Tag Archive | Văn kiện pháp lý

Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý…

(Quốc phòng) – “Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” nằm trong Tủ sách “Biển đảo Việt Nam” tập hợp các công trình nghiên cứu, bài báo và tư liệu về chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông, đặc biệt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành vào cuối năm 2011, sau sự việc Trung Quốc ngang nhiên cắt cáp tàu thăm dò dầu khí Bình Minh 02 và Viking II đang làm nhiệm vụ trong khu vực đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.

Tiếp tục đọc

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông bằng pháp lý: Những việc cần phải làm ngay

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông bằng pháp lý: Những việc cần phải làm ngay(GDVN) – “Xây dựng khẩn trương và sớm công bố bộ hồ sơ pháp lý chủ quyền Biển Đông là rất cần thiết, nhưng đồng thời cũng phải nhấn mạnh rằng để có một bộ hồ sơ pháp lý không phải chuyện dễ dàng có thể làm xong một sớm một chiều, mà là cả một quá trình nỗ lực, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan theo sự chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt, và xin nhấn mạnh rằng việc này cần phải làm ngay, càng sớm càng tốt”. TS Trần Công Trục nhấn mạnh.

Tiếp tục đọc

Hồ sơ pháp lý chủ quyền Biển Đông, thời cơ ngàn năm có một

Hồ sơ pháp lý chủ quyền Biển Đông, thời cơ ngàn năm có một (GDVN) –  “Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế là một biện pháp hòa bình, văn minh, đúng luật. Do đó việc chuẩn bị một bộ hồ sơ pháp lý, một mặt để chứng minh và bảo vệ chủ quyền của ta ở Biển Đông, mặt khác bác bỏ những tuyên bố, yêu sách vô lý và sai trái của các bên tranh chấp, là hoàn toàn cần thiết và rất cần được tiến hành ngay”. TS Trần Công Trục cho biết.

Tiếp tục đọc

Luật biển Việt Nam 2012

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII tại phiên họp cuối ngày 21-6-2012 của kỳ họp thứ ba đã bỏ phiếu thông qua Luật Biển với số phiếu tán thành là 495/496.

Luật Biển Việt Nam có bảy chương, 55 điều với việc xác định chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… được ghi ngay trong điều 1. Luật Biển bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-1-2013.

Đây là một sự kiện lớn, một tin vui lớn, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình phát triển đất nước hiện nay, thỏa mãn tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Luật Biển là một văn kiện pháp lý vô cùng quan trọng và cần thiết của đất nước ta để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển quốc gia, tạo cơ sở và hành lang pháp lý cao nhất cho mọi công việc sử dụng, khai thác và bảo vệ vùng biển nước nhà.

Những nội dung chính của Luật Biển Việt Nam

Luật Biển Việt Nam gồm có bảy chương, 55 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2013.

Chương 1 gồm các quy định chung về phạm vi điều chỉnh, định nghĩa.

Chương 2 quy định về vùng biển Việt Nam với các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đảo, quần đảo…

Chương 3 quy định về hoạt động trong vùng biển Việt Nam, trong đó có các quy định: đi qua không gây hại trong lãnh hải, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại, vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải, tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam, trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam, hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, quyền tài phán hình sự và dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài, quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài…

Chương 4 của Luật Biển Việt Nam dành cho phát triển kinh tế biển, với các điều khoản về nguyên tắc phát triển kinh tế biển, các ngành kinh tế biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, xây dựng và phát triển kinh tế biển, khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển.

Chương 5 của Luật quy định về tuần tra, kiểm soát trên biển với các điều khoản về lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển, nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển, cờ, sắc phục và phù hiệu.

Chương 6 quy định về xử lý vi phạm. Chương này bao gồm các điều khoản về dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm, biện pháp ngăn chặn, thông báo cho Bộ Ngoại giao và xử lý vi phạm.

Chương 7 quy định về điều khoản thi hành.

_________________________________________________________

Toàn văn Nội dung Luật Biển Việt Nam:

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Quốc Hội

LUẬT BIỂN VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật biển Việt Nam.

CHƯƠNG I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo.

Điều 2. Áp dụng pháp luật

1. Trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của Luật này với quy định của luật khác về chủ quyền, chế độ pháp lý của vùng biển Việt Nam thì áp dụng quy định của Luật này.

2. Trường hợp quy định của Luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Vùng biển Việt Nam bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, được xác định theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế về biên giới lãnh thổ mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2. Vùng biển quốc tế là tất cả các vùng biển nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và các quốc gia khác, nhưng không bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

3. Tàu thuyền là phương tiện hoạt động trên mặt nước hoặc dưới mặt nước bao gồm tàu, thuyền và các phương tiện khác có động cơ hoặc không có động cơ.

4. Tàu quân sự là tàu thuyền thuộc lực lượng vũ trang của một quốc gia và mang dấu hiệu bên ngoài thể hiện rõ quốc tịch của quốc gia đó, do một sĩ quan hải quân phục vụ quốc gia đó chỉ huy, người chỉ huy này có tên trong danh sách sĩ quan hay trong một tài liệu tương đương; được điều hành bởi thuỷ thủ đoàn hoạt động theo các điều lệnh kỷ luật quân sự.

5. Tàu thuyền công vụ là tàu thuyền chuyên dùng để thực hiện các công vụ của Nhà nước không vì mục đích thương mại.

6. Tài nguyên bao gồm tài nguyên sinh vật và tài nguyên phi sinh vật thuộc khối nước, đáy và lòng đất dưới đáy biển.

7. Đường đẳng sâu là đường nối liền các điểm có cùng độ sâu ở biển.

Điều 4. Nguyên tắc quản lý và bảo vệ biển

1. Quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.

3. Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Điều 5. Chính sách quản lý và bảo vệ biển

1. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển.

2. Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

3. Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển bền vững các vùng biển phù hợp với điều kiện của từng vùng biển và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; tăng cường thông tin, phổ biến về tiềm năng, chính sách, pháp luật về biển.

4. Khuyến khích và bảo vệ hoạt động thủy sản của ngư dân trên các vùng biển, bảo hộ hoạt động của tổ chức, công dân Việt Nam ngoài các vùng biển Việt Nam phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia ven biển có liên quan.

5. Đầu tư bảo đảm hoạt động của các lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên biển, nâng cấp cơ sở hậu cần phục vụ cho các hoạt động trên biển, đảo và quần đảo, phát triển nguồn nhân lực biển.

6. Thực hiện các chính sách ưu tiên đối với nhân dân sinh sống trên các đảo và quần đảo; chế độ ưu đãi đối với các lực lượng tham gia quản lý và bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo.

Điều 6. Hợp tác quốc tế về biển

1. Nhà nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi.

2. Nội dung hợp tác quốc tế về biển bao gồm:

a) Điều tra, nghiên cứu biển, đại dương; ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ;

b) Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống và cảnh báo thiên tai;

c) Bảo vệ đa dạng sinh học biển, hệ sinh thái biển;

d) Phòng chống ô nhiễm môi trường biển, xử lý chất thải từ hoạt động kinh tế biển, ứng phó sự cố tràn dầu;

đ) Tìm kiếm, cứu nạn trên biển;

e) Phòng, chống tội phạm trên biển;

g) Khai thác bền vững tài nguyên biển, phát triển du lịch biển.

Điều 7. Quản lý nhà nước về biển

1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biển trong phạm vi cả nước.

2. Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về biển.

CHƯƠNG II: VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Điều 8. Xác định đường cơ sở

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam là đường cơ sở thẳng đã được Chính phủ công bố. Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Điều 9. Nội thuỷ

Nội thủy là vùng nước tiếp giáp với bờ biển, ở phía trong đường cơ sở và là bộ phận lãnh thổ của Việt Nam.

Điều 10. Chế độ pháp lý của nội thuỷ

Nhà nước thực hiện chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ đối với nội thủy như trên lãnh thổ đất liền.

