Tag Archive | Trần Hưng Đạo

“Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”

Đó là lời của Trần Hưng Đạo đúc kết về nguyên nhân của chiến công lịch sử làm cho giặc Nguyên ba lần thảm bại trong thế kỷ XIII.

Phải luôn luôn làm sống động những lời tâm huyết
của Trần Hưng Đạo trong Hịch Tướng sĩ

Ảnh: T.L

“Tháng Tám giỗ cha…”, trong tâm thức người Việt tự bao đời thì ngày Giỗ Đức Thánh Trần 20 tháng Tám âm lịch có ý nghĩa thiêng liêng vào bậc nhất để tri ân vị anh hùng “bảo dân hộ quốc” trong lịch sử dân tộc.

Nếu “văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội” thì lịch sử dân tộc có sức lay động mãnh liệt tình cảm của con người Việt Nam mọi thời đại lại có ý nghĩa hết sức quyết định đến nền tảng tinh thần ấy.

Đúng vào “tháng Tám giỗ Cha” thật xúc động nhắc lại chiến công hiển hách đánh tan đế quốc Nguyên-Mông hung hãn mà vó ngựa xâm lăng đã xéo nát nhiều vùng lãnh thổ từ Á sang Âu để rồi chỉ chịu gục ngã trên chiến trường Việt Nam. Chiến công ấy gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp vĩ đại của Trần Hưng Đạo – vị tướng duy nhất trong lịch sử dân tộc được nhân dân phong Thánh : “Đức Thánh Trần”!

Quả thật, đúng như Trương Hán Siêu viết trong “Bạch Đằng giang phú” :

Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.

Rồi chỉ một câu trong bài phú đã khắc họa được bản lĩnh và tài thao lược của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân:

Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn. *Tiếng thơm còn mãi…

Những âm vang lịch sử quả là có sức lay động tâm hồn mỗi người Việt Nam có lương tri hôm nay :

“Sông Đằng một dải dài ghê,
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông.
Những phường bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”

Thời nào mà chẳng có “phường bất nghĩa”, thời nào chẳng có ” anh hùng”! Và rồi, ai sẽ được “lưu danh” và kẻ nào sẽ bị “tiêu vong” thì lịch sử rõ mồn một. Chính vì thế mà phải thường xuyên làm sống động lịch sử trong tâm hồn thế hệ trẻ để dòng máu anh hùng cuộn chảy trong huyết quản mọi thế hệ Việt Nam. Đừng quên rằng, “thái độ của giới trẻ với lịch sử là thước đo sự tín nhiệm chính trị với chế độ” như phát biểu của F.Mitterand, vị Tổng thống Pháp đã từng thăm Việt Nam và đến tận Điện Biên Phủ dạo nào. Bởi lẽ, lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được.

Hơn lúc nào hết phải làm sống động những lời tâm huyết của Trần Hưng Đạo trong “Hịch tướng sĩ”: “Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan này, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ-phụ,… Trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm… thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa ”.

Sẽ không hiểu rõ được tại sao quân dân đời Trần có thể ba lần đánh tan những đạo quân xâm lược hung bạo, muốn lấy thịt đè người, nếu không hiểu được cội nguồn của thắng lợi kỳ diệu là tinh thần dân tộc được khởi động và dâng cao để do đó mà “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”.

Nếu “trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm” thì làm sao người người đủ dũng khí khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát”? Trên cánh tay khắc hai chữ đó vì trong đầu đã hằn sâu một sự thật lịch sử : “Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung”. Nếu “cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù… khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ địch, giơ tay không mà chịu thua quân giặc”.

Thiên tài quân sự của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, song thiên tài ấy chỉ có thể phát huy khi dưới trướng của Ngài là những “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Nói về họ, những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… thì đã quá rõ, lịch sử còn đặc biệt nhắc lại lời Hưng Đạo nói về các gia thần dũng mãnh và trung thành của mình như Yết Kiêu, Dã Tượng : “chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi ”. Và dưới trướng của Hưng Đạo Đại Vương không chỉ có Yết Kiêu, Dã Tượng mà còn có nhiều võ tướng khác nữa.

