỉ khi những hành động của Mỹ phù hợp với công ước, các quốc gia ASEAN mới cảm thấy yên tâm trong các hoạt động trên biển của Mỹ trong khu vực, và Trung Quốc sẽ biết rằng có những giới hạn ràng buộc các hoạt động của Mỹ trong khu vực.

Trong khi sự niềm tin đối với cam kết của Mỹ theo công ước hiện không được đề cao vì vị thế không phải là thành viên của công ước, việc này có thể vượt qua bằng cách hoàn tất những nỗ lực của chính quyền trước nhằm bảo đảm sự tư vấn và đồng thuận của Thượng viện trong việc tham gia công ước và sau đó đệ trình phê chuẩn công ước này.

Tương lai sẽ như thế nào?

Với cố gắng gia tăng sự kiểm soát và rộng chủ quyền của mình trên Biển Đông bằng cách áp dụng cơ sở pháp lý trong nước với những vùng biển quốc tế, Trung Quốc đã tạo ra xung đột với các quốc gia láng giềng và vi phạm UNCLOS. Những tuyên bố của Trung Quốc không chỉ đơn thuần đe dọa việc đi lại trên Biển Đông. Chúng còn là mối đe dọa đối với những lĩnh vực chung toàn cầu và với luật pháp quốc tế vốn đã được phát triển để bảo vệ quyền lợi của các quốc gia ven biển và những quốc gia ở xa biển trên thế giới.

Những nỗ lực nhằm tranh giành những lợi ích cục bộ của Trung Quốc là rất thiển cận. Bắc Kinh đang phát triển trở thành một cường quốc toàn cầu với những lợi ích của chính mình trong việc tiếp cận và sử dụng những lĩnh vực chung toàn cầu. Trên thực tế sự cân bằng giữa những lợi ích ven biển và mối quan tâm biển xa giờ đây có thể đang trong quá trình hướng tới cái thứ hai. Gail Harris, viết cuốn Nhà ngoại giao rằng: “Những nhà chiến lược Trung Quốc giờ đây cũng tin rằng để bảo vệ sự phát triển kinh tế của mình, họ phải duy trì an ninh những tuyến đường hàng hải, thứ đòi hỏi một lực lượng hải quân đủ mạnh, hoạt động tốt ở không chỉ những vùng biển ven bờ.”

Với việc cảnh giới ở EEZ, Trung Quốc có thể trở nên quen với sự giám sát của Mỹ như nước Mỹ đã làm trong thời Chiến tranh Lạnh khi giám sát các “tàu đánh cá” của Liên Xô bên ngoài vùng biển của họ. Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ giám sát việc đến và đi của Mỹ và các tàu chiến khác từ những trạm bên ngoài lãnh hải của các quốc gia khác bằng cách sử dụng những hạm đội tàu ngầm hiện đại hoạt động không cần không khí, và rất ít phát ra âm thanh.

Về lâu dài, những lợi ích toàn cầu ngày một tăng của Trung Quốc sẽ dẫn tới việc Bắc Kinh ủng hộ những tự do hàng hải tương tự vốn đã được các quốc gia thương mại toàn cầu khác đấu tranh. Cho tới khi đó, Mỹ phải bảo vệ các quyền tự do hàng hải theo đúng Luật Biển bằng cách tiếp tục chứng minh việc tuân thủ nó. Mỹ đồng thời cũng phải ủng hộ nỗ lực của các quốc gia ven biển nhằm đạt tới sự phân chia công bằng EEZ và thềm lục địa.

Chiến lược rộng hơn của Mỹ với Biển Đông phải theo ba tiêu chí. Thứ nhất, bảo vệ các quyền tự do hàng hải thông qua cả ngoại giao và biểu dương lực lượng. Thứ hai, làm việc với Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc để giúp lực lượng này nhận ra rằng lợi ích lâu dài của Trung Quốc trong việc tự do hàng hải còn quan trọng hơn nhiều đối với an ninh quốc gia của họ so với những nỗ lực ngắn hạn nhằm giành quyền kiểm soát việc đi lại trong EEZ. Thứ ba, thúc đẩy nghị quyết khu vực và những tuyên bố quyền chủ quyền đối với các đảo và tài nguyên dưới đáy biển của Biển Đông dựa trên các điều khoản của UNCLOS.

Để đạt được điều này, Mỹ cũng phải thừa nhận rằng tầm ảnh hưởng khu vực phụ thuộc không chỉ vào sức mạnh mà còn vào việc thực thi đúng đắn, như Giáo sư Barry Posen đã nói:

“Việc kiểm soát những lĩnh vực chung sẽ tạo thêm ảnh hưởng và cho thấy sự hiệu quả hơn so với sức mạnh quân sự, nếu những quốc gia khác được thuyết phục rằng Mỹ quan tâm nhiều tới việc kiềm chế sự hiếu chiến trong khu vực hơn là giành được sự thống trị trong khu vực.”