Điều 11. Lãnh hải

Lãnh hải là vùng biển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở ra phía biển.

Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển của Việt Nam.

Điều 12. Chế độ pháp lý của lãnh hải

1. Nhà nước thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải và vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

2. Tàu thuyền của tất cả các quốc gia được hưởng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam. Đối với tàu quân sự nước ngoài khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, thông báo trước cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

3. Việc đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoài phải được thực hiện trên cơ sở tôn trọng hòa bình, độc lập, chủ quyền, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

4. Các phương tiện bay nước ngoài không được vào vùng trời ở trên lãnh hải Việt Nam, trừ trường hợp được sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam hoặc thực hiện theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

5. Nhà nước có chủ quyền đối với mọi loại hiện vật khảo cổ, lịch sử trong lãnh hải Việt Nam.

Điều 13. Vùng tiếp giáp lãnh hải

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng 12 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải.

Điều 14. Chế độ pháp lý của vùng tiếp giáp lãnh hải

1. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và các quyền khác quy định tại Điều 16 của Luật này đối với vùng tiếp giáp lãnh hải.

2. Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

Điều 15. Vùng đặc quyền kinh tế

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Điều 16. Chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế

1. Trong vùng đặc quyền kinh tế, Nhà nước thực hiện:

a) Quyền chủ quyền về việc thăm dò, khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên thuộc vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển; về các hoạt động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế;

b) Quyền tài phán quốc gia về lắp đặt và sử dụng đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển; nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển;

c) Các quyền và nghĩa vụ khác phù hợp với pháp luật quốc tế.

2. Nhà nước tôn trọng quyền tự do hàng hải, hàng không; quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trên cơ sở các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng được ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan.

4. Các quyền có liên quan đến đáy biển và lòng đất dưới đáy biển quy định tại Điều này được thực hiện theo quy định tại Điều 17 và Điều 18 của Luật này.

Điều 17. Thềm lục địa

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, các đảo và quần đảo của Việt Nam cho đến mép ngoài của rìa lục địa.

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này cách đường cơ sở chưa đủ 200 hải lý thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.

Trong trường hợp mép ngoài của rìa lục địa này vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì thềm lục địa nơi đó được kéo dài không quá 350 hải lýtính từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý tính từ đường đẳng sâu 2.500 mét.

Điều 18. Chế độ pháp lý của thềm lục địa

1. Nhà nước thực hiện quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về thăm dò, khai thác tài nguyên.

2. Quyền chủ quyền quy định tại khoản 1 Điều này có tính chất đặc quyền, không ai có quyền tiến hành hoạt động thăm dò thềm lục địa hoặc khai thác tài nguyên của thềm lục địa nếu không có sự đồng ý của Chính phủ Việt Nam.

3. Nhà nước có quyền khai thác lòng đất dưới đáy biển, cho phép và quy định việc khoan nhằm bất kỳ mục đích nào ở thềm lục địa.

4. Nhà nước tôn trọng quyền đặt dây cáp, ống dẫn ngầm và hoạt động sử dụng biển hợp pháp khác của các quốc gia khác ở thềm lục địa Việt Nam theo quy định của Luật này và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, không làm phương hại đến quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam.

Việc lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm phải có sự chấp thuận bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.

5. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được tham gia thăm dò, sử dụng, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, lắp đặt thiết bị và công trình ở thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, hợp đồng ký kết theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc được phép của Chính phủ Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 19. Đảo, quần đảo

1. Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước.

Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau.

2. Đảo, quần đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Điều 20. Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của đảo, quần đảo

1. Đảo thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì có nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

2. Đảo đá không thích hợp cho đời sống con người hoặc cho một đời sống kinh tế riêng thì không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

3. Nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được xác định theo quy định tại các điều 9, 11, 13, 15 và 17 của Luật này và được thể hiện bằng hải đồ, bản kê toạ độ địa lý do Chính phủ công bố.

Điều 21. Chế độ pháp lý của đảo, quần đảo

1. Nhà nước thực hiện chủ quyền trên đảo, quần đảo của Việt Nam.

2. Chế độ pháp lý đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các đảo, quần đảo được thực hiện theo quy định tại các điều 10, 12, 14, 16 và 18 của Luật này.

CHƯƠNG III: HOẠT ĐỘNG TRONG VÙNG BIỂN VIỆT NAM

Điều 22. Quy định chung

1. Tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phải tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và lợi ích quốc gia của Việt Nam, tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của tàu thuyền, tổ chức, cá nhân hoạt động trong vùng biển Việt Nam phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 23. Đi qua không gây hại trong lãnh hải

1. Đi qua lãnh hải là việc tàu thuyền nước ngoài đi trong lãnh hải Việt Nam nhằm một trong các mục đích sau:

a) Đi ngang qua nhưng không đi vào nội thủy Việt Nam, không neo đậu lại trong một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam;

b) Đi vào hoặc rời khỏi nội thủy Việt Nam hay đậu lại hoặc rời khỏi một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu ở bên ngoài nội thủy Việt Nam.

2. Việc đi qua lãnh hải phải liên tục và nhanh chóng, trừ trường hợp gặp sự cố hàng hải, sự cố bất khả kháng, gặp nạn hoặc vì mục đích phải cứu giúp người, tàu thuyền hay tàu bay đang gặp nạn.

3. Việc đi qua không gây hại trong lãnh hải không được làm phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn trên biển. Việc đi qua của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải Việt Nam bị coi là gây phương hại đến hòa bình, quốc phòng, an ninh của Việt Nam, trật tự an toàn xã hội nếu tàu thuyền đó tiến hành bất kỳ một hành vi nào sau đây:

a) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam;

b) Đe dọa hoặc sử dụng vũ lực chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác; thực hiện các hành vi trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế được quy định trong Hiến chương Liên hợp quốc;

c) Luyện tập hay diễn tập với bất kỳ kiểu, loại vũ khí nào, dưới bất kỳ hình thức nào;

d) Thu thập thông tin gây thiệt hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam;

đ) Tuyên truyền nhằm gây hại đến quốc phòng, an ninh của Việt Nam;

e) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện bay lên tàu thuyền;

g) Phóng đi, tiếp nhận hay xếp phương tiện quân sự lên tàu thuyền;

h) Bốc, dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu thuyền trái với quy định của pháp luật Việt Nam về hải quan, thuế, y tế hoặc xuất nhập cảnh;

i) Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường biển;

k) Đánh bắt hải sản trái phép;

l) Nghiên cứu, điều tra, thăm dò trái phép;

m) Làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin liên lạc hoặc của thiết bị hay công trình khác của Việt Nam;

n) Tiến hành hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.

Điều 24. Nghĩa vụ khi thực hiện quyền đi qua không gây hại

1. Khi thực hiện quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có nghĩa vụ tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam về nội dung sau đây:

a) An toàn hàng hải và điều phối giao thông đường biển, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông;

b) Bảo vệ thiết bị và hệ thống bảo đảm hàng hải, thiết bị hay công trình khác;

c) Bảo vệ đường dây cáp và ống dẫn;

d) Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển;

đ) Hoạt động đánh bắt, khai thác và nuôi trồng hải sản;

e) Gìn giữ môi trường biển, ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển;

g) Nghiên cứu khoa học biển và đo đạc thủy văn;

h) Hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh.

2. Thuyền trưởng tàu thuyền nước ngoài chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại hoặc nguy hiểm, khi đi trong lãnh hải Việt Nam có nghĩa vụ sau đây:

a) Mang đầy đủ tài liệu kỹ thuật liên quan tới tàu thuyền và hàng hóa trên tàu, tài liệu về bảo hiểm dân sự bắt buộc;

b) Sẵn sàng cung cấp cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam mọi tài liệu liên quan đến thông số kỹ thuật của tàu thuyền cũng như của hàng hóa trên tàu;

c) Thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đặc biệt đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên áp dụng đối với các loại tàu thuyền này;

d) Tuân thủ quyết định của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam về việc áp dụng biện pháp phòng ngừa đặc biệt, kể cả cấm không được đi qua lãnh hải Việt Nam hoặc buộc phải rời ngay khỏi lãnh hải Việt Nam trong trường hợp có dấu hiệu hoặc bằng chứng rõ ràng về khả năng gây rò rỉ hoặc làm ô nhiễm môi trường.

