Tag Archive | UNCLOS

Biển Đông – nhìn lại năm 2013 nổi sóng

Biển Đông - nhìn lại năm 2013 nổi sóngNăm 2013 qua đi với đầy những biến động trên thế giới nói chung và ở Biển Đông nói riêng.

Năm 2013 cũng là năm đầu tiên Ban lãnh đạo mới ở Bắc Kinh thi hành chính sách cứng rắn hơn, nguy hiểm hơn trên vấn đề biển đảo nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng cường quốc biển mà Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra, làm cho tình hình Biển Đông ngày càng căng thẳng.

Tiếp tục đọc

Trung Quốc chỉ trích Mỹ vì ủng hộ giải pháp trọng tài ở Biển Đông

 Trung Quốc chỉ trích Mỹ vì ủng hộ giải pháp trọng tài ở Biển Đông(GDVN) – Ngoại trưởng John Kerry đã nói trước các nhà lãnh đạo 18 nước tham dự hội nghị thượng đỉnh Đông Á bao gồm Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường rằng tất cả các bên ở Biển Đông đều có thể tham gia quá trình giải quyết vấn đề Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trong đó có thể đưa vấn đề ra cơ quan tài phán quốc tế.

Tiếp tục đọc

Trung Quốc: thành viên lá mặt lá trái của UNCLOS

SGTT.VN – Khi đặt vấn đề cần thành lập một liên minh pháp lý với ASEAN làm nòng cốt dưới sự hậu thuẫn của Mỹ và các đồng minh, một câu hỏi được đặt ra là Trung Quốc sẽ đứng ở đâu khi nước này cũng là một thành viên phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về luật Biển (UNCLOS).

Tham gia nhưng không tuân theo

Tham gia UNCLOS nhưng không tuân theo nó, chiêu bài này của Trung Quốc đã phát huy tác động là tấm bình phong nâng cao tiếng nói cũng như tính “hợp pháp” của Bắc Kinh tại các khu vực tranh chấp. Mà về mặt chính trị, nó mang lại ba lợi ích quan trọng.

Trung Quốc đã vi phạm Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) khi đưa ra tấm bản đồ đường lưỡi bò tự phát thâu tóm hết biển Đông.

Thứ nhất, tham gia vào UNCLOS là một phần để thể hiện chính sách “trỗi dậy hoà bình” nhằm đạt được các lợi thế về ngoại giao và nâng cao uy tín của Trung Quốc trên trường quốc tế. So với các nước ASEAN, Trung Quốc quá lớn và luôn là nguy cơ đe doạ chực chờ. Để làm yên lòng những người láng giềng nhỏ bé, Trung Quốc đã từ chối sử dụng sức mạnh, tự trói buộc vào luật pháp để các nước láng giềng tin tưởng và cảm thấy yên tâm hơn. Từ sau khi gia nhập UNCLOS, Trung Quốc và ASEAN cũng bắt đầu xúc tiến xây dựng để cho ra đời DOC. Trong quá trình xây dựng DOC và từ khi DOC ra đời năm 2002 cho đến trước 2009 – thời điểm Trung Quốc chính thức tuyên bố yêu sách “đường lưỡi bò”, Biển Đông đã có một thời kỳ tương đối hoà bình và ổn định. Còn khi so với các nước lớn khác, đặc biệt là Mỹ, Trung Quốc cần thể hiện rằng mình không phải là mối lo ngại, cũng không đe doạ thay đổi trật tự do Mỹ tạo ra. Điều này không chỉ giúp Trung Quốc tránh được “chiến lược ngăn chặn” như Mỹ đã làm với Liên Xô thời chiến tranh lạnh.

Thứ hai, việc tham gia UNCLOS không có nghĩa là Trung Quốc hoàn toàn tuân thủ theo UNCLOS. Chẳng hạn như một trong những cơ sở chính để Trung Quốc đưa ra để xác định chủ quyền của mình tại các vùng tranh chấp là khái niệm về “vùng nước lịch sử”.

Khái niệm này không được đề cập trong UNCLOS, tuy nhiên nó được xác định qua thông lệ cũng như tập quán quốc tế. Theo đó, “vùng nước lịch sử” có các đặc điểm như sau (i) Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với lục địa; (ii) Ở cách xa đường hàng hải quốc tế; (iii) Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế… đối với quốc gia ven biển; (iv) Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ lâu đời mà không có nước nào phản đối. Chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử là tương đương với chế độ pháp lý của nội thuỷ. Bắc Kinh đã dựa vào điều (iv) ở trên, lập luận – như lời của phó phòng Chính sách đối ngoại thuộc vụ Châu Á của bộ Ngoại giao Trung Quốc Zheng Zhenhua – rằng “những hòn đảo trong khu vực đã có người Trung Quốc sinh sống từ thời Đông Hán (năm 23 tới năm 220 sau Công nguyên)”, và “người Trung Quốc đã thiết lập một kiểu chính phủ “giống với hiện tại” từ thời Tống (năm 420 tới năm 478 sau Công nguyên) “như là một bằng chứng cho chủ quyền không thể chối cãi của mình.