Lịch sử cũng ghi tên những văn thần như Đỗ Khắc Chung, nêu cao khí phách trong trại giặc. Khi Ô Mã Nhi ngạo ngược quát nạt : “Quốc vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ Sát Thát, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”. Khắc Chung dõng dạc đáp : “Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có”. Nói rồi giơ cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi phải thốt lên với tả hữu rằng “người này… có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được”.Và rồi nhớ ra, sai người đuổi theo giết, nhưng không kịp.

Khi kẻ thù nhận ra được “nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được” cũng là lúc chúng hiểu ra rằng “những người giỏi” mà ông cha ta gọi là “nguyên khí quốc gia” ấy đã được quy tụ, phát huy để rồi từ họ mà khởi động được ý chí và sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, khiến cho “cả nước góp sức”. Khi đã có điều đó rồi thì : “Nếu thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Đó là lời Trần Hưng Đạo trả lời vua Trần Anh Tông lo lắng hỏi về kế sách giữ nước..

Nếu nhìn suốt những bước thăng trầm của lịch sử đất nước ta luôn nằm trong vị thế địa-chính trị “trứng chọi đá” thì những lời căn dặn ấy là sự đúc kết về quy luật giữ nước của ông cha ta. Kể từ thời Khúc Hạo [năm 907-917] với cương lĩnh dựng nước “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” trải qua các chặng đường giữ nước “từ Đinh, Lê, Lý,Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương” đều như vậy.

Đừng quên rằng, để có chiến thắng lẫy lừng : “Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi” thì cũng đã có lúc ” Linh Sơn lương hết mấy tuần; khi Khôi huyện quân không một lữ”. Đừng quên trước đó đã từng có 63 cuộc khởi nghĩa bị giặc dìm trong bể máu, chỉ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi với hội thề Lũng Nhai mới hình thành nên cuộc kháng chiến trường kỳ để rồi “Mở tiệc quân chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi; quân giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn”. Có được chuyện đó vì người lãnh đạo cuộc kháng chiến mười năm đã biết dựa vào lực lượng bất tận của dân, khởi động và phát huy sức mạnh cố kết dân tộc để tạo nên được “phụ tử chi binh nhất tâm” [Bình Ngô đại cáo].

Mệnh đề hàm súc này đã là bài học lịch sử được đúc kết. Từ chiến công hiển hách đời Trần thế kỷ XIII, đến cuộc kháng chiến mười năm thế kỷ XV, rồi chiến công thần tốc thế kỷ XVIII cũng khởi nguồn từ đó. Phải chăng đây là bước bứt phá trong sự vận động tự thân của sức sống dân tộc, đưa đến những hợp trội kỳ diệu trong dòng chảy của lịch sử.

Thời đoạn lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến. Việt Nam Sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau : “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng : “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”. Đã vậy thì những “thần dân” của vua đã biết cách hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều dễ hiểu. Sử chép : Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân [26 tháng 12 năm 1788], dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn ! Thử hỏi không có sức dân ấy, không có lòng dân theo về, thì làm sao có được chiến thắng thần tốc ấy!

Nguyễn Huệ “nâng quân số lên tới 10 vạn” chính là nhờ có những người “chân đất” đã biết theo mệnh lệnh của trái tim có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. Và thiên tài chính là biết phát hiện, khơi dậy và phát huy được sức mạnh vô tận của khối nhân dân vĩ đaị.

Sự thật lịch sử có lúc mờ lúc tỏ, song dòng chảy lịch sử là bất tận. Dòng cuộn chảy ấy tạo nên sức mạnh bất diệt của một dân tộc, đã từng làm nên những “Trận chiến Lịch Sử /Đã phá tung mọi xiềng xích ? như hai câu thơ lay động lòng người của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Thế hệ trẻ Việt Nam phải được tắm mình vào trong dòng chảy ấy để tự hào về ông cha mình bao đời kiên cường, bất khuất dựng nước, mở nước và giữ nước và trao lại cho thế hệ hôm nay.