Điều 25. Tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại

1. Chính phủ quy định về việc công bố tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại nhằm bảo đảm an toàn hàng hải.

2. Tàu thuyền nước ngoài chở dầu hoặc chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc chuyên chở chất phóng xạ, chất độc hại hay nguy hiểm khi đi qua không gây hại trong lãnh hải Việt Nam có thể bị buộc phải đi theo tuyến hàng hải quy định cụ thể cho từng trường hợp.

Điều 26. Vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải

1. Để bảo vệ chủ quyền, quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia hoặc an toàn hàng hải, bảo vệ tài nguyên, sinh thái biển, chống ô nhiễm, khắc phục sự cố, thảm họa môi trường biển, phòng chống lây lan dịch bệnh, Chính phủ thiết lập vùng cấm tạm thời hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam.

2. Việc thiết lập vùng cấm tạm thời hoặc vùng hạn chế hoạt động trong lãnh hải Việt Nam theo quy định tại khoản 1 Điều này phải được thông báo rộng rãi trong nước và quốc tế trong “Thông báo hàng hải”, theo tập quán hàng hải quốc tế, chậm nhất là 15 ngày trước khi áp dụng hoặc thông báo ngay sau khi áp dụng trong trường hợp khẩn cấp.

Điều 27. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam

1. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài chỉ được đi vào nội thủy, neo đậu tại một công trình cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam theo lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam với quốc gia mà tàu mang cờ.

2. Tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài khi ở trong nội thủy, cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hoặc các công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác và phải hoạt động phù hợp với lời mời của Chính phủ Việt Nam hoặc thỏa thuận với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Điều 28. Trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam

Tàu quân sự của nước ngoài khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam mà có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam thì lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam có quyền yêu cầu các tàu thuyền đó chấm dứt ngay hành vi vi phạm, rời khỏi lãnh hải Việt Nam ngay lập tức nếu đang ở trong lãnh hải Việt Nam. Tàu thuyền vi phạm phải tuân thủ các yêu cầu, mệnh lệnh của lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam.

Trường hợp tàu quân sự, tàu thuyền công vụ của nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam mà có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam hoặc pháp luật quốc tế có liên quan thì quốc gia mà tàu mang cờ phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất hoặc thiệt hại do tàu thuyền đó gây ra cho Việt Nam.

Điều 29. Hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thuỷ, lãnh hải Việt Nam

Trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài phải hoạt động ở trạng thái nổi trên mặt nước và phải treo cờ quốc tịch, trừ trường hợp được phép của Chính phủ Việt Nam hoặc theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và chính phủ của quốc gia mà tàu thuyền đó mang cờ.

Điều 30. Quyền tài phán hình sự đối với tàu thuyền nước ngoài

1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền tiến hành các biện pháp để bắt người, điều tra đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền nước ngoài sau khi rời khỏi nội thủy và đang đi trong lãnh hải Việt Nam.

2. Đối với tội phạm xảy ra trên tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải Việt Nam nhưng không phải ngay sau khi rời khỏi nội thủy Việt Nam, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền tiến hành bắt người, điều tra trong các trường hợp sau đây:

a) Hậu quả của việc phạm tội ảnh hưởng đến Việt Nam;

b) Việc phạm tội có tính chất phá hoại hòa bình của Việt Nam hay trật tự trong lãnh hải Việt Nam;

c) Thuyền trưởng hay một viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự của quốc gia mà tàu thuyền mang cờ yêu cầu sự giúp đỡ của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam;

d) Để ngăn chặn hành vi mua bán người, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy.

3. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành bất kỳ biện pháp nào trên tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải Việt Nam để bắt giữ người hay điều tra việc phạm tội đã xảy ra trước khi tàu thuyền đó đi vào lãnh hải Việt Nam nếu như tàu thuyền đó xuất phát từ một cảng nước ngoài và chỉ đi trong lãnh hải mà không đi vào nội thủy Việt Nam, trừ trường hợp cần ngăn ngừa, hạn chế ô nhiễm môi trường biển hoặc để thực hiện quyền tài phán quốc gia quy định tại điểm b khoản 1 Điều 16 của Luật này.

4. Việc thực hiện biện pháp tố tụng hình sự phải phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 31. Quyền tài phán dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được buộc tàu thuyền nước ngoài đang đi trong lãnh hải phải dừng lại hoặc thay đổi hành trình chỉ vì mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự đối với cá nhân đang ở trên tàu thuyền đó.

2. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển không được tiến hành các biện pháp bắt giữ hay xử lý về mặt dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam, trừ nội thủy, trừ trường hợp việc thi hành các biện pháp này liên quan đến nghĩa vụ đã cam kết hay trách nhiệm dân sự mà tàu thuyền phải đảm nhận trong khi đi qua hoặc để được đi qua vùng biển Việt Nam.

3. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có thể áp dụng các biện pháp bắt giữ hay xử lý tàu thuyền nước ngoài nhằm mục đích thực hiện quyền tài phán dân sự nếu tàu thuyền đó đang đậu trong lãnh hải hoặc đi qua lãnh hải sau khi rời khỏi nội thủy Việt Nam.

Điều 32. Thông tin liên lạc trong cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam.

Tổ chức, cá nhân và tàu thuyền khi ở trong các cảng, bến hay nơi trú đậu trong nội thuỷ hay trong công trình cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam ở bên ngoài nội thủy Việt Nam chỉ được tiến hành thông tin liên lạc theo đúng các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 33. Tìm kiếm, cứu nạn và cứu hộ

1. Trường hợp người, tàu thuyền hoặc phương tiện bay gặp nạn hoặc nguy hiểm trên biển cần sự cứu giúp thì phải phát tín hiệu cấp cứu theo quy định và khi điều kiện cho phép phải thông báo ngay cho cảng vụ hàng hải hay Trung tâm phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam hay nhà chức trách địa phương nơi gần nhất biết để được giúp đỡ, hướng dẫn cần thiết.

2. Khi nhận biết tình trạng người, tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm hay nhận được tín hiệu cấp cứu của người, tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm cần được cứu giúp, mọi cá nhân, tàu thuyền khác phải bằng mọi cách tiến hành cứu giúp người, tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm nếu điều kiện thực tế cho phép và không gây nguy hiểm đến tàu thuyền, những người đang ở trên tàu thuyền của mình và kịp thời thông báo cho cá nhân, tổ chức liên quan biết.

3. Nhà nước bảo đảm sự giúp đỡ cần thiết theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế có liên quan và trên tinh thần nhân đạo để người và tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm trên biển có thể nhanh chóng được tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả.

4. Trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, Nhà nước có đặc quyền trong việc thực hiện các hoạt động tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ người và tàu thuyền gặp nạn hoặc nguy hiểm cần sự cứu giúp, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

5. Lực lượng có thẩm quyền có quyền huy động cá nhân, tàu thuyền đang hoạt động trong vùng biển Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn nếu điều kiện thực tế cho phép và không gây nguy hiểm cho cá nhân, tàu thuyền đó.

Việc huy động và yêu cầu quy định tại khoản này chỉ được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp và chỉ trong thời gian cần thiết để thực hiện công tác tìm kiếm, cứu nạn.