Tham gia nhưng không tuân theo, rõ ràng UNCLOS là một cái ô rất hiệu quả đối với Trung Quốc trên cả hai phương diện là tranh giành và bảo vệ lợi ích, với kỹ thuật “lộng giả thành chân”, diễn giải những điều khoản được ghi trong luật sao cho có lợi nhất.

Thứ ba, tham gia UNCLOS sẽ đảm bảo được lợi ích chắc chắn cho Trung Quốc mà không lo bị can thiệp hay giành mất lợi ích từ các nước khác, đặc biệt là Mỹ. Hiện nay, Mỹ vẫn chưa ký kết UNCLOS và theo một số nhà nghiên cứu, đó chính là nguyên nhân khiến các tranh chấp ở Biển Đông rất khó giải quyết, bởi nó thiếu một quyền lực lớn để thúc đẩy giải quyết tranh chấp theo luật. Mỹ không tham gia UNCLOS nên không thể ép Trung Quốc hành xử theo UNCLOS và cũng khó để can thiệp trực tiếp vào Biển Đông. Còn nếu Mỹ tham gia UNCLOS trong tương lai thì Trung Quốc cũng có thể dựa vào UNCLOS để yêu cầu Mỹ hành xử theo luật, từ đó giảm sức ép quân sự từ phía Mỹ và tránh được thế đối đầu trực tiếp với siêu cường. Khi Mỹ không thể can thiệp vào khu vực, Trung Quốc sẽ có thể sử dụng kết hợp cả sức mạnh và luật pháp nhằm tạo ra chiến lược liên hoàn, nhằm giành lấy các lợi ích mong muốn. Và khi thất thế hoặc mất đi sức mạnh, Trung Quốc vẫn còn một chỗ dựa về luật pháp là UNCLOS để đảm bảo cho các lợi ích lâu dài.

Rõ ràng UNCLOS là một cái ô rất hiệu quả đối với Trung Quốc trên cả hai phương diện là tranh giành và bảo vệ lợi ích, với kỹ thuật “lộng giả thành chân”, diễn giải những điều khoản được ghi trong luật sao cho có lợi nhất. Xét trên góc độ lịch sử, các cường quốc vào thời điểm này hay thời điểm khác đều cố gắng tận dụng triệt để các thiết chế luật pháp quốc tế theo lợi ích riêng. Từ Tây Ban Nha, Anh ở thời kỳ phát kiến địa lý cho đến Mỹ trong một thế kỷ trở lại đây, đều cố gắng sử dụng ảnh hưởng của mình để tạo ra các khung thiết chế có lợi, hoặc tiến hành chỉnh sửa lại các thiết chế đó theo một cách riêng. Trung Quốc hiện nay không thể tạo ra luật mới do họ đang trong một bối cảnh thế giới đan xen lợi ích chồng chéo, với Mỹ vẫn đang là cường quốc số một. Việc phải tuân thủ luật chơi chung để không bị cô lập là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, với tinh thần dân tộc bị thổi phồng, não trạng nước lớn, Bắc Kinh khó có thể để những điều luật đó kiểm soát hành vi, và họ chắc chắn sẽ tìm cách này hay cách khác nhằm “biến hoá” những thiết chế luật đó cho phù hợp với hoàn cảnh và mục đích. Diễn giải sai lệch sẽ là phương pháp hữu hiệu đối với Bắc Kinh trong thời điểm hiện nay. Và UNCLOS là thí dụ điển hình.

Để không ai có thể lợi dụng UNCLOS

Chưa bao giờ như lúc này Việt Nam cần chỉ rõ cho thế giới thấy lý lẽ của chúng ta. Cũng chưa bao giờ như lúc này Việt Nam cần cho thế giới thấy cách tiếp cận của ta là khác Trung Quốc, theo nghĩa ta muốn giải quyết hoà bình, chứ không muốn làm vấn đề thêm nghiêm trọng. Lẽ phải chỉ trở thành nhận thức khi nó được truyền đạt qua những kênh thông tin hiệu quả. Trên hết nên tránh chỉ đề cập những điểm chung chung, chiến lược tuyên truyền hay “phản tuyên truyền”. Trước những quan điểm hay bằng chứng sai lệch của Trung Quốc, cần đi vào những điểm hết sức cụ thể, dựa trên hệ thống lập luận và dẫn chứng chuẩn sát, phù hợp với chuẩn mực và tập quán chung của cộng đồng thế giới. Có hai điểm cần bàn đến theo thứ tự trước sau. Một là thống nhất lại cách hiểu về quy chế pháp lý đảo tại vùng tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa, để phân định ra vùng tranh chấp, và vùng hoàn toàn không tranh chấp. Qua đó chỉ rõ cho công luận quốc tế rằng cách lựa chọn của Trung Quốc về pháp lý đảo ẩn giấu đằng sau đó những toan tính chính trị “biến không thành có” làm phức tạp thêm tình hình. Hai là chuẩn bị một hệ thống bằng chứng chủ quyền lãnh thổ các đảo ở hai vùng đảo. Các tài liệu hay bằng chứng này cần được chuyển ngữ dần dần sang tiếng Anh để làm nguồn khảo cứu quan trọng cho các tranh cãi pháp lý sau này.