GS. TƯƠNG LAI

_______________

* Khi quân Nguyên tràn sang lần thứ ba, Trần Hưng Đạo đã trấn an vua “Chuyến này dù quân Nguyên có sang đây, ta phá cũng dễ hơn phen trước, xin bệ hạ đừng lo”

daidoanket.vn

Bài 3: Giặc dữ Mông – Nguyên ba lần đại bại – Kỳ 3

Năm 1236, Mông Cổ chính thức xâm lược nhà Nam Tống. Năm 1256, toàn bộ nước Đại Lý (nay là tỉnh Vân Nam) đã chia thành phủ, huyện đặt dưới quyền cai trị của người Mông Cổ, đứng đầu là viên tướng Uriyangqadai. Nước Đại Việt từ nay bị Mông Cổ trực tiếp uy hiếp. Uriyangqadai cho sứ tới Thăng Long đòi Nhà nước Đại Việt phải chấp nhận ba việc: Một là triều cống; hai là cho quân Mông Cổ mượn đường đánh vào Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc); Ba là đặt chức Daguratri (viên toàn quyền) tại Thăng Long. Nhà Trần chỉ chấp nhận có một việc là cống nạp mà thôi.

Tướng giặc Nguyên là Thoát Hoan bị quân dân Đại Việt
 đánh cho đại bại, phải chui vào ống đồng chạy trốn

Tranh của họa sĩ Nguyễn Bích

Lường trước được tình thế nên từ năm 1230 trở đi, nhà Trần đã lo củng cố và phát triển kinh tế, chăm lo đời sống cho dân. Về việc binh, ngoài số quân thường trực ít ỏi của triều đình, nhà vua cho phép các vương hầu được lập phủ binh, gia binh lấy từ số nông phu trong điền trang thái ấp của mình. Quân ấy khi thường thì giữ gìn an ninh ở địa phương, khi nước có giặc thì Nhà nước sai khiến vào việc đánh giặc, giữ nước. Ngoài ra, với chính sách “ngụ binh ư nông” đã có từ thời nhà Lý, nay vẫn duy trì, nên số quân dự bị khá đông, sẵn sàng bổ sung cho quân thường trực khi cần. Năm 1257, chúa Mông Cổ mở đợt đại tiến công vào thành trì nhà Nam Tống theo bốn hướng qua các tỉnh Tứ Xuyên, Hồ Bắc, Kinh Sơn và Nam Ninh (Quảng Tây). Nhưng quân Mông Cổ muốn đánh vào Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây) phải qua nẻo đường Đại Việt. Vì vậy năm Đinh Tỵ (1257), tướng Mông Cổ ở Vân Nam (Đại Lý) đã ba lần cử sứ vào Đại Việt. Lần thứ nhất, vào tháng 8, lần thứ hai vào tháng 9 và lần thứ ba vào tháng 11. Các viên tuyên dụ sứ Mông Cổ vào Thăng Long đòi nhà Trần phải thực hiện đầy đủ cả ba yêu sách. Bị nhà Trần khước từ, chúng buông lời mạt sát hỗn hào xâm phạm đến quốc chủ và quốc thể, nên cả ba lần, các tên chánh sứ đều bị giam trong nhà công quán.

Cả ba đoàn tuyên dụ sứ vào Thăng Long không một đoàn nào trở về. Mặt khác, lại bị triều đình thúc giục tiến đánh Ung Châu để phối hợp với các cánh quân khác, Uriyangqadai liền huy động hơn 30 ngàn quân kỵ Mông Cổ và 20 ngàn quân bộ là người Thoán – Bặc của tên vua bù nhìn Đoàn Hưng Trí lên đường vào xâm lăng Đại Việt từ ngày 12 tháng chạp năm Đinh Tỵ (17-1-1258).

Vua Trần Thái Tôn lập trận địa cản giặc tại Đồng Bình Lệ (nay thuộc Vĩnh Phúc) rồi lui quân về Thăng Long. Sau lại bỏ Thăng Long về tập kết quân đội tại vùng Mạn Trù (Hưng Yên).