6. Việc cứu hộ hàng hải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng cứu hộ hàng hải theo thỏa thuận giữa chủ tàu thuyền hoặc thuyền trưởng tàu thuyền tham gia cứu hộ với chủ tàu thuyền hoặc thuyền trưởng của tàu thuyền gặp nạn, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

7. Tàu thuyền nước ngoài vào vùng biển Việt Nam thực hiện việc tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 34. Đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển

1. Đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển bao gồm:

a) Các giàn khoan trên biển cùng toàn bộ các bộ phận phụ thuộc khác đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của các giàn khoan hoặc các thiết bị chuyên dùng để thăm dò, khai thác và sử dụng biển;

b) Các loại báo hiệu hàng hải;

c) Các thiết bị, công trình khác được lắp đặt và sử dụng ở biển.

2. Nhà nước có quyền tài phán đối với các đảo nhân tạo và thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, bao gồm cả quyền tài phán theo các quy định của pháp luật về hải quan, thuế, y tế, an ninh và xuất nhập cảnh, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

3. Các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển và các bộ phận kèm theo hoặc phụ thuộc có vành đai an toàn 500 mét tính từ điểm nhô ra xa nhất của đảo, thiết bị, công trình hoặc các bộ phận đó, nhưng không có lãnh hải và các vùng biển riêng, trừ trường hợp pháp luật hay điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.

4. Không xây dựng đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển cũng như không thiết lập vành đai an toàn xung quanh đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển ở nơi có nguy cơ gây trở ngại cho việc sử dụng các đường hàng hải đã được thừa nhận là thiết yếu cho hàng hải quốc tế.

5. Khi hết hạn sử dụng, thiết bị, công trình trên biển phải được tháo dỡ khỏi vùng biển Việt Nam, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Đối với phần còn lại của thiết bị, công trình trên biển chưa kịp tháo dỡ hoàn toàn vì lý do kỹ thuật hoặc được phép gia hạn thì phải thông báo rõ vị trí, kích thước, hình dạng, độ sâu và phải đặt các tín hiệu, báo hiệu hàng hải và nguy hiểm thích hợp.

6. Thông tin liên quan tới việc thiết lập đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển, việc thiết lập vành đai an toàn xung quanh và việc tháo dỡ một phần hay toàn bộ thiết bị, công trình trên biển phải được cung cấp chậm nhất trước 15 ngày cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và được thông báo rộng rãi trong nước và quốc tế.

Điều 35. Gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển

1. Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan đến việc gìn giữ, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.

2. Khi vận chuyển, bốc, dỡ các loại hàng hóa, thiết bị có khả năng gây hại đối với tài nguyên, đời sống của con người và ô nhiễm môi trường biển, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải sử dụng thiết bị và các biện pháp chuyên dụng theo quy định để ngăn ngừa và hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra cho người, tài nguyên và môi trường biển.

3.Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được thải, nhận chìm hay chôn lấp các loại chất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân hoặc các loại chất thải độc hại khác trong vùng biển Việt Nam.

4. Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan làm ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường biển trong vùng biển, cảng biển, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam thì bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; nếu gây thiệt hại thì phải làm sạch, khôi phục lại môi trường và bồi thường theo quy định của pháp luật.

5. Tổ chức, cá nhân hoạt động trên các vùng biển Việt Nam có nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản đóng góp về bảo vệ môi trường biển theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế có liên quan.

Điều 36. Nghiên cứu khoa học biển

1. Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, chịu sự giám sát của phía Việt Nam, bảo đảm cho các nhà khoa học Việt Nam được tham gia và phải cung cấp cho phía Việt Nam các tài liệu, mẫu vật gốc và các kết quả nghiên cứu liên quan.

2. Khi tiến hành hoạt động nghiên cứu khoa học trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân phải tuân thủ những quy định sau đây:

a) Có mục đích hòa bình;

b) Được thực hiện với phương thức và phương tiện thích hợp, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan;

c) Không được gây cản trở đối với các hoạt động hợp pháp trên biển theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan;

d) Nhà nước Việt Nam có quyền tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam và có quyền được chia sẻ các tài liệu, mẫu vật gốc, sử dụng và khai thác các kết quả khoa học thu được từ các hoạt động nghiên cứu, khảo sát đó.

Điều 37. Quy định cấm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam

Khi thực hiện quyền tự do hàng hải, tự do hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, tổ chức, cá nhân không được tiến hành các hoạt động sau đây:

1. Đe dọa chủ quyền, quốc phòng, an ninh của Việt Nam;

2. Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, đánh bắt hải sản trái phép;

3. Khai thác trái phép dòng chảy, năng lượng gió và tài nguyên phi sinh vật khác;

4. Xây dựng, lắp đặt, sử dụng trái phép các thiết bị, công trình nhân tạo;

5. Khoan, đào trái phép;

6. Tiến hành nghiên cứu khoa học trái phép;

7. Gây ô nhiễm môi trường biển;

8. Cướp biển, cướp có vũ trang;

9. Các hoạt động bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.

Điều 38. Cấm tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí, chất nổ, chất độc hại

Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí hoặc chất nổ, chất độc hại cũng như các loại phương tiện thiết bị khác có khả năng gây hại đối với người, tài nguyên và ô nhiễm môi trường biển.

Điều 39. Cấm mua bán người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được mua bán người, vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy.

2. Khi có căn cứ về việc tàu thuyền, tổ chức, cá nhân đang mua bán người hoặc vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép các chất ma túy thì lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển của Việt Nam có quyền tiến hành khám xét, kiểm tra, bắt giữ, dẫn giải về các cảng, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam hoặc dẫn giải, chuyển giao đến các cảng, bến hay nơi trú đậu của nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để xử lý.

Điều 40. Cấm phát sóng trái phép

Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được phát sóng trái phép hoặc tuyên truyền, gây phương hại cho quốc phòng, an ninh của Việt Nam.

Điều 41. Quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam nếu các tàu thuyền này đang ở trong nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải Việt Nam.

Quyền truy đuổi được tiến hành sau khi lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển đã phát tín hiệu yêu cầu tàu thuyền vi phạm hay có dấu hiệu vi phạm pháp luật dừng lại để tiến hành kiểm tra nhưng tàu thuyền đó không chấp hành. Việc truy đuổi có thể được tiếp tục ở ngoài ranh giới của lãnh hải hay vùng tiếp giáp lãnh hải Viêt Nam nếu được tiến hành liên tục, không ngắt quãng.

2. Quyền truy đuổi cũng được áp dụng đối với hành vi vi phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam, vi phạm trong phạm vi vành đai an toàn và trên các đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

3. Việc truy đuổi của các lực lượng tuần tra, kiểm soát Việt Nam chấm dứt khi tàu thuyền bị truy đuổi đi vào lãnh hải của quốc gia khác.

CHƯƠNG IV: PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN

Điều 42. Nguyên tắc phát triển kinh tế biển

Phát triển kinh tế biển bền vững, hiệu quả theo các nguyên tắc sau đây:

1. Phục vụ xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

2. Gắn với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn trên biển.

3. Phù hợp với yêu cầu quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

4. Gắn với phát triển kinh tế – xã hội của các địa phương ven biển và hải đảo.

Điều 43. Phát triển các ngành kinh tế biển

Nhà nước ưu tiên tập trung phát triển các ngành kinh tế biển sau đây:

1. Tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế biến dầu, khí và các loại tài nguyên, khoáng sản biển;

2. Vận tải biển, cảng biển, đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, phương tiện đi biển và các dịch vụ hàng hải khác;

3. Du lịch biển và kinh tế đảo;

4. Khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản;

5. Phát triển, nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ về khai thác và phát triển kinh tế biển;

6. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực biển.

Điều 44. Quy hoạch phát triển kinh tế biển

1. Căn cứ lập quy hoạch phát triển kinh tế biển bao gồm:

a) Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của cả nước; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia;

b) Định hướng chiến lược phát triển bền vững và chiến lược biển;

c) Đặc điểm, vị trí địa lý, quy luật tự nhiên của các vùng biển, vùng ven biển và hải đảo;

d) Kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường biển; thực trạng và dự báo nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển của cả nước, của vùng và của các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương;

đ) Giá trị tài nguyên và mức độ dễ bị tổn thương của môi trường biển;

e) Nguồn lực để thực hiện quy hoạch.