Không thể để một bên nào đó sử dụng UNCLOS hay bất kỳ công cụ pháp lý nào khác để tạo tính chính danh, định hướng và lôi kéo dư luận quốc tế về một hướng. Nhất là khi chiều hướng đó lại sai lệch và mang nhiều áp kiến chủ quan.

NGUYỄN CHÍNH TÂM – VŨ THÀNH CÔNG – NGUYỄN THẾ PHƯƠNG
sgtt.vn

Kiểu suy diễn vô lý của yêu sách về đường lưỡi bòCùng với việc tuyên bố chủ quyền với các đảo và quần đảo trong “vùng nước lịch sử” – một khái niệm vốn không được đề cập trong UNCLOS, Trung Quốc còn yêu sách cho tất cả các đảo, đá và quần đảo này “của mình” có đầy đủ chế độ của lãnh thổ đất liền. Theo đó, tất cả các đảo, đá và quần đảo của Trung Quốc đều có lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế EEZ, mà không phân biệt đảo, đá đó phù hợp quy định chế độ đảo của UNCLOS hay không. Theo UNCLOS, chỉ những đảo phù hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng chế độ pháp lý của đảo như lãnh thổ đất liền. Còn về quần đảo thì UNCLOS không diễn giải. Nhưng điểm đáng lo ngại ở đây là, theo lập luận của Trung Quốc, nếu trong vùng đặc quyền kinh tế của các đảo đó có một đảo khác, thì đảo này sẽ thuộc chủ quyền của Trung Quốc và lại tiếp tục được hưởng chế độ pháp lý đảo như lãnh thổ đất liền. Việc “nối chủ quyền” này đã dẫn tới kết quả là không chỉ những đảo của các nước khác nằm trong khu vực 200 hải lý xung quanh các đảo của Trung Quốc sẽ bị Trung Quốc coi là đảo của mình một cách trắng trợn, hơn thế nữa, ranh giới đường lưỡi bò cũng sẽ được mở rộng hơn 80% Biển Đông và thậm chí chỉ cách một số bờ biển của các nước Philippines, Việt Nam… vài chục kílômét. Trung Quốc đang một mặt thì yêu cầu các nước khác tuân thủ UNCLOS, mặt khác thì kết hợp việc diễn giải sai lệch và không tuân thủ UNCLOS với các ấn phẩm và các nghiên cứu Biển Đông không chính xác đang tràn ngập trên thế giới, nhằm tạo ra cơ sở pháp lý và tính chính danh cho các hành động yêu sách chủ quyền của mình trên Biển Đông.

Hành động bành trướng chủ quyền phải chấm dứt!

Tác giả: CAITLYN L. ANTRIM VÀ GEORGE GALDORISI

Những hành động quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông đang khiến mọi người lo ngại rằng quốc gia này đang tìm kiếm bá quyền trên lưng những người hàng xóm của mình ở Đông Nam Á cũng như trên lưng Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Trung Quốc đang có những hành động nhanh chóng và tuyên bố mơ hồ về chủ quyền trên và quanh Biển Đông. Mỹ có thể giúp giải quyết tình hình bằng cách tham gia Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Tiếp cận và sử dụng những lĩnh vực chung toàn cầu, đặc biệt là trên biển và trên vũ trụ là một yếu tố chủ chốt của sức mạnh quân sự và thương mại Mỹ.

Trong những thời điểm xảy ra chiến tranh, việc kiểm soát những lĩnh vực chung này có thể được thực hiện bằng các biện pháp quân sự.

Trong thời bình, nó được bảo đảm thông qua phản ứng quân sự có giới hạn khi những qui định về việc sử dụng những lợi ích chung bị xâm phạm. Trong một số trường hợp, một biến cố thời bình có thể nhanh chóng dẫn tới việc tái khẳng định sự tự do truyền thống trên biển.