Quân giặc vào Thăng Long tìm tới nhà công quán thấy ba tên chánh sứ còn đang bị trói, một tên bị trói chặt quá đã chết. Một tuần sau quân ta phản công. Lúc này, quân của Trần Hưng Đạo phối hợp với quân của các tù trưởng Hà Bổng, Hà Khuất trên vùng Lào Cai, Yên Bái đã tiêu diệt gọn 2 vạn quân Thoán – Bặc của Đoàn Hưng Trí. Tướng giặc biết được tin này nên khi quân ta phản kích, giặc hoảng hốt tháo chạy, bỏ lại Thăng Long tất cả những gì chúng vơ vét được và trên đường rút chạy, giặc không dám dừng lại cướp bóc hoặc giết chóc, không gây thiệt hại gì cho dân, nên dân gọi nó là “giặc Phật”. Và đoàn quân xâm lược ấy lúc đi có hơn 3 vạn, lúc về chỉ còn lại hơn 5 ngàn. Bị thiệt hại nặng nề, từ đó người Mông Cổ không ép ta nữa mà chỉ mơn trớn, dụ dỗ. Dò biết được tình hình quân Mông Cổ đánh Trung Hoa dữ dội, nhà Trần đi sâu vào việc tăng cường binh bị, cố kết trăm họ để giữ nước. Năm 1279, quân Mông Cổ đã hoàn toàn tiêu diệt nhà Nam Tống, đặt nền thống trị trên toàn cõi Trung Hoa, lập ra Nhà nước Đại Nguyên do Hốt Tất Liệt – cháu nội Thành Cát Tư Hãn lên ngôi hoàng đế. Lúc này, Hốt Tất Liệt rảnh tay thôn tính Đại Việt. Trước hết, y dùng sức ép, đòi nhà Trần phải thực thi 6 điều: Quân trưởng (vua Đại Việt) phải vào chầu; Kê khai hộ khẩu; Phải chịu quân dịch; Phải nộp phú thuế; Cho mượn đường sang đánh Chiêm Thành; Đặt chức Daguratri (toàn quyền), đeo hổ phù, ra vào triều đình Đại Việt và đi bất cứ nơi chốn nào trong nước mà y muốn. Xét ra nhà Trần chỉ nhận một trong sáu điều trên thì coi như nước đã mất chủ quyền. Vả lại lúc này Hốt Tất Liệt chỉ cần Đại Việt sơ sẩy điều gì trong quan hệ bang giao là y có cớ cất quân xâm chiếm ngay.

Vua tôi nhà Trần phải bàn tính, làm thế nào từ chối cả 6 điều mà vẫn tránh được can qua. Không những thế từ triều đình đến các vương hầu khẩn trương luyện tập tinh binh đề phòng bất trắc. Ngoài ra còn phải lo cất giấu lương thực để tiếp tế cho quân, lo tổ chức và huấn luyện các đội dân binh, hương binh… trăm thứ phải lo khẩn cấp như giặc đã áp sát biên thùy, nhưng lại phải che tai bịt mắt sứ giặc khiến chúng có tai như điếc, có mắt như đui.

Chỉ cần đọc lại các sự kiện lịch sử diễn ra từ 1280 đến 1285 chứ chưa phải chứng kiến, ta thấy tổ tiên ta phải nín nhịn, kể cả nhịn nhục đến mức nào để tranh thủ hòa hoãn từng ngày, nhằm có thời gian chuẩn bị mọi mặt cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Và chỉ cần đọc qua “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn cũng đủ làm ta sôi máu: “…ngó thấy sứ giặc nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ, thác mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham khôn cùng; giả hiệu Vân Nam vương mà thu bạc vàng để vét của kho có hạn”. Sứ giặc thì nghênh ngang ngay giữa triều đình của ta mà như đi vào chỗ không người, nói năng thì hỗn xược như một kẻ phàm phu say máu. Chân tay, tai mắt chúng cài cắm khắp nơi, đến nỗi họp đại hội để bàn kế đánh giặc, triều đình phải đưa về tận bến Bình Than, họp trên những chiến thuyền neo đậu giữa sông để tránh tai mắt giặc.

Trong khi đó nhà Nguyên ép ta tưởng đến nghẹt thở. Hàng ngày, sứ giặc thúc triều đình ta phải thực hiện cả 6 điều mà Hốt Tất Liệt đòi hỏi. Nhà vua phải cử quốc thúc (chú vua) là Trần Di Ái và cả một phái bộ sang Yên Kinh triều cống và bàn hòa. Hốt Tất Liệt phong cho Trần Di Ái làm An Nam Quốc vương và chức tước cho những người đi theo, tựa như đó mới là triều đình được nhà Nguyên công nhận, đương nhiên chúng coi triều đình ở Thăng Long dường như không tồn tại.