Một điều rất quan trọng là phải ghi nhớ rằng những bạn bè và đồng minh của Mỹ không muốn thấy Mỹ có vai trò toàn quyền trên Biển Đông. Với họ, UNCLOS là rất quan trọng để cân bằng sự can dự của Mỹ cân bằng với các lợi ích khu vực. Nếu Mỹ không chấp nhận những bổn phận và giới hạn của công ước cũng như các quyền của mình, thì vị thế của họ, ngay cả với các đồng minh, sẽ bị giảm sút.

Thay vì việc thừa nhận những điều khoản liên quan tới hàng hải, EEZ, và thềm lục địa của Tổng thống Reagan, uy tín của nước Mỹ như một nước tuân thủ nghiêm nhất luật pháp quốc tế đang bị suy yếu bởi thất bại của Oasinhtơn trong việc tham gia UNCLOS. Việc tham gia sẽ củng cố sự lãnh đạo của Mỹ trên biển, và sẽ giúp bảo vệ lợi ích của các bên trên Biển Đông.

Chính sách của Mỹ là, và nên vẫn, thể hiện và yêu cầu tuân thủ những quyền hàng hải và quyền bay và thúc đẩy giải pháp khu vực cho vấn đề quyền chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên được xác định trong UNCLOS. Một yếu tố quan trọng của chiến lược này là cho nước Mỹ tham gia và công ước và tái thiết lập vị thế nhà vô địch trong tuân thủ luật quốc tế trên biển khi chúng ta được tận hưởng những quyền được UNCLOS thừa nhận

Hồng Cường dịch từ Tạp chí Proceedings, số 4/2011

tuanvietnam.vietnamnet.vn

Kỳ 3: Họ là những anh hùng thời đại mới

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giữa thời bình, biết bao những chiến sĩ đã thầm lặng hy sinh quên mình vì chủ quyền biển, đảo. Trong sự hy sinh cao cả ấy, có cán bộ chiến sĩ nhà giàn DK1. Các anh xứng đáng là những anh hùng của thời đại mới.

Lễ tưởng niệm các liệt sĩ hi sinh trên thềm lục địa Tổ quốc

Trong cuộc đời lính biển, tôi không thể nào quên được những giờ phút khốc liệt nhất chống chọi với sóng cuồng bão giật giữa biển khơi trong đêm tối mịt mùng cách đây 13 năm về trước. Cơn bão số 8 tháng 12 năm 1998 đã làm 3 đồng đội của tôi vĩnh viễn nằm lại biển xanh. 13 năm rồi mà cứ ngỡ hôm qua, cái giờ phút kiên cường ấy đọng lại trong ký ức tôi về tình đồng chí đồng đội, thương yêu đùm bọc trong gian nan hoạn nạn giữa bão tố cuồng phong.

Lao xuống biển không rời cờ Tổ quốc

Ngày ấy vào trung tuần tháng 12 năm 1998, cơn bão số 8 có tên Fathes bất ngờ đổ bộ vào vùng biển nước ta. Sức gió mạnh cấp 12 giật trên cấp 12, vùng biển thềm lục địa Bà Rịa – Vũng Tàu đúng tâm mắt bão. Mệnh lệnh cấp trên: Tất cả nhà giàn chuẩn bị tinh thần sẵn sàng đối phó với bão tố, đề phòng tình huống xấu nhất xảy ra khi nhà đổ. Các tàu trực ở khu vực nhanh chóng về Côn Đảo trú bão…

Nhận được lệnh, Chỉ huy trưởng Phúc Nguyên 2A, Đại úy Vũ Quang Chương đã nhanh chóng hội ý chi bộ, giao nhiệm vụ cho từng người, làm tốt công tác chuẩn bị, sẵn sàng đối phó với sóng gió. Lúc 16 giờ ngày 12 tháng 12 năm 1998, trên vùng biển thềm lục địa không còn hình bóng một con tàu, tất cả đã đi tránh bão. Sóng mỗi lúc một lớn hơn, càng về chiều sóng càng dữ dội. Những con sóng lừng lững như quả núi liên tiếp ập đến làm cho nhà giàn rung lắc mạnh. Mặt biển mịt mù trắng xóa, gió rít giật ầm ầm. Tất cả các cửa hướng đông của trạm đều đóng kín. Lúc đó chỉ cần sơ sẩy là bị gió hất tung xuống biển.