2. Nội dung quy hoạch phát triển kinh tế biển bao gồm:

a) Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và hiện trạng khai thác, sử dụng biển;

b) Xác định phương hướng, mục tiêu và định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển;

c) Phân vùng sử dụng biển cho các mục đích phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; xác định các vùng cấm khai thác, các vùng khai thác có điều kiện, khu vực cần bảo vệ đặc biệt cho mục đích quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái và đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình trên biển;

d) Xác định vị trí, diện tích và thể hiện trên bản đồ các vùng sử dụng mặt biển, đáy biển, đảo;

đ) Xác định cụ thể các vùng bờ biển dễ bị tổn thương như bãi bồi, vùng bờ biển xói lở, rừng phòng hộ, đất ngập nước, cát ven biển, xác định vùng đệm và có các giải pháp quản lý, bảo vệ phù hợp;

e) Giải pháp và tiến độ thực hiện quy hoạch.

3. Chính phủ xây dựng phương án tổng thể phát triển các ngành kinh tế biển quy định tại Điều 43 của Luật này và tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển của cả nước trình Quốc hội xem xét, quyết định.

Điều 45. Xây dựng và phát triển kinh tế biển

1. Nhà nước có chính sách đầu tư xây dựng, phát triển các khu kinh tế, cụm công nghiệp ven biển, kinh tế các huyện đảo theo quy hoạch, bảo đảm hiệu quả, phát triển bền vững.

2. Việc giao các khu vực biển nhất định cho tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên biển được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Điều 46. Khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển

1. Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, mạng lưới hậu cần biển, phát triển kinh tế các huyện đảo; có chính sách ưu đãi để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư sinh sống trên các đảo.

2. Nhà nước khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đầu tư khai thác tiềm năng và thế mạnh phát triển trên các đảo.

3. Nhà nước khuyến khích, ưu đãi về thuế, vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tăng cường hoạt động ngư nghiệp và các hoạt động khác trên biển, đảo; bảo vệ hoạt động của nhân dân trên biển, đảo.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

CHƯƠNG V: TUẦN TRA, KIỂM SOÁT TRÊN BIỂN

Điều 47. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển bao gồm:các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác.

2. Lực lượng dân quân tự vệ của các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc trung ương, lực lượng bảo vệ của tổ chức, cơ quan đóng ven biển và các lực lượng khác có trách nhiệm tham gia tuần tra, kiểm soát trên biển khi được cơ quan có thẩm quyền huy động.

Điều 48. Nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển

1. Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có nhiệm vụ sau đây:

a) Bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo của Việt Nam;

b) Bảo đảm việc tuân thủ pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

c) Bảo vệ tài sản nhà nước, tài nguyên và môi trường biển;

d) Bảo vệ, giúp đỡ, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ đối với người, tàu thuyền hoạt động trên các vùng biển, đảo của Việt Nam;

đ) Xử lý hành vi vi phạm pháp luật trên các vùng biển, đảo của Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Phạm vi trách nhiệm cụ thể của các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển thực hiện theo các quy định pháp luật.

3. Nhà nước bảo đảm những điều kiện cần thiết để các lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Điều 49. Cờ, sắc phục và phù hiệu

Khi thi hành nhiệm vụ, tàu thuyền thuộc lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển phải được trang bị đầy đủ quốc kỳ Việt Nam, số hiệu, cờ hiệu; cá nhân thuộc lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển được trang bị đầy đủ quân phục, trang phục của lực lượng cùng với các dấu hiệu đặc trưng khác theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG VI: XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 50. Dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm

1. Căn cứ vào quy định của pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển ra quyết định xử lý vi phạm tại chỗ hoặc dẫn giải người, tàu thuyền vi phạm vào bờ hoặc yêu cầu cơ quan hữu quan của quốc gia mà tàu mang cờ, quốc gia nơi tàu đó đến để xử lý vi phạm.

2. Khi dẫn giải vào bờ để xử lý, người và tàu thuyền vi phạm phải được áp giải về cảng, bến hay nơi trú đậu gần nhất được liệt kê trong danh mục cảng, bến hay nơi trú đậu đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công bố theo quy định của pháp luật.

Trường hợp vì yêu cầu bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người trên tàu thuyền, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển có thể quyết định dẫn giải người và tàu thuyền vi phạm đó đến cảng, bến hay nơi trú đậu gần nhất của Việt Nam hoặc của nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Điều 51. Biện pháp ngăn chặn

1. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam; tàu thuyền được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm có thể bị tạm giữ nhằm ngăn chặn việc vi phạm pháp luật hoặc để bảo đảm việc xử lý theo pháp luật.

2. Việc bắt, tạm giữ, tạm giam người có hành vi vi phạm pháp luật; việc tạm giữ tàu thuyền được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Điều 52. Thông báo cho Bộ Ngoại giao

Khi tiến hành bắt, tạm giữ, tạm giam người có hành vi vi phạm pháp luật, hoặc tạm giữ tàu thuyền nước ngoài, lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho Bộ Ngoại giao để phối hợp xử lý.

Điều 53. Xử lý vi phạm

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Luật này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; cá nhân vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

CHƯƠNG VII: ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 54. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Điều 55. Hướng dẫn thi hành

Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ ba thông qua ngày… tháng… năm 2012.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

Nguyễn Sinh Hùng (đã ký)

Theo QUỐC HỘI NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

reds.vn

Những chứng cứ Lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa


LTS: Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng của mỗi dân tộc. Biên giới luôn gắn liền với lãnh thổ (bao gồm cả đất liền, biển, đảo và vùng trời) nên các yếu tố lịch sử, luật pháp và tập quán quốc tế là những cơ sở hết sức quan trọng trong việc khẳng định tính bất khả xâm phạm của biên giới quốc gia. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc chủ quyền của Việt Nam và nằm trong biên giới của lãnh thổ Việt Nam.

[Kỳ 1: Vài nét địa lý tự nhiên thuộc vùng biển Việt Nam]
[Kỳ 2: Chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII]
[Kỳ 3: Chủ quyền biển đảo của Việt Nam từ các bản đồ trong lịch sử]
[Kỳ 4: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong thư tịch triều Nguyễn]
[Kỳ 5: Thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa của các triều đại Việt Nam]
[Kỳ 6: Hải đội Hoàng Sa thực thi chủ quyền]
[Kỳ 7: Hoàng Sa-Trường Sa: Tư liệu cổ phươngTây]
[Kỳ 8: Hoàng Sa và Trường Sa trong thư tịch cổ Trung Hoa]
[Kỳ 9: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam thời Pháp thuộc]
[Kỳ10: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1945 -1954]
[Kỳ 11: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1954-1975]
[Kỳ 12: Trận hải chiến bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974]
[Kỳ 13: Ký ức Hoàng Sa trong nhiều thế hệ người Việt Nam]
[Kỳ 14: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991]
[Kỳ 15: Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn sau 1991]
[Kỳ 16: Trận chiến bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm1988]
[Kỳ 17: Cô Lin – “Mắt thần” của biển]
[Kỳ 18: “Sinh Tồn” trên đại dương gió bão]
[Kỳ 19: Cờ Tổ quốc vẫn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa]
[Kỳ 20: Cơ sở pháp lý quốc tế về sự thiết lập chủ quyền lãnh thổ tại các hải đảo]
[Kỳ 21: Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 22: Trung Quốc chưa bao giờ có chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa]
[Kỳ 23: “Đường lưỡi bò” phi lý và tham vọng bá chủ của Trung Quốc ở Biển Đông]
[Kỳ 24: Châu bản thời Minh Mạng và Thiệu Trị khắc ghi chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 25: Châu bản thời vua Bảo Đại khắc ghi chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam]
[Kỳ 26: Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam]
[Kỳ 27: Xuyên tạc lịch sử trong âm mưu chiếm đoạt Hoàng Sa và Trường Sa]
[Kỳ 28: Dư luận quốc tế phản đối “đường lưỡi bò”]
[Kỳ 29: Hoàng Sa và Trường Sa trong tâm linh người Việt]
[Kỳ 30: Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam thời Tây Sơn]
[Kỳ 31: “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn – một sử liệu quý viết về Hoàng Sa và Trường Sa]
[Kỳ 32: Các đội “ngư binh” – Hình thức độc đáo thực thi chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX]

Cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa giữa Biển Đông Việt Nam

Các yếu tố lịch sử lâu đời cũng như luật pháp và tập quán quốc tế về lãnh thổ là những cơ sở vững chắc để khẳng định điều đó. Kể từ số báo này, Đại Đoàn Kết trân trọng giới thiệu tới quý bạn đọc loạt bài “Những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa”. Nhóm biên soạn trân trọng cảm ơn các cơ quan, tổ chức nghiên cứu, các học giả đã cung cấp tư liệu, cố vấn cho nhóm hoàn thành loạt bài quan trọng này phục vụ cho nhu cầu nâng cao kiến thức về cơ sở lịch sử và pháp lý để góp phần hiệu quả hơn cho cuộc đấu tranh kiên trì vì sự toàn vẹn lãnh thổ, vì Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu – một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam.

ĐĐK

Lời tòa soạn: Quý độc giả kính mến

– oOo –

Báo Đại Đoàn Kết thực hiện loạt bài này với tâm nguyện đóng góp một phần rất nhỏ trong phạm vi chức trách của mình cùng với toàn thể dân tộc Việt Nam khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mặc dù lực lượng và thời gian rất hạn chế, Nhóm Phóng viên Biển Đông được giao trách nhiệm chính, đã làm việc nghiêm túc, cố gắng hết mình mang đến cho quý độc giả trong suốt hơn một tháng qua những bài viết tổng hợp, trình bày quá trình lịch sử khám phá, khai thác, xác lập chủ quyền và bảo vệ chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong nhiều thế kỷ qua mà chúng tôi chắc chắn là vẫn chưa đầy đủ và toàn diện nhất trong một phạm vi và điều kiện còn hạn chế về tư liệu, về thời gian, về khả năng và cũng như về khuôn khổ của báo.

Trong suốt quá trình thực hiện loạt bài, Đại Đoàn Kết đã nhận được rất nhiều sự động viên, khích lệ và giúp đỡ tận tình của đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước, những người Việt Nam giàu lòng yêu nước, gắn bó với quê hương và luôn tìm cách đóng góp phần rất nhỏ của mình cho công cuộc giữ gìn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc và phát triển đất nước. Đặc biệt là sự giúp đỡ của nhiều học giả, các tổ chức nghiên cứu về lịch sử Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông của người Việt Nam trong nước cũng như khắp nơi trên thế giới về những chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa. Đó là những thành quả từ nhịp đập của biết bao con tim yêu nước và năng lượng tri thức Việt vì một mục đích chung: dõng dạc lên tiếng bằng tất cả khả năng và kiến thức của mình vì sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và chủ quyền độc lập của dân tộc Việt Nam.

Kết thúc loạt bài này, chúng tôi không nghĩ là chúng ta sẽ không có dịp trở lại những vấn đề đã được đặt ra trong suốt hơn một tháng qua. Chắc chắn sẽ có nhiều nghiên cứu mới, nhiều phát hiện mới và thêm nhiều sự phân tích lý giải mới hơn khẳng định mạnh mẽ và hùng hồn hơn nữa chủ quyền của dân tộc ta trên Biển Đông. Chúng tôi trân trọng và sẵn sàng tiếp thu, trao đổi cùng quý vị.

Trân trọng cảm ơn và kính chúc quý độc giả thân thiết của báo Đại Đoàn Kết nhiều sức khoẻ và luôn đồng hành cùng với báo Đại Đòan Kết vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc.

BBT báo Đại Đoàn Kết

Trung Quốc chẳng liên quan đến các quần đảo của Việt Nam

170 năm trước, quần đảo Hoàng Sa đã được người phương Tây biết đến thuộc về Việt Nam và khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc! Vì thế không hề có chuyện người Trung Hoa hay nước Trung Quốc cai quản hoặc làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa.

Có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!

Gerardus Mercator và Jodocus Hondius là hai nhà địa dư học nổi tiếng của xứ Hoà Lan (Netherland) từ thế kỷ 17, vào năm 1600 trở về sau. Thời ấy, để cạnh tranh với Công ty Đông Ấn của Anh, Công ty Đông Ấn của Hoà Lan được lập ra năm 1602 và phát triển cơ sở kinh doanh ở khắp nơi nên mới tập trung lại các tài liệu tham khảo về địa hình địa thế Á Đông.

Tấm bản đồ này được in vào năm 1613 do Jodocus Hondius (1563-1612) vẽ lại theo bản đồ Đông Nam Á xuất bản 1606, căn cứ trên những dữ kiện của nhà địa dư học Bồ Đào Nha (Portugal) là Bartolomeu Lasso vào đầu thế kỷ 16 – tức là trước đó khoảng trăm năm.

Tấm bản đồ trình bày bằng tiếng Latinh, có tên là  “Insulae Indiae Orientalis Praecipuae“, ghi rõ vùng biển Đông Nam Á từ đảo Sumatra phía Tây đến New Guinea và cả… đảo Guam phía cực Đông trong một chuỗi đảo họ mệnh danh là “quần đảo thổ phỉ” (Islas de las Vellas), và từ đảo Timor gần Úc Đại Lợi phía Nam lên tới Hải Nam của Trung Quốc ở phía Bắc.

Thời ấy, thế giới Tây phương vẫn mơ hồ về đảo Java, với hướng Nam còn ghi bằng hàng dấu chấm trên bản đồ. Nhưng qua tài liệu tô màu này, các sử gia thích thú tìm thấy chứng cớ cập bến của nhà thám hiểm và Phó Đề đốc nổi tiếng của Nữ Hoàng Anh Elizabeth I là Sir Francis Drake (sinh khoảng năm 1540 và mất năm 1596): tại một hải cảng ở miền Nam Java có ghi hàng chữ “Huc Franciscus Dra. Appulit“.

Đông Nam Á trên bản đồ của Hondius xuất bản năm 1606 tại Amsterdam.

Họ rất vui với việc đó, nhưng người Việt chúng ta lại chú ý đến nhiều dữ kiện khác.

Góc Tây-Bắc của tấm dư đồ là đất “Cauchin, có tên khác là Cauchinchina“, là Cochinchine theo lối gọi thời Tây sau này. Đấy là địa đồ của Đàng Trong khi mở ra cục diện Trịnh-Nguyễn phân tranh: chúa Nguyễn Hoàng mất năm 1613, là khi tấm bản đồ được đưa vào cuốn Atlas Mercator Hondius.

Nhân đây, xin ghi một chi tiết tồn nghi về tên gọi.

Từ thế kỷ 13, các nước đã theo Marco Polo mà gọi tên nước ta là Caugigu (phiên âm từ “Giao Chỉ quốc), sau đọc trại thành Kiaoche rồi Coci – là cách gọi của người Bồ Đào Nha. Thế rồi, để khỏi lầm với đất Koci của Ấn Độ, người ta mới thêm chữ China hay Cina, nên Cauchinchina trở thành tên gọi chung của nước Đại Việt. Đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người ta mới gọi Đàng Ngoài là Tunking hay Tonkin, từ chữ Đông Kinh là Hà Nội ngày nay. Còn Đàng Trong vẫn giữ tên Cauchinchina hay Cochinchine như Pháp gọi sau này.

Nếu cứ theo mặt tên mà nói thì các nhà báo Tây phương ngày nay có thể kết luận rằng toàn cõi Việt Nam là… của Trung Quốc. Đất Cochin của nước China mà! Chúng ta nên giảng điều này cho con cháu, nhất là những thế hệ sinh đẻ ở bên ngoài, để chúng khỏi nhận giặc làm cha.