Tiếp đó, nhà Nguyên cho 5 ngàn quân hộ tống Trần Di Ái về nước chấp chính, cùng đi có chánh sứ nhà Nguyên là Sài Thung giám sát. Đây là một ngón đòn cực hiểm trong thế cuộc bang giao. Cuộc bang giao có vũ trang này, chỉ cần phía Đại Việt tiêu diệt cánh quân Nguyên và làm thương tổn đến sứ đoàn nơi biên thùy hoặc trên đất Đại Việt thì lập tức có hàng chục vạn quân Nguyên tràn ngay vào Đại Việt.

Triều đình Đại Việt vừa khôn khéo vừa quyết liệt. Nghĩa là cản không cho quân hộ vệ viên sứ giả Sài Thung và cái triều đình bù nhìn kia vào đất ta. Nhưng phải bảo vệ cho Sài Thung và sứ đoàn rồi đưa về Thăng Long thương thảo, mặt khác bắt cho bằng được Trần Di Ái và những kẻ cộng sự về trị tội.

Chúng ta đã làm tất cả, nhưng tham vọng thống trị thiên hạ của Hốt Tất Liệt là không có giới hạn. Y không cho phép một quốc gia nhỏ bé như Đại Việt được tồn tại, trong khi nước Tống rộng lớn, giàu có và đông đúc gấp cả trăm lần Đại Việt đã phải quỳ gối làm tôi người Mông Cổ. Và thế là cuối năm Giáp Thân, đầu năm Ất Dậu (cuối năm 1284, đầu năm 1285) Hốt Tất Liệt xua 50 vạn quân cùng với hàng trăm danh tướng do đích thân Thoát Hoan là con trai y chỉ huy.

Sau gần 30 năm dân chúng sống trong hòa bình, nay phải đương đầu với đội quân xâm lược cực lớn lại thiện chiến và vô cùng tàn bạo, chúng đánh nhau khắp bốn phương trời hầu như không có địch thủ. Thế nước vô cùng chao đảo, mệnh nước tưởng như sắp đứt thì Trần Kiện, cha con Trần Ích Tắc là những thân vương, nắm giữ trong tay nhiều quân tinh nhuệ lũ lượt kéo nhau ra hàng giặc.

Hai cây lim cổ thụ còn sót lại từ khu rừng được lấy gỗ làm bẫy cọc
 trong trận Bạch Đằng năm 1288 tại Yên Giang

Ảnh: Từ Khôi

Ấy vậy mà các vua nhà Trần cùng toàn quân, toàn dân muôn người như một dưới sự chỉ đạo khôn khéo và ngoan cường của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, đã vực được thế quân lên. Cuối cùng, đã đuổi được giặc ra khỏi nước, giết và bắt sống hàng chục vạn binh lính giặc. Hàng chục viên danh tướng của giặc bị giết, bị bắt, Trấn Nam Vương Thoát Hoan run sợ trên đường tháo chạy phải chui trong rọ tre ngoài bọc đồng lá để tránh tên đạn và y chịu để cho quân lính kéo lê dọc đường. Cuối tháng chạp năm trước giặc hùng hổ kéo quân vào xâm lược nước ta, giữa tháng 6 năm sau trên đất ta đã sạch bóng quân thù.

Lũ tướng bại trận kéo nhau về Yên Kinh phủ phục trước thềm đại điện chịu tội trước Hốt Tất Liệt. Chúa nhà Nguyên thật sự đau lòng, nhưng không nuốt trôi thất bại. Y chỉ quở nhẹ tướng lĩnh rồi sai lập ngay bộ chỉ huy quân sự mới, huy động thuyền bè, lừa ngựa, quân lương để đến cuối năm lại xuất chinh làm cỏ Đại Việt. Nhưng giặc già Hốt Tất Liệt không thể làm theo ý mình, bởi trời không chiều kẻ ác. Vì rằng dân Trung quốc không chịu nổi ách thống trị ngoại bang, nhiều nơi dân chúng đã nổi dậy chống lại kẻ cai trị, và cũng nhiều tỉnh phía Nam dân đói tràn lan, bọn thống trị không thu được lương thực. Và mãi tới cuối năm 1287 đầu năm 1288 giặc mới khởi sự cuộc xâm lăng nước ta. Lần này cũng vẫn số quân lớn như lần trước, cũng do hoàng tử Thoát Hoan làm Trấn Nam Vương tổng chỉ huy đội quân xâm lược. Tuy vậy, lần này có khác hơn lần trước, giặc chở theo hơn 70 vạn thạch lương và số thủy quân hơn 10 vạn, số thuyền chiến hơn 700 chiếc, mục đích của chúng là chinh phục bằng được Đại Việt.