Trong những trường hợp khác, nỗ lực kết hợp hơn, phối hợp giữa ngoại giao với biểu dương lực lượng, có thể là cần thiết để quay trở lại tuân thủ những chuẩn mực quốc tế. Sự kết hợp thứ hai có vẻ là hiệu quả hơn nếu áp dụng với Trung Quốc và Biển Đông.

Như Patrick Cronin và Paul Giarra gần đây đã nói: “Sự khẳng định của Trung Quốc với khu vực đang tăng lên nhanh chóng nhờ sức mạnh nội lực và phương thức triển khai sức mạnh. Những động cơ không mấy thân thiện của Bắc Kinh có vẻ như muốn mọi người chú ý tới việc Trung Quốc đang không tham gia vào Những giá trị chung toàn cầu.”

Mô hình tàu sân bay của Trung Quốc.

Mặc dù không phải là một biểu hiện mới, nhưng những hành động quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Đông đang khiến mọi người lo ngại rằng quốc gia này đang tìm kiếm bá quyền trên lưng những người hàng xóm của mình ở Đông Nam Á cũng như trên lưng Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Thách thức của Trung Quốc với những qui chuẩn quốc tế về luật biển liên quan tới quyền tự do trên biển là một việc không hề đơn giản. Biển Đông, với diện tích gần 650.000 dặm vuông, là nơi có tuyến đường biển đông đúc thứ hai trên thế giới, nối liền với Eo Singapore ở phía nam, và mũi phía bắc Đài Loan ở phía bắc, là nơi tiếp giáp với Trung Quốc, Đài Loan, Philippine, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, và Việt Nam. Theo báo cáo năm 2006 “gần 50% lượng dầu thô, và 66% lượng khí đốt tự nhiên của thế giới cùng 40% thương mại toàn cầu đi qua vùng biển này.

Quyền tự do đi lại không chỉ là vấn đề quan trọng đối với khu vực. Năng lượng là một vấn đề, vì đáy biển được cho là có chứa dầu và khí, tạo ra quyền về lợi ích kinh tế của các quốc gia ven biển và lợi ích an ninh với lĩnh vực công nghiệp đang khát tài nguyên và năng lượng của Trung Quốc.

Những yếu tố chiến lược và kinh tế ở Biển Đông đã dẫn tới những tranh chấp chủ quyền và việc kiểm soát khoáng sản cũng như các hoạt động ở đó. Là một cường quốc toàn cầu với những lợi ích trong khu vực này, Mỹ phải phối hợp với các bạn bè, đồng minh và đối tác, bao gồm cả Trung Quốc, để bảo vệ quyền của mình theo luật pháp quốc tế.

Vùng biển với những căng thẳng

Với vị thế chiến lược và giá trị tiềm năng của các nguồn năng lượng, Biển Đông đã trở thành một vùng căng thẳng và xung đột cho cả các quốc gia ven biển và cho nước Mỹ. Theo dữ liệu của Hội đồng thông tin năng lượng Mỹ trong giai đoạn 1974-2001 có:

  • 4 cuộc xung đột vũ trang trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, dẫn tới thương vong của 88 binh sĩ
  • 8 biến cố, kể cả nổ súng giữa các tàu chiến Trung Quốc và tàu chiến Philippines
  • Ba biến cố giữa Việt Nam và Philippines
  • Một biến cố giữa Philippines và Malaysia, và một biến cố giữa Đài Loan và Việt Nam.

Bên cạnh những biến cố này là những va chạm giữa Mỹ và Trung Quốc, bao gồm cả vụ va chạm hồi tháng 4/2001 giữa một máy bay phản lực Trung Quốc và máy bay EP-3E Aries II của Hải quân Mỹ khi máy bay EP-3E đang bay tuần trên Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) khoảng 70 hải lý từ căn cứ tàu ngầm lớn của Trung Quốc trên đảo Hải Nam, phía Tây Bắc đảo Hoàng Sa, dẫn tới việc máy bay phản lực của Trung Quốc bị rơi xuống biển, phi công chết, và máy bay của Mỹ phải hạ cánh khẩn cấp xuống đảo Hải Nam.

Năm 2009, tàu USNS Impeccable (T-AGOS-23) đã bị quấy rối khi đang tiến hành hoạt động cảnh giới ở vùng biển quốc tế, cũng cách hơn 70 hải lý từ đảo Hải Nam.

Những biến cố tương tự liên quan tới tàu USNS Bowditch (T-AGS-62), năm 2001 và 2002 ở vùng Đặc quyền kinh tế của Trung Quốc trên Biển Hoàng Hải.

Điểm chung của hầu hết các cuộc đụng độ, va chạm này là quan niệm của Trung Quốc về an ninh quốc gia và trách nhiệm quốc tế. Bắc Kinh tự coi mình đang cạnh tranh với các quốc gia láng giềng về việc kiểm soát các nguồn năng lượng dưới đáy biển Biển Đông. Với Mỹ, Trung Quốc coi đây là một lực lượng mạnh có thể đe dọa những lợi ích của họ cả khi là một đối thủ đơn lẻ hay khi phối hợp với các quốc gia láng giềng trên Biển Đông.