Trước tình hình phức tạp của sóng bão, đại úy Vũ Quang Chương bình tĩnh động viên anh em giữ vững tư tưởng, lệnh các tổ chuẩn bị mọi mặt như áo phao cá nhân, phao bè, lương thực thực phẩm , thuốc quân y, dây ròng rọc… sẵn sàng rời nhà.

18 giờ 30 phút, một con sóng cực lớn đánh trùm làm nhà giàn nghiêng hẳn một bên, lắc lư như ngọn cây. Chuẩn úy Lê Đức Hồng đang nằm trên giường, liền bị chiếc bàn bóng bàn chạy trượt đến chận lên người. Lúc này, chiến sĩ Hoàng Xuân Thủy đang ở phòng chỉ huy cùng Đại úy Vũ Quang Chương xem trên bản đồ hướng đi của bão, nghe tiếng Hồng kêu lớn “Tao bị bàn bóng chận đau quá” liền chạy ra phòng câu lạc bộ thì bị chiếc tủ sắt đổ vào người toạc máu ở bụng.

Tình thế lúc này cực kỳ nguy kịch, những tấm gỗ lát mặt sàn bật tung, Nhà giàn chao đảo, chiếc ti vi trên bàn đổ xuống sàn nhà, toàn bộ giá gạo trong kho đổ sập, giường tủ bàn ghế xô đi xô lại, máy phát điện bị chập tắt ngấm. Chiến sĩ Hoàng Xuân Thủy nhanh chóng vào phòng thông tin lên máy gọi đài canh SCH Quân chủng về tình hình sóng gió, khả năng trụ vững của nhà giàn, đề nghị cho tàu đến cứu.

Sóng mỗi lúc một to. Tất cả 9 anh em mặc sẵn áo phao, lấy giây mồi buộc vào tay nhau để khi nhà đổ xuống biển, thì vẫn tìm thấy nhau, chết thì vẫn còn xác. Chỉ huy phó quân sự Dương Văn Hoan vào kho lấy bao gạo ra chèn chân giường tránh va đập, liền bị toàn bộ giá gạo đổ sập xuống vai. Trong tiếng thét gào của gió mưa, đại úy Vũ Quang Chương hô lớn: “Tất cả phải thật bình tĩnh, bằng mọi cách phải nối thông tin liên lạc. Mọi người sẵn sàng rời trạm, dùng bao gạo chèn vào chân giường”.

Lúc 22 giờ ngày 12-12-1998, máy nổ vụt tắt lần 2 do sóng đánh chập điện. Dây ăng ten thông tin bị đứt. Chiến sĩ cơ điện nhanh chóng kiểm tra sự cố chập điện. Trong đêm tối mịt mùng, nhân viên báo vụ Hoàng Xuân Thủy, tay cầm đèn pin nhanh nhẹn cúi sát người, bò lên lan can cầu thang lần mò nối lại dây ăng ten và tiếp tục liên lạc với sở chỉ huy đất liền và đài canh thông tin Quân chủng. Lúc này, tất cả thông tin được nói trực tiếp qua máy I –Com chứ không qua qua mã dịch cơ yếu. Tiếng Thủy lạc đi trong sóng gió: “Hiện nay sóng đã trùm lên sàn ở, nhà chao đảo mạnh, một số vật dụng trong câu lạc bộ bị đổ vỡ, anh em vẫn bình tĩnh đối phó, đề nghị cấp trên cho rời nhà”. Xác định không thể trụ thêm được nữa, sở chỉ huy cấp trên quyết định cho anh em rời nhà giàn. Đại úy Vũ Quang Chương hô: “Tất cả rời trạm, tổ 2 thả phao bè xuống trước, khi xuống biển nhanh chóng bám chặt vào phao”. Lúc đó là 0 giờ 30 phút ngày 13 tháng 12 .

Trước khi rời nhà, mọi người xác định sẵn sàng hy sinh, nhưng rất bình tĩnh. Anh em còn trêu nhau: “Nếu có chết, thì để vợ cho người khác dùng”. Nguyễn Văn An còn bảo: “Tao chết thì có gì đâu, chỉ thương là vợ tao mới đẻ, tao chưa biết mặt con. Thương nhất là anh Chương thôi, chưa có một mảnh tình rách vắt vai” và cười rất lạc quan, vô tư. “Anh biết không, thật ra lúc đó trong tim chúng tôi đang chảy máu. Muốn khóc mà không khóc được, thương bố mẹ và nhớ đất liền vô cùng”. Thủy khóc. Những giọt nước mắt dồn nén trào ra.