Hai mặt thủy bộ giặc tiến ào ạt như gió lốc. Cuộc chiến năm Ất Dậu (1285) Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã hơi nao núng bèn hỏi Trần Quốc Tuấn: “Thế giặc đang cường, nếu ta không cản được, chúng sẽ tàn sát hết lương dân, hay ta tạm hòa để cứu trăm họ?”. Quốc Tuấn khảng khái đáp: “Nếu bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần”. Năm Mậu Tý (1288) giặc lại ầm ầm kéo vào, Trần Nhân Tông hỏi Quốc công Tiết chế Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: “Năm nay giặc lại đến, làm thế nào?”. Hưng Đạo Vương liền đáp: “Kim niên tặc nhàn” (năm nay đánh giặc dễ).

Thật vậy, đầu tháng giêng năm Mậu Tý (1288) giặc mới vào hết đất ta, nửa đầu tháng 3 ta đã đuổi giặc ra khỏi bờ cõi. Lần này, ta thắng tuyệt đối, đánh đắm và thu toàn bộ hơn 70 vạn thạch lương, khi giặc rút về nẻo sông Bạch Đằng có gần 10 vạn quân thủy với hơn 600 chiến thuyền bị hút vào thế trận cọc đã mai phục sẵn, nên hết thảy quân chúng đều bị bắt, bị giết. Không một tên quân, tên tướng, một chiến thuyền nào chạy thoát. Hốt Tất Liệt lại mưu toan đánh ta một lần nữa. Mưu chưa thành thì Hốt Tất Liệt lăn ra chết. Con lên nối ngôi xuống chiếu bãi việc Nam chinh. Đất nước ta từ đấy được yên hưởng hòa bình, nhưng cái họa phương Bắc thì không lúc nào nguôi vợi.

Qua ba lần chiến thắng giặc dữ Mông – Nguyên có thể rút ra những bài học quý báu:

Về mặt đối nội:

Triều đình sáng suốt, đoàn kết chặt chẽ nội bộ, cố kết toàn dân, dựa hẳn vào dân để tạo ra sức mạnh dời non lấp biển; Chăm lo đời sống cho dân về mọi mặt; Coi trọng phát triển sản xuất; xây dựng các chủng quân tinh nhuệ ngay trong thời bình; Xây dựng quân dự bị xưa gọi là “phiên binh” liên tục trên cơ sở của chính sách “ngụ binh ư nông”; Khi chiến tranh nổ ra thì thực hiện chính sách toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, vườn không nhà trống (thanh dã), không một nơi nào trên đất nước ta để giặc được ở yên.

Về đối ngoại:

Luôn luôn tôn trọng đối phương; Lấy hòa hiếu ổn định làm trọng; Vì ta là nước nhỏ nên lấy sự mềm dẻo làm chính, lấy nhu hòa làm chính. Mềm và nhu là sách lược. Cho nên mềm mà không tỏ ra yếu, nhu mà không tỏ ra nhược. Ví như kẻ địch cậy mạnh mà lấn lướt vi phạm đến quốc thể và quốc uy thì như sứ Mông Cổ ba lần vào Thăng Long năm 1257 đều bị nhà Trần tống giam, mặc dù trước đó ta đã hết sức mềm dẻo và chịu sự cống nạp. Thật vậy, nếu ta nhún nhường chỉ lùi một bước thì giặc sẽ tiến cả trăm bước; Giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc bất di bất dịch trong đối sách bang giao.

Do đường lối chính sách đúng đắn về đối nội và đối ngoại nên nhà Trần đã tạo ra được sức mạnh siêu thần nhập hóa, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc trước một kẻ thù khổng lồ và chúng chưa từng biết đến chiến bại trước khi vào xâm lăng Đại Việt.

Thiết tưởng các bài học giữ nước của nhà Trần tới nay vẫn còn nguyên giá trị.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải

daidoanket.vn