Những tuyên bố của Trung Quốc đối với những nguồn tài nguyên này dựa một phần vào những tuyên bố lịch sử được phác họa trên một bản đồ trong đó có 9 đường đứt đoạn ám chỉ mức độ nào đó quyền lợi với hầu như toàn bộ vùng biển trong khu vực (một tuyên bố tương tự đã được Đài Loan đưa ra).

Với hoạt động của Hải quân Mỹ, Trung Quốc đã cho rằng Công ước về Luật biển Quốc tế năm 1982 nghiêm cấm hoạt động quân sự của nước ngoài trong vùng Đặc quyền kinh tế của mỗi nước, một nội dung không hề có trong công ước. Trung Quốc đã gia tăng sự bành trướng bằng tuyên bố rằng việc kiểm soát Biển Đông và những nguồn tài nguyên ở đó là lợi ích cốt lõi của quốc gia tương tự như những gì Bắc Kinh tuyên bố với Tây Tạng, Đài Loan và Tân Cương.

Tuy nhiên, tuyên bố của Trung Quốc là rất mơ hồ. Liệu đường đứt đoạn 9 vạch có thể hiện tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông và vùng đáy biển, hay nó chỉ áp dụng với những hòn đảo và vùng biển ở chính những vạch này? Liệu những tuyên bố có thực sự là “lợi ích cốt lõi”, hay chúng chỉ là điểm khởi đầu cho việc đàm phán phân chia vùng đáng cá và khai thác nguồn năng lượng trong khu vực?

Những lập luận và hành động của Trung Quốc phản ánh quan điểm khu vực của Bắc Kinh và việc nó sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để tranh giành những lợi ích khu vực. Việc này đang thay đổi khi Trung Quốc đang ngày càng phải dựa vào những tuyến đường biển xa để có được những nguyên liệu chiến lược và cực kỳ quan trọng, đặc biệt là năng lượng từ Vịnh Pécxích, khoáng sản từ Châu Phi, và gần đây là những nguồn tài nguyên ở Bắc Cực. An ninh của những tuyến đường biển đang trở thành một phần trong quan điểm chiến lược về thế giới của Bắc Kinh.

Trung Quốc đã tham gia các cuộc tuần tra chống cướp biển trên Vịnh Ađen. Bắc Kinh cũng vận hành một tàu phá băng ở Bắc Cực, đảm trách vai trò quan sát viên trong Hội đồng Bắc Cực, và đã tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại với những người dân bản xứ ở Canađa. Có vẻ như người Trung Quốc đang theo đuổi hai chính sách khác nhau và xung khắc nhau: kiểm soát vùng biển khu vực bên ngoài những vùng lãnh hải của họ và việc tự do đi lại trên những vùng biển khu vực và vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển khác. Những hành động của Trung Quốc nhằm bá quyền khu vực cũng rất mơ hồ. Bắc Kinh đã đảm nhận vai trò quan sát viên trong Hội đồng Bắc Cực đồng thời cũng tìm cách làm giảm vai trò của Mỹ trong mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN.

Những vấn đề khu vực và luật quốc tế

Trong khi Mỹ và Trung Quốc đối đầu với nhau về những hoạt động trên biển trong Vùng đặc quyền kinh tế, thì phần còn lại của khu vực phải giải quyết được mê cung của những tuyên bố chồng lấn đối với nguồn tài nguyên trên Biển Đông. Trung Quốc đã nỗ lực mở rộng quyền của mình trên biển và dưới đáy biển, đôi khi bằng lực lượng. Những quốc gia láng giềng nhỏ hơn phải dựa vào những phản đối ngoại giao và phản ứng quân sự có giới hạn và việc sử dụng áp lực quốc tế phù hợp với luật quốc tế và việc ngăn cấm xâm lược.

Tất cả các quốc gia ven biển trong khu vực là thành viên của UNCLOS, vì thế đó là cơ sở pháp lý chung cho việc xác định quyền chủ quyền ở Biển Đông. Dù Mỹ vẫn chưa tham gia công ước, nhưng Oasinhtơn áp dụng tuyên bố của cựu Tổng thống Ronald Reagan năm 1983 trong đó ông nói rằng nước Mỹ áp dụng các điều khoản về hàng hải, Vùng đặc quyền kinh tế, và thềm lục địa trong sự nhân nhượng lẫn nhau với các quốc gia khác. Công ước giải quyết được cả hai vấn đề cốt lõi liên quan tới các hoạt động ở EEZ.