Sóng mỗi lúc một lớn, trời mịt mùng đen kịt. Tất cả anh em đứng ngoài lan can. Mỗi khi có con sóng kinh hoàng như quả núi trước mặt, mọi người nhắm mắt nín thở cầu mong nhà không đổ và sóng qua mau. Nhưng tất cả đều vô vọng. Nhà giàn lắc lư chao đảo theo sóng. Không thể trụ được nữa, đại úy Vũ Quang Chương chỉ huy tốp 2 nhảy xuống biển và bám vào phao cứu sinh. Trên tốp 2 có Trung úy Dương Văn Hoan, chiến sĩ cơ yếu Hà Công Dụng, Thuật- chiến sĩ pháo thủ. Trên nhà giàn lúc này chỉ còn Thủy, Chương và chiến sĩ cơ điện. Trước khi rời nhà Chương còn cẩn thận đóng tất cả cửa lại nếu trạm đổ thì anh em không bị nước hút vào trong. Anh ôm lá cờ Tổ quốc vào ngực mình rồi gấp gọn cùng với cuốn sổ vàng truyền thống cho vào bao bảo quản gói chặt. Còn Thủy đem theo một súng tín hiệu và 6 viên đạn, các tài liệu mật của ngành thông tin rồi lên máy lần cuối nói với đài canh. Giọng Thủy nghẹn ngào dặn chị Vân ở đài canh Sở Chỉ hủy Hải Phòng: “Chị Vân ơi. Em là Hoàng Xuân Thủy. Quê em ở Mỹ Sơn, xã Lưu Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An. Bố em là Hoàng Văn Sơn, mẹ em là Lê Thị Thịnh. Em chết thì nhờ chị viết thư về báo tin cho nhà em biết”. Nói xong, Thủy ôm bao gạo cùng Chương lao xuống biển trong tiếng gào thét đồng đội trạm Phúc Nguyên 2B phát qua máy I – Com sóng cực ngắn “Thủy ơi, nhảy đi, nhảy đi, nhà đổ rồi, nhảy đi”.

Giữa sóng gió và trời tối đen như mực không nhìn thấy gì dù trong gang tấc, Chương hô lớn: “Tất cả anh em bám chặt vào phao bè và ra khỏi vòng xoáy”. Đúng lúc đó, một con sóng kinh hoàng dựng lên như vách núi đập mạnh làm cho Nhà giàn đổ hoàn toàn. Chương, An và Hồng bị hất tung không bám được vào dây nữa. Thủy chỉ nghe tiếng Chương kêu “Thủy ơi, cứu anh. Bám vào dây em ơi” rồi cuốn vào sóng dữ.

Chống chọi giữa đêm đen

Thiếu úy Hoàng Xuân Thủy

Giữa sóng cuồng bão giật. Thủy nhìn thấy 4 người trên phao cứu sinh là Hoan, Dụng, Thuật, Tôn đang gào thét cố bám chặt lấy mảnh phao bè. Thủy gọi: Thằng Thơ đâu. (Lúc này Thơ bám được bao gạo đã bị sóng đánh ra xa). Cả đêm hôm đó, 5 con người trên chiếc phao cứu sinh nhỏ bé quần lộn với sóng bão, ai cũng nghĩ nếu hy sinh, vẫn phải kiên cường, phải chống chọi đến hơi thở cuối cùng. Bỗng Thủy phát hiện có 1 thanh gỗ trôi gần đó. Anh lao ra vớt thanh gỗ bẻ đôi làm mái chèo. Mọi người thay nhau chèo ra khỏi vòng xoáy nhưng thực ra chẳng biết chèo đi đâu. Đúng lúc ấy thì phát hiện thấy Thơ đang bám vào bao gạo, mặt nhợt nhạt. Thủy lao ra dìu Thơ và giúp trèo lên phao cứu sinh, cởi áo cho Thơ mặc. Thủy bình tĩnh lấy súng tín hiệu bắn 3 phát báo hiệu cấp cứu. Viên đạn cuối cùng Thủy đưa cho Hoan bắn, nhưng cơn sóng mạnh đã cuốn trôi khỏi tay Hoan. Cứ thế 6 anh em trên chiếc phao cứu sinh chống chọi với sóng gió. Mọi người lấy lương khô và tỏi ra ăn và uống nước biển cầm hơi.

17 giờ ngày 13 tháng 12 năm 1998, phát hiện thấy ánh đèn của nhà giàn bên cạnh. Mọi người chưa đoán được nhà giàn nào. Hoan động viên: “Sống rồi. Anh em cố gắng chèo đến gần lô đi”. Bỗng Tôn ngoảnh lại thì nhìn thấy tàu lừng lững sau lưng mình. Ai cũng nghĩ đó là tàu nước ngoài đến cứu chứ không nghĩ là tàu HQ-606.