Trên tấm dư đồ, ta nhận ra Thuận Hoá dưới tên viết Latinh là Sinoa – chứ không phải là Chinois! – sau này mình mới gọi là Phú Xuân rồi Huế. Nhiều địa danh khác thì phải nghiên cứu thêm thì mới biết được – và đấy cũng là một mục tiêu khi chúng tôi giới thiệu tài liệu này. Như tại phía Bắc có thành phố ghi tên Bicuputri, dịch từ tiếng Latinh ra là “trụ đá” hay “Thạch trụ”, “Thạch bi”. Chẳng lẽ là núi Thạch Bi?

Xin các nhà địa dư học tìm hiểu và chỉ cho.

Tại phía Nam, quãng Phú Yên Khánh Hoà thì có địa danh Lantam. Thực tế là gì thì mình chưa rõ – hoặc nếu ai tìm ra cách lý giải thì xin góp ý – chỉ nhớ rằng tấm bản đồ được vẽ theo những tài liệu của Bồ Đào Nha cách đó trăm năm.

Đáng chú ý hơn cả, tấm bản đồ ghi rất rõ ngoài khơi Việt Nam một vùng quần đảo có nhiều bãi cát nông chạy dài xuống hướng Tây-Nam được ghi là Pracel.

Đối diện với quần đảo – và trên lãnh thổ Việt Nam được viền màu vàng –  là tên “Costa de Pracel” – Bờ Pracel. Chẳng liên hệ gì đến đảo Hải Nam của Trung Quốc được tô hồng với tên là Ainan!

Chúng ta nhớ lại thì Lê Quý Đôn viết trong “Phủ Biên Tạp Lục” (soạn thảo từ 1776) rằng: “… Trước đó, họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào. Cắt phiên, mỗi năm cứ Tháng Hai nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng. Đi bằng năm chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển ba ngày ba đêm thì đến đảo ấy”.

Bây giờ, có tài liệu cho thấy người ngoại quốc đã đến Việt Nam trước khi Lê Quý Đôn theo quân Trịnh vào Thuận Hoá. Và họ ghi lại 170 năm trước “Phủ Biên Tạp Lục” sự căn thuộc Việt Nam của quần đảo ta gọi là Hoàng Sa. Khi ấy, Trung Quốc còn ở xa tắp và nhà Minh sắp mất vào tay Mãn tộc!

Chúng ta không quên rằng người Bồ Đào Nha và Hoà Lan đã tiếp xúc và buôn bán với cả hai chúa Trịnh và Nguyễn, Khi thương thuyền Grootenbrook bị đắm tại quần đảo Hoàng Sa, người cầm đầu thương điếm của Công ty Đông Ấn Hòa Lan tại Faifo lại không lên… đảo Hải Nam mà vào Thuận Hoá để cám ơn Chúa Thượng việc thủy thủ đoàn của họ được người Việt cứu vớt. Chúng ta cũng biết rằng dưới thời Trịnh Nguyễn, nhà Đại Thanh còn phải củng cố quyền lực sau khi diệt nhà Minh vào năm 1644, cho đến lúc lẫy lừng nhất vào đời Càn Long thì bị Quang Trung bợp tai đá đít năm 1789.

Những người Hoa duy nhất mà dân ta gặp trên cái đất được Tây phương gọi là Cauchinchina là dân tỵ nạn của triều Minh, là “thuyền nhân” hay hải tặc tìm đất dung thân ở Đàng Trong. Họ được dân ta đón nhận, đối xử tử tế và bình đẳng theo truyền thống Việt Nam mà các nhà hàng hải Hoà Lan đã sớm ghi nhận. Họ góp phần khai phá miền Nam, trở thành kiện tướng hay công thần của các Chúa rồi các Hoàng đế nhà Nguyễn.

Cùng thời đó, Hondius còn có một tấm bản đồ thứ nhì (India Orientalis), chú trọng trình bày Ấn Độ dương từ Vịnh Bengale phía Đông qua Biển Á Rập phía Tây, nhưng vẫn đầy đủ chi tiết về đất Cauchinchina này… Không hề có chuyện người Trung Hoa hay nước Trung Quốc cai quản hoặc làm chủ Hoàng Sa hay Trường Sa

Theo Dinamax Magazine/Bee.net

baodatviet.vn

Công ước Luật Biển Quốc tế năm 1982: Các vùng biển của quốc gia ven biển

Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc (thường được gọi tắt là Công ước Luật Biển năm 1982) được thông qua tại thành phố Môn-tê-gô-bay của Gia-mai-ca vào ngày 10-12-1982. Công ước đã có hiệu lực và hiện nay có 161 thành viên tham gia, trong đó có các nước ven Biển Đông là Việt Nam, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po và Bru-nây.

Công ước quy định các quốc gia ven biển có các vùng biển là nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chiều rộng của các vùng biển này được tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của quốc gia ven biển. Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rất rõ quy chế pháp lý của từng vùng biển.

a. Nội thủy (Internal Waters)

Điều 8 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định, nội thủy là toàn bộ vùng nước tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Tại nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình.

b. Lãnh hải (Territorial Sea)

Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở. Theo luật biển quốc tế cho đến những năm 60 của thế kỷ 20, chiều rộng của lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ có 03 hải lý (mỗi hải lý bằng 1.852m). Theo luật biển quốc tế hiện đại, cụ thể là điều 3 của Công ước Luật Biển năm 1982 thì chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý.

Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình. Chủ quyền đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải là tuyệt đối. Chủ quyền đối với vùng trời phía trên lãnh hải cũng là tuyệt đối. Tuy nhiên, chủ quyền đối với vùng nước lãnh hải không được tuyệt đối như trong nội thủy bởi vì ở lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền qua lại không gây hại.

Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc qua lại lãnh hải của mình trong một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, nhập cư, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua .

Đại diện các quốc gia tham gia ký Công ước Luật Biển năm 1982. Ảnh: un.org

c. Vùng tiếp giáp lãnh hải (Contiguous Zone)

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển nằm ngoài và sát với lãnh hải. Chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải cũng không quá 12 hải lý. Quốc gia ven biển có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết nhằm ngăn ngừa việc vi phạm các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, nhập cư hay y tế trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình. Quốc gia ven biển cũng có quyền thi hành sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải để trừng trị việc vi phạm các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình.

d. Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone)

Đó là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế có 188 hải lý). Đây là một chế định pháp lý hoàn toàn mới vì theo luật biển quốc tế cho đến những năm 50 của thế kỷ 20, các quốc gia ven biển không có vùng biển này.

Theo điều 56 của Công ước Luật Biển năm 1982, trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật ở đó. Cho đến nay, tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế mà các quốc gia ven biển đang khai thác chủ yếu là tôm, cá.

Quốc gia ven biển cũng có quyền chủ quyền đối với các hoạt động khác như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió.

Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Công ước Luật Biển năm 1982 quy định các quốc gia khác, bất kể là quốc gia có biển hay không có biển, được hưởng một số quyền nhất định ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển như quyền tự do hàng hải, quyền tự do hàng không.

đ. Thềm lục địa (Continental Shelf)

Thềm lục địa của quốc gia ven biển là phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển. Trên thực tế, rìa ngoài của thềm lục địa ở các khu vực có khác nhau: Có nơi hẹp, không đến 200 hải lý; nhưng có nơi rộng đến hàng trăm hải lý. Điều 76 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định rất rõ ràng. Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối thiểu 200 hải lý (kể cả khi thềm lục địa thực tế hẹp hơn 200 hải lý). Nếu thềm lục địa thực tế rộng hơn 200 hải lý thì quốc gia ven biển có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa 350 hải lý hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500m. Tuy nhiên, để mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý thì quốc gia ven biển liên quan phải trình cho Ủy ban Thềm lục địa của Liên hợp quốc báo cáo quốc gia kèm đầy đủ bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của vùng đó. Sau đó, Ủy ban Thềm lục địa của Liên hợp quốc sẽ xem xét và ra khuyến nghị.