Hàng hải trong EEZ: Các quốc gia ven biển có quyền kiểm soát nguồn hải sản và tài nguyên thiên nhiên trong khi quyền đi lại ở những vùng biển xa vẫn được bảo đảm cho các tàu thuyền và máy bay. Máy bay cảnh giới quân sự cũng được phép hoạt động trên EEZ; việc cảnh giới chỉ bị cấm trong vùng lãnh hải các quốc gia.

Quyền chủ quyền trong EEZ và Thềm lục địa: Công ước thừa nhận những đặc quyền đối với nguồn hải sản và khoáng sản trong EEZ tính từ bờ biển và những đảo có thể sống được (có người sinh sống).

Những đảo không thể sống được (không có người sinh sống) thì không có EEZ, chỉ có vùng biển 12 dặm bao quanh. Những tranh chấp việc kiểm soát các nguồn tài nguyên trên Biển Đông tập trung chủ yếu vào tranh chấp các đảo và quyền chủ quyền trong những vùng EEZ quanh đảo, và tranh chấp về việc liệu chúng chỉ là những vùng đá nhô lên hay là đảo. Những tuyên bố của Trung Quốc và của một số quốc gia khác đôi khi là phi lý nếu xem xét tới yếu tố lịch sử và có thể sống được.

Những quan điểm xung đột nhau của Trung Quốc

Những nỗ lực nhằm mở rộng quyền kiểm soát của Trung Quốc đối với vùng Biển Đông đã vi phạm UNCLOS. Những ví dụ về việc vi phạm của Trung Quốc bao gồm:

  • Tuyên bố rằng các máy bay quân sự không có quyền bay trên các EEZ: việc bay trên EEZ đã được thừa nhận trong công ước, và máy bay cảnh giới quân sự không phải là một ngoại lệ
  • Ngăn chặn các tàu của chính phủ Mỹ khi chúng hoạt động bên ngoài phạm vi 12 hải lý lãnh hải, đáng chú ý là việc ngăn chặn tàu USNS Impeccable và tàu USNS Bowditch vì chúng “đang hoạt động trong vùng Đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.
  • Tuyên bố rằng những hòn đảo không có người sinh sống ở Hoàng Sa và Trường Sa đã có thể sống được, vì thế Trung Quốc có thể tuyên bố chúng là những đảo có vùng đặc quyền kinh tế lên tới 200 hải lý, và việc tham gia vào những chiến dịch quân sự để giành quyền kiểm soát các đảo đá từ tay các nước khác trong khu vực.

Lý lẽ biện minh cho những hành động này của Trung Quốc là rất khó chấp nhận, cho dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ở Biển Đông, thậm chí còn khó chấp nhận hơn.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Đô đốc Mike Mullen gần đây đã nói rằng: “Những hành động đầu tư mạnh mẽ gần đây của Trung Quốc vào khả năng viễn chinh trên biển và những loại máy bay hiện đại dường như không nằm trong mục tiêu được tuyên bố là phòng thủ đất nước của Bắc Kinh.”

Trong khi đó Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates lên án các sĩ quan quân sự hàng đầu Trung Quốc đã không tuân thủ các chính sách mà những nhà lãnh đạo cấp cao của họ đã vạch ra nhằm phát triển những lĩnh vực khác của mối quan hệ Mỹ – Trung Quốc.

Là một quốc gia rộng lớn và ngày càng công nghiệp hóa, Trung Quốc rất quan tâm tới vấn đề tiếp cận các nguồn nguyên liệu chiến lược và thiết yếu, đặc biêt là dầu lửa và khí đốt cũng như các nguồn nguyên liệu cho công nghiệp. Về ngắn hạn, Trung Quốc có thể đưa những mối quan tâm trong khu vực lên là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, khi quốc gia này lớn mạnh và trở thành một cường quốc kinh tế toàn cầu, nó sẽ nhận ra rằng tự do hàng hải và tự do bay trên khắp thế giới là cần thiết đối với an ninh của mình.

Sự phụ thuộc ngày càng tăng vào những tuyến đường biển để nhập khẩu dầu thô và khoáng sản cũng như việc tiếp cận các thị trường xuất khẩu sẽ thúc đẩy việc chuyển trọng tâm ưu tiên sang sự cơ động toàn cầu thay vì kiểm soát toàn bộ vùng biển trong vùng.

Một lý do chính khiến Trung Quốc ủng hộ UNCLOS là điều khoản “tuyến trung chuyển” theo đó khẳng định việc tự do đi lại của các tàu thương mại và tàu chiến đang ngày càng cần thiết để hộ tống họ qua Eo biểnsingapore và Malacca, Eo Hormuz, và những nút cổ chai khác mà các con tàu nhập khẩu quan trọng của họ phải đi qua.