Tại sở chỉ huy ở đất liền, ngay khi nhận tin Trạm Phúc Nguyên 2A đổ, tất cả nhân viên của trạm đang gặp nạn, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã trực tiếp chỉ đạo thành lập biên đội tàu gồm: HQ-624, HQ-608, HQ-606, HQ-957 đang ở vị trí tránh bão nhanh chóng về tọa độ X và bằng mọi cách tìm kiếm cứu nạn. Biên đội tàu chia làm hai mũi thẳng hướng đã xác định. Sóng lúc này vẫn còn rất to. Tàu HQ-606 có lượng dãn nước 450 tấn mà cứ chồm lên ngụp xuống trong những cơn sóng xoáy và ngược gió. Có lúc tàu tiến 3 mà không nhích lên được. Đêm đó cán bộ chiến sĩ tàu HQ-606 không ai chợp mắt, tất cả ra lan can quan sát tìm kiếm đồng đội. Đến gần sáng sóng giảm hơn, tầm quan sát được xa hơn. Thuyền trưởng Lê Văn Muộn nhận định: Có thể họ đã trôi rất xa so với tọa độ đầu tiên, phải nhanh chóng tìm bằng được kẻo không còn kịp nữa. Theo kinh nghiệm và phán đoán, thuyền trưởng cho tàu quay ngang cắt mũi về hướng tây bắc. Bỗng một chiến sĩ quan sát báo cáo phát hiện từ xa có một vật nổi trên biển hướng tàu đang đi tới. Khi cách vật nổi ấy 1 hải lý chiến sĩ quan sát hô to: “Kia rồi, họ kia rồi các đồng chí ơi”.

Lúc này 6 anh em trên chiếc phao bè mệt lả, quần áo rách tả tơi, da nhợt nhạt do sóng quần và ngâm lâu trong nước mặn. Thuyền trưởng Lê Văn Muộn chỉ huy thủy thủ trên tàu quăng phao tròn, tiếp sức từng người một, tất cả an toàn. Sau khi cứu vớt các anh được chăm sóc sức khỏe. Lúc đó là 18 giờ 30 phút ngày 13-12-1998.

Tốp 1 đã được cứu vớt, lệnh SCH biên đội tiếp tục tìm kiếm tốp 2. Nhưng hết ngày thứ 2, ngày thứ 3 và những ngày tiếp theo vẫn không tìm thấy những người còn lại. Việc tìm kiếm tiếp tục bằng con đường ngoại giao, thông báo với các nước bạn vùng lân cận về những người bị mất tích thông qua đại sứ quán. 6 tháng sau, không có sự trả lời của nước bạn về tin tức của các anh, vậy là đã rõ: Các anh đã hy sinh, đã vĩnh viễn nằm lại biển xanh.

Nghĩa trang đặc biệt

Trong khi đại úy Vũ Quang Chương hy sinh ở tuổi chớm 30 để lại cho gia đình bao tiếc thương, đồng đội bao cảm phục, thì liệt sĩ Nguyễn Văn An để lại người vợ trẻ tận Ninh Bình và đứa con trai 2 tháng tuổi chưa kịp đặt tên và chưa một lần nhìn thấy mặt. Còn liệt sĩ Nguyễn Hữu Quảng để lại sự thảng thốt ngỡ ngàng cho người con gái mới đính hôn với lời hẹn ước sau chuyến đi biển ấy về sẽ làm lễ cưới…

Thời gian rồi sẽ xoa dịu đi những mất mát thương đau, nhưng thiên tai làm sao lường trước được. Đây đó ở quê nhà người vợ, người mẹ, người em của những người lính nhà giàn vẫn luôn dõi mắt ra biển khơi bao nỗi lo toan. Thời gian có thể làm cho họ thêm già nua, thay đổi, nhưng nỗi đau, tình thương về người thân thì vẫn nguyên vẹn như mới hôm qua. 9 cán bộ chiến sĩ nhà giàn DK1 đã vĩnh viễn nằm lại ngàn khơi kể từ khi nhà giàn được thành lập đến nay cũng đủ để khẳng định công lao và sự hi sinh anh dũng quên mình vì Tổ quốc. Thi thể các anh hòa lẫn vào san hô nằm tận biển sâu mà chúng tôi quen gọi là Nghĩa trang đặc biệt. Bởi Nghĩa trang này không có bia, mộ, không có phần đất, chỉ có những ngọn sóng bạc đầu, lúc nổi lên giữ dội, lúc hiền hòa lặng lẽ.