Điều 77 của Công ước Luật Biển năm 1982 quy định trong thềm lục địa của mình, các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa của mình. Hiện nay, các nước ven biển đang khai thác dầu và khí để phục vụ phát triển đất nước. Sau này, khi các nguồn tài nguyên ở trên đất liền khan hiếm thì các quốc gia ven biển sẽ khai thác các tài nguyên khác ở thềm lục địa của mình. Cần lưu ý là quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu quốc gia đó không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển.

Điều cần nhấn mạnh là, một mặt các quốc gia ven biển được hưởng các quyền tương ứng như đã nêu trên đối với các vùng biển của mình, nhưng mặt khác họ có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các quốc gia ven biển khác.

(Theo qdnd.vn)

cpv.org.vn

Thử nhận xét về An Nam Đại quốc họa đồ

(ĐCSVN)  Tác giả Nguyễn Đình Đầu là nhà sưu tầm và nghiên cứu bản đồ có tiếng ở Việt Nam. Bài viết này của ông được in trên tạp chí Xưa và Nay số 339 (9-2009) với lời tòa soạn cho biết: Tên bản đồ này được ghi trang trọng bằng chữ Hán, bằng chữ Quốc ngữ như nêu trên và dịch ra tiếng Latinh Tabula Geographica imperii Anamitici. Nguyên bản họa đồ khá lớn, ngang 40cm, dọc 80cm, ấn hành theo cuốn Nam Việt dương hiệp tự vị (Dictionarium Anamitico – Latinum) mà tác giả là Giám mục Teberd, xuất bản tại Serampore (Ấn Độ) năm 1838. Khi đăng lại, chúng tôi lược bỏ một số đoạn.

Đại Nam nhất thống toàn đồ (1840)*

Bản đồ An Nam Đại quốc họa đồ (ANĐQHĐ) là một công trình đặc sắc của Taberd. Tới thời gian xuất bản năm 1838, nước ta chưa từng có một bản đồ lớn rộng và ghi chép khá đầy đủ địa danh như họa đồ này. Ta hãy phân tích và so sánh với bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (ĐNNTTĐ) (1840), một bản đồ chính thức của triều Minh Mạng. Nói chung, đường nét bờ bể biển Đông và biên giới phía tây cận kề sông Mêkông, thì ĐNNTTĐ chính xác hơn ANĐQHĐ tuy chưa có căn cứ vào kinh tuyến và vĩ tuyến. Có lẽ ĐNNTTĐ đã tham khảo nhiều bản đồ khác nhau của các nhà hàng hải và địa lý Âu tây. Địa danh của ĐNNTTĐ đều ghi bằng Hán văn, còn ANĐQHĐ thì ghi bằng Quốc ngữ Latinh, cả địa danh hành chính và tục danh, lại thêm những địa danh do ngoại quốc đặt ra. Thí dụ: Núi Thạch Bi (Hán văn) có tục danh là Mũi Nại (Nôm) và Tây phương là Cap Varella. Bản đồ ĐNNTTĐ ghi các địa danh đã cập nhật đương thời: 29 tên tỉnh, 47 tên hải môn hải đảo, 25 địa danh vương quốc và vùng phụ thuộc. Tổng cộng khoảng 92 địa danh. Riêng hình vẽ quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Vạn lý Trường Sa thì vẽ giống hệt các bản đồ Tây phương và đặt sát bờ bể Quảng Nam – Khánh Hòa hơn. Trên điểm địa lý này, ta thấy trong 4 thế kỷ XVI – XVII – XVIII – XIX các bản đồ thế giới Tây phươngđều ghi vẽ quần đảo Paracel hay Pracel (Hoàng Sa và Trường Sa) ở giữa Biển Đông và bờ biển Paracel (Costa da Paracel) luôn đặt ở bờ biển Quảng Nam – Khánh Hòa. Chúng ta chưa hề thấy một bản đồ thế giới nào ghi bờ biển Paracel là ở nam Trung Hoa, ở Phi Luật Tân hay ở Mã Lai. Bản đồ chính thức của Việt Nam ĐNNTTĐ hoàn toàn thống nhất với các bản đồ thế giới trong suốt 5 thế kỷ qua, chủ yếu về địa lý Hoàng Sa – Trường Sa.

Bản đồ ANĐQHĐ – thường gọi là Bản đồ Taberd 1838 – ghi tới khoảng 505 địa danh bằng Quốc ngữ Latinh hoặc tiếng Latinh. Như chính giữa bản đồ Taberd ghi chữ lớn: An Nam quốc seu (hay là) Imperium Anamiticum. Cả Việt Nam khi ấy chia ra: Gia Định Phủ (sau là Nam kỳ), Cocincina interior seu (hay là) An Nam Đàng Trong, Cocincina exterior seu (hay là) Đàng Ngoài hoặc Tunquinum. Các tiểu vương quốc phụ thuộc phía tây thì có: Nam Vang trấn, Miền Lào seu (hay là) Regio Laocesis, Vạn Tượng quốc, Viên Chăn, Mường Long Pha Ban. Theo bản giải lược (Legenda) dịch từ tiếng Việt sang Latinh, Pháp, Anh, ta thấy Taberd ghi trên bản đồ khá nhiều loại địa danh. Trên thềm lục địa và biển Đông tập trung nhiều địa danh nhất: tên các cửa biển, mũi, vũng, cù lao, hòn, rất phong phú và chính xác. Danh mục ghi từ Bắc vào Nam.

An Nam Đại quốc họa đồ

Các (cửa biển) (hải khẩu): Úc, Thái Bình, Hộ, Trà Lý, Lân, Biện, Xiên, Thước, Lác, Triều, Hòn Nê, Bích, Bằng, Hàn Hồn, Thai, Tro, Gianh, Đồng Hới, Tùng, Đại Quảng Ngãi, Sa Huỳnh, Kim Bồng, Tà Phú, Chợ Giả, Giã, Mái Nhà, Đà Rằn, Bàn Thạch, Hòn Khoe, Cam Ranh, Ô Trạm, Lấp, Cần Giờ, Đồng Tranh, Soi Rạp, Tiểu, Đại, Băng Côn, Cổ Chiên, Vàm Rây, Chà Vang, Ba Thắc, Mỹ Thanh, Gành Hàu, Bồ Đề, Lớn, Ông Đốc, Cây Quao, Rạch Giá, Cần Vọt (nay thuộc Campuchia). Cộng là 57 cửa biển.

Mũi đất nhô ra biển thì có: Con Hùm, Lâm Châm, Thống Bình, Sa Kỳ, Sung, Nại (Varella), Cây Sung, Đá Vách, Din, La Gan, Vi Nê, Kê Gà, Bà Kéc, Thùy Vân, Vũng Tàu, Ông Đốc (Cà Mau). Cộng 16 mũi.

Các vũng (vịnh) có: vịnh Vạn Ninh, vũng Đam, vũng Nước Ngọt, vũng Nha Ru, vũng Phan Rí. Cộng là 5 vũng và vịnh.

Có các cù lao: Tin Cậy, Chăm, Ré (Pulo Canton), Xanh (Cambir), Cau (Pulo Cecir Terrae), Thu (Pulo Cecir Maris), Côn Nôn (Pulo Condor), Phú Quốc. Cộng 8 cù lao.

Các hòn nhỏ hơn cù lao có: Ngũ, Hội Thông, An Đâu, Cỏ, Hành, Sơn Chà, Nan, Bàn Than, Lang (Bulati), Đá Khoan, Đồi Mồi, Khói, Tre (Khánh Hòa), Nồi, Tranh, Bà, Khoai (Pulo Ubi), Thổ Châu (Pulo Panjang), Cổ Lôn, Con