Vai trò của Mỹ trên Biển Đông

Những quan tâm của Trung Quốc về quyền đối với vùng Biển Đông đã được chỉ rõ trong bản đồ “chín đoạn” vốn bao trọn toàn bộ những vùng biển quốc tế và những vùng thuộc EEZ của các quốc gia khác trong khu vực. Việc đưa ra tuyên bố này, vốn xâm hại nghiệm trọng các tuyên bố chủ quyền của các quốc gia ven biển khác trong khu vực, đã tạo ra tình huống trong đó Mỹ có vai trò cân bằng năng lực hải quân khu vực ngày càng tăng của Trung Quốc.

Trong chuyến thăm Hà Nội năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã đề cập tới những tranh chấp và nhấn mạnh sự cần thiết có một giải pháp khu vực. Dù có vẻ như Trung Quốc muốn giải quyết vấn đề này với từng quốc gia riêng rẽ trong khu vực, cách tiếp cận đa phương được các quốc gia nhỏ hơn lựa chọn và nó tốt hơn với việc cân bằng sức mạnh ngày một tăng của Trung Quốc. Ý thức được vấn đề này, Trung Quốc đã phản đối việc Ngoại trưởng Clinton ủng hộ cho cách tiếp cận đa phương. Tuy nhiên, cuối cùng lợi ích của việc phát triển kinh tế và trầm tích dầu lửa và khí đốt trong khu vực phụ thuộc vào một giải pháp khu vực thỏa đáng giữa các quốc gia biển. Mỹ quan tâm tới việc bảo đảm rằng một tiến trình hòa bình dẫn tới một giải pháp thỏa đáng được thực thi.

Mỹ phụ thuộc vào sự ủng hộ của các thành viên ASEAN để duy trì hoạt động hiệu quả trên Biển Đông, vì thế phản ứng của nước này với Trung Quốc phải tôn trọng lợi ích và mối quan tâm của khu vực. Dù Mỹ được nhiều quốc gia thành viên coi là một người bạn, nhưng họ cũng biết rằng có những lúc lợi ích của họ là khác xa những lợi ích của Mỹ. Oasinhtơn không thể coi sự ủng hộ của các quốc gia này là điều hiển nhiên. Nếu làm như vậy có thể làm suy yếu những phản ứng chung trước sự bành trướng của Trung Quốc; nó có thể khiến những sáng kiến biển đa phương khác gặp rủi ro, như Sáng kiến an ninh phổ biến và Nghị quyết chống cướp biển của Hội đồng Bảo an LHQ.

Các quốc gia thành viên ASEAN phải được bảo đảm rằng Mỹ sẽ tạo ra sự cân bằng với cường quốc ngày một mạnh lên đó mà không trở thành một mối đe dọa tới lợi ích của họ. Mỹ có thể chứng minh điều này bằng cách nhấn mạnh rằng hành động của mình sẽ phù hợp với UNCLOS. Chỉ khi những hành động của Mỹ phù hợp với công ước, các quốc gia ASEAN mới cảm thấy yên tâm trong các hoạt động trên biển của Mỹ trong khu vực, và Trung Quốc sẽ biết rằng có những giới hạn ràng buộc các hoạt động của Mỹ trong khu vực.

Trong khi sự niềm tin đối với cam kết của Mỹ theo công ước hiện không được đề cao vì vị thế không phải là thành viên của công ước, việc này có thể vượt qua bằng cách hoàn tất những nỗ lực của chính quyền trước nhằm bảo đảm sự tư vấn và đồng thuận của Thượng viện trong việc tham gia công ước và sau đó đệ trình phê chuẩn công ước này.

Tương lai sẽ như thế nào?

Với cố gắng gia tăng sự kiểm soát và rộng chủ quyền của mình trên Biển Đông bằng cách áp dụng cơ sở pháp lý trong nước với những vùng biển quốc tế, Trung Quốc đã tạo ra xung đột với các quốc gia láng giềng và vi phạm UNCLOS. Những tuyên bố của Trung Quốc không chỉ đơn thuần đe dọa việc đi lại trên Biển Đông. Chúng còn là mối đe dọa đối với những lĩnh vực chung toàn cầu và với luật pháp quốc tế vốn đã được phát triển để bảo vệ quyền lợi của các quốc gia ven biển và những quốc gia ở xa biển trên thế giới.

Những nỗ lực nhằm tranh giành những lợi ích cục bộ của Trung Quốc là rất thiển cận. Bắc Kinh đang phát triển trở thành một cường quốc toàn cầu với những lợi ích của chính mình trong việc tiếp cận và sử dụng những lĩnh vực chung toàn cầu. Trên thực tế sự cân bằng giữa những lợi ích ven biển và mối quan tâm biển xa giờ đây có thể đang trong quá trình hướng tới cái thứ hai. Gail Harris, viết cuốn Nhà ngoại giao rằng: “Những nhà chiến lược Trung Quốc giờ đây cũng tin rằng để bảo vệ sự phát triển kinh tế của mình, họ phải duy trì an ninh những tuyến đường hàng hải, thứ đòi hỏi một lực lượng hải quân đủ mạnh, hoạt động tốt ở không chỉ những vùng biển ven bờ.”