Theo thông lệ, mỗi đoàn công tác đi qua vùng biển thềm lục địa đều làm lễ tưởng niệm hương hồn các liệt sĩ. Từ mái tóc bạc phơ đến mái đầu xanh; từ những người vào sinh ra tử qua hai cuộc kháng chiến đến các bạn trẻ chưa một lần mặc áo lính; từ những người lăn lộn với biển, đảo sống sót trở về đến những người lần đầu tiên đến nghĩa trang đặc biệt này đều không cầm được nước mắt khi thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ. Và tôi, người đã từng công tác 12 năm ở nhà giàn DK1 càng nghẹn ngào khi biết thêm về những câu chuyện kể về những người nằm xuống.

(Ghi theo lời kể của Thiếu úy Hoàng Xuân Thủy
nguyên là chiến sĩ báo vụ1, trạm Phúc Nguyên 2A
người sống sót trở về sau cơn bão lịch sử tháng 12-1998)

[ Kỳ 1: Hiên ngang giữa “vùng biển bão tố”]
[ Kỳ 2: Những người đầu tiên ra chốt giữ nhà giàn]

daidoanket.vn

Kỳ 2: Những người đầu tiên ra chốt giữ nhà giàn

Nhà giàn DK1 Vùng 2 Hải quân trên thềm lục địa phía Nam Tổ quốc vững vàng giữa ngàn khơi 22 năm kể từ ngày thành lập. Những người đầu tiên ra chốt giữ nhà giàn DK1, người còn sống, người vĩnh viễn nằm lại biển khơi. Nhà giàn DK1 vẫn tồn tại như một bằng chứng lịch sử về sự cống hiến hi sinh thầm lặng của các thế hệ chiến sĩ và là những cột mốc thiêng liêng khẳng định chủ quyền của Tổ quốc. Và những câu chuyện kể về ngày đầu tiên gian khó ấy vẫn tươi mới vẹn nguyên trong ký ức ông Nguyễn Văn Nam – một trong những người đầu tiên ở nhà giàn DK1.

Trung tá Nguyễn Văn Nam cùng cán bộ, chiến sĩ nhà giàn Phúc Nguyên B rửa rau mang ra từ đất liềnẢnh Xuân Cường

Nước mắt thay lời chia ly

Qua 2 lần hẹn, tôi mới xin gặp được ông tại nhà riêng ở 1096 đường 30/4 phường 11 thành phố Vũng Tàu. Trước mặt tôi là người chỉ huy cương nghị rắn rỏi đã có 20 năm lăn lộn, sống chết với biển cả. Ông kể cho tôi nghe những ngày đầu ra nhà giàn chốt giữ, thiếu thốn đủ bề, chồng chất khó khăn, nhưng anh em vẫn trụ vững. Vượt lên trên gian khổ là tinh thần khắc phục và nghị lực sống kiên cường.

Chấp hành mệnh lệnh cấp trên, đầu tháng 7 năm 1989, đại úy Nguyễn Văn Nam “cầm quân” 13 cán bộ chiến sĩ ra nhà giàn Phúc Tần sinh sống và chốt giữ. Trước ngày đi 3 hôm, em trai anh chết do tai nạn, còn vợ là Đặng Thị Thủy ốm nặng. Lúc ấy, nói đến đi Trường Sa, DK1 là chuyện gì đó rất ghê gớm. Những người đi Trường Sa, DK xác định: “Ra đi chẳng hẹn ngày về”. Anh Nam cũng xác định đi là sẵn sàng hy sinh quên mình vì Tổ quốc. Lần đầu tiên Lữ đoàn 171 Hải quân đưa lực lượng đi làm nhiệm vụ trên biển xa nên cán bộ Lữ đoàn rất quan tâm, lo lắng. Trước ngày đi, Thủ trưởng đơn vị đến từng nhà động viên anh em yên tâm lên đường làm nhiệm vụ. Còn đối với cán bộ chiến sĩ sống tập thể tại đơn vị thì làm công tác tư tưởng, dặn dò và chia tay. Ai cũng nói hẹn ngày gặp lại, nhưng trong thâm tâm, thương xót vô cùng vì biển xa sóng gió, gian khổ khó khăn, biết bao giờ gặp lại.

Trong khi nhà đang có tang thương, vợ ốm, nhưng anh Nam quyết tâm gạt nước mắt ra đi vì nhiệm vụ, vì Tổ quốc đang cần anh và những đồng đội. Biết gia đình anh Nam gặp khó khăn, Trung tá Phạm Xuân Hoa, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 171 đã đến tận nhà động viên: “Đồng chí cứ chỉ huy anh em ra nhà giàn làm nhiệm vụ. Vợ con ở nhà yên tâm đã có đơn vị, chúng tôi lo”. Chị Thủy- vợ anh đang ốm nặng cũng cố tiễn chồng ra cửa, gạt hai hàng nước mắt dặn chồng: “Anh đi bình an, hoàn thành nhiệm vụ trở về với mẹ con em. Em và các con luôn chờ đón anh về”. Nhìn mặt vợ thân yêu và con gái nhỏ, Nam mím chặt môi để không bật ra tiếng nấc. Anh bế con gái đầu lòng hôn lên má và giấu giọt nước mắt trào ra.

Con tàu gỗ nhỏ bé có tên HQ727 qua 3 ngày 3 đêm hành trình liên tục đã đưa 14 cán bộ chiến sĩ đến nhà giàn Phúc Tần. Ra đến nơi, anh viết thư về quê tận Vĩnh Phú dặn nhờ người em ruột: “Nếu anh hy sinh thì chú vào Vũng Tàu đưa vợ con anh về quê sinh sống”.

Chồng chất khó khăn

Giữa cái nắng cháy da chát thịt, giữa tiếng gió gào thét suốt đêm ngày, 14 cán bộ chiến sĩ trằn mình trong nắng lửa huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, luyện tập các phương án tác chiến, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với những trận bão cuồng phong. Những thứ ở đất liền rất bình thường như rau xanh và nước ngọt, thì ở nhà giàn cực kỳ hiếm hoi và quí giá. Chỉ nước ngọt thôi, cũng là loại xa xỉ hiếm hơn cả ở Trường Sa. Bởi ở Trường Sa, nước ngọt được các chiến sĩ khơi từ lòng đảo, còn ở nhà giàn DK1 nước ngọt chỉ có thể mang ra từ đất liền hoặc hứng nhờ trời mưa.

Nhà giàn Phúc Tần là thế hệ đóng đầu tiên. Nhà thiết kế kiểu bong- tông đặt nổi trên đáy san hô. Nhà chia làm ba tầng. Dưới tầng công tác là 3 ngăn đựng nước ngọt và dầu hỏa. Bồn chứa nước chỉ hơn 10 khối. Với ngần ấy nước cho 14 con người trong 6 tháng trời ròng rã, chỉ nội rửa tay thôi cũng không đủ, huống hồ nấu ăn, tắm, rửa. Còn rau xanh thì chưa biết trồng thế nào. Thức ăn chính hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ vẫn là thịt hộp và rau muống phơi khô đóng thành bao tải do quân nhu cấp gửi từ đất liền ra. Do nhà có kết cấu dạng bong- tông đặt lên nền san hô cách mặt nước 7 mét, nên chỉ cần sóng cấp 4 hoặc dòng nước chảy mạnh là khối bong-tông đã di dịch bập bềnh trôi trong nước. Sau 3 ngày xây dựng, sóng to đã đánh vỡ toàn bộ phần bong-tông, bồn nước ngọt và bồn dầu hỏa. Để bảo đảm an toàn, lệnh cấp trên rút toàn bộ cán bộ, chiến sĩ về đất liền.

Ngày trở về đất liền, chị Thủy bế con ra tận cầu cảng đón chồng. Bế con gái trên tay, Nam nghèn nghẹn. Ôm vợ trong lòng, anh bảo: “Chỉ về ít hôm, anh và đồng đội lại ra ngay. Ngoài ấy đang cần anh và đồng đội. Vùng biển đảo thân yêu phải được bảo vệ giữ gìn”.

Nam và 13 cán bộ chiến sĩ lao vào huấn luyện, rèn luyện sức khỏe sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Một tháng huấn luyện qua mau, đại úy Nguyễn Văn Nam cùng 13 cán bộ chiến sĩ đem theo 20 phi nước ngọt và 5 phi dầu hỏa theo tàu ra nhà giàn Phúc Tần chốt giữ. Một kế hoạch sinh tồn cho cuộc sống mới bắt đầu. Trước hết là tiết kiệm thật chi li nước ngọt và trồng rau xanh. Nước ngọt được chia theo đầu người mỗi ngày 6 lít cho cả tắm rửa. Nước tắm, giặt xong dùng để tưới rau, miễn là không nhiễm xà bông và nước mặn. Còn trồng rau xanh anh em đã lấy gỗ tạp chế ra chiếc máng nhỏ để trồng rau trên ấy và phải “làm nhà” cho rau ở, gió hướng nào che hướng ấy. Do nhiễm mặn từ nước biển bốc hơi, nên rau xanh cứ nảy mầm là thối gốc hoặc lên được 2 lá là chết lụi.