Với việc cảnh giới ở EEZ, Trung Quốc có thể trở nên quen với sự giám sát của Mỹ như nước Mỹ đã làm trong thời Chiến tranh Lạnh khi giám sát các “tàu đánh cá” của Liên Xô bên ngoài vùng biển của họ. Nhiều khả năng Trung Quốc sẽ giám sát việc đến và đi của Mỹ và các tàu chiến khác từ những trạm bên ngoài lãnh hải của các quốc gia khác bằng cách sử dụng những hạm đội tàu ngầm hiện đại hoạt động không cần không khí, và rất ít phát ra âm thanh.

Về lâu dài, những lợi ích toàn cầu ngày một tăng của Trung Quốc sẽ dẫn tới việc Bắc Kinh ủng hộ những tự do hàng hải tương tự vốn đã được các quốc gia thương mại toàn cầu khác đấu tranh. Cho tới khi đó, Mỹ phải bảo vệ các quyền tự do hàng hải theo đúng Luật Biển bằng cách tiếp tục chứng minh việc tuân thủ nó. Mỹ đồng thời cũng phải ủng hộ nỗ lực của các quốc gia ven biển nhằm đạt tới sự phân chia công bằng EEZ và thềm lục địa.

Chiến lược rộng hơn của Mỹ với Biển Đông phải theo ba tiêu chí. Thứ nhất, bảo vệ các quyền tự do hàng hải thông qua cả ngoại giao và biểu dương lực lượng. Thứ hai, làm việc với Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc để giúp lực lượng này nhận ra rằng lợi ích lâu dài của Trung Quốc trong việc tự do hàng hải còn quan trọng hơn nhiều đối với an ninh quốc gia của họ so với những nỗ lực ngắn hạn nhằm giành quyền kiểm soát việc đi lại trong EEZ. Thứ ba, thúc đẩy nghị quyết khu vực và những tuyên bố quyền chủ quyền đối với các đảo và tài nguyên dưới đáy biển của Biển Đông dựa trên các điều khoản của UNCLOS.

Để đạt được điều này, Mỹ cũng phải thừa nhận rằng tầm ảnh hưởng khu vực phụ thuộc không chỉ vào sức mạnh mà còn vào việc thực thi đúng đắn, như Giáo sư Barry Posen đã nói:

“Việc kiểm soát những lĩnh vực chung sẽ tạo thêm ảnh hưởng và cho thấy sự hiệu quả hơn so với sức mạnh quân sự, nếu những quốc gia khác được thuyết phục rằng Mỹ quan tâm nhiều tới việc kiềm chế sự hiếu chiến trong khu vực hơn là giành được sự thống trị trong khu vực.”

Một điều rất quan trọng là phải ghi nhớ rằng những bạn bè và đồng minh của Mỹ không muốn thấy Mỹ có vai trò toàn quyền trên Biển Đông. Với họ, UNCLOS là rất quan trọng để cân bằng sự can dự của Mỹ cân bằng với các lợi ích khu vực. Nếu Mỹ không chấp nhận những bổn phận và giới hạn của công ước cũng như các quyền của mình, thì vị thế của họ, ngay cả với các đồng minh, sẽ bị giảm sút.

Thay vì việc thừa nhận những điều khoản liên quan tới hàng hải, EEZ, và thềm lục địa của Tổng thống Reagan, uy tín của nước Mỹ như một nước tuân thủ nghiêm nhất luật pháp quốc tế đang bị suy yếu bởi thất bại của Oasinhtơn trong việc tham gia UNCLOS. Việc tham gia sẽ củng cố sự lãnh đạo của Mỹ trên biển, và sẽ giúp bảo vệ lợi ích của các bên trên Biển Đông.

Chính sách của Mỹ là, và nên vẫn, thể hiện và yêu cầu tuân thủ những quyền hàng hải và quyền bay và thúc đẩy giải pháp khu vực cho vấn đề quyền chủ quyền lãnh thổ và tài nguyên được xác định trong UNCLOS. Một yếu tố quan trọng của chiến lược này là cho nước Mỹ tham gia và công ước và tái thiết lập vị thế nhà vô địch trong tuân thủ luật quốc tế trên biển khi chúng ta được tận hưởng những quyền được UNCLOS thừa nhận

Hồng Cường dịch từ Tạp chí Proceedings, số 4/2011

tuanvietnam.vietnamnet.vn