Khó khăn thiếu thốn là thế, nhưng cán bộ chiến sĩ yên tâm công tác, thương yêu nhau như ruột thịt, chia nhau từng ca nước ngọt, nhường nhau từng cọng rau xanh, đọc chung nhau thư nhà gửi tới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Nhà giàn Phúc Tần – nơi anh Nam và 13 cán bộ, chiến sĩ ra chốt giữ đầu tiên

Vỡ òa trước biển

Sau 11 tháng sống trên nhà giàn Phúc Tần , Đại úy Nguyễn Văn Nam cùng và 13 cán bộ, chiến sĩ được về đất liền do kíp trực khác ra thay. Chia tay nhà giàn và những người ở lại, Nam căn dặn anh em: “Điều kiện sống ở đây vô cùng khó khăn gian khổ. Anh em phải thương yêu đùm bọc nhau, coi nhau như ruột thịt. Gian khổ thế nào cũng giữ vững ý chí chiến đấu, không sờn lòng, không chùn bước trước những khó khăn. Còn người là còn trạm”.

Chiếc xuồng nhỏ bé chở Nam và đồng đội của anh ra tàu 931 về đất liền. Ngồi trên xuồng, ngoảnh lại nhìn nhà giàn mà thương anh em quá. Nam và mọi người nhìn lên nhà giàn mà khóc. Khóc bởi thương anh em. Khóc bởi giữa biển nước mênh mông, nhà giàn nhỏ bé như nuốt vào lòng biển, không thấy bến bờ. Trên đó là những người lính trẻ 18 đôi mươi, vô tư, hồn nhiên luôn canh cánh trong lòng nỗi nhớ đất liền và gồng mình quanh năm chống chọi với khí hậu hà khắc, nắng cháy da cháy thịt và gió 4 mùa rát mặt. Những khó khăn đó có thể chịu đựng được, nhưng có những cái phải thầm lặng hy sinh gian khổ hơn. Đó là sự chịu đựng nỗi nhớ nhà luôn đau đáu day dứt trong lòng. Nỗi nhớ nhà, nhớ đất liền, vợ, con, anh, em, bầu bạn, người yêu tăng dần theo thời gian. Nhiều người nhận được tin vợ ốm, con đau, cha già, mẹ héo đành cắn răng chịu đựng không về được…

Với 34 năm tuổi quân, 20 năm công tác ở DK1, 132 lần lăn lộn với biển khơi , 52 tuổi đời, đầu ông đã hoa râm sợi bạc. Đầu năm 2009, ông Nam được nghỉ hưu với cấp hàm Thượng tá. Trở về với cuộc sống đời thường, ông vẫn giữ vững phẩm chất của người lính Cụ Hồ: Cương nghị rắn rỏi với công việc, sâu nặng nghĩa tình với đồng đội và lối xóm bà con. Căn nhà khang trang ở khu tập thể A đoàn M71 lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười.

Như chứng tỏ bản lĩnh của người lính năng động, làm chủ cuộc sống, Thượng tá Nguyễn Văn Nam không chịu ngồi yên. Ông bắt tay với công việc mới, vừa kiếm thêm thu nhập cho gia đình., vừa rèn luyện sức khỏe. Công việc của ông hiện nay là làm thủ kho vật tư cho Tổng Công ty xăng dầu Thái Bình Dương (Vũng Tàu). Tuy bận rộn, nhưng ông luôn quan tâm đến sự trưởng thành của nhà giàn DK1. Ông bảo: “Những ngày đầu tiên ra sống trên nhà giàn Phúc Tần gian nan vất vả, nhưng đó lại là hạnh phúc, tự hào nhất đời tôi. Bây giờ không được vẫy vùng trên biển nữa, nhưng những vật dụng gì, để chỗ nào, ở nhà giàn nào tôi đều nhớ rõ. Thế hệ hôm nay, phải biết phát huy truyền thống của cha anh đi trước, bằng mọi giá phải giữ vững chủ quyền biển đảo, thềm lục địa Tổ quốc. Bởi đó là cột mốc chủ quyền mà bao thế hệ đã đổ mồ hôi công sức, sự hy sinh quên mình mới có được .”

MAI THẮNG

Kỳ 3: Họ là những anh hùng thời đại mới
22 năm bám trụ nhà giàn, các chiến sĩ DK1 đã chống chọi hơn 200 cơn bão. Giữa sóng cuồng bão giật đêm tối giữa biển khơi, giữa cái chết cận kề, họ vẫn một lòng trung thành với Tổ quốc, vừa chống chọi với sóng gió giữ mạng sống của mình, vừa quyết tâm bảo vệ nhà giàn. Họ xứng đáng là những anh hùng thời đại mới.

daidoanket.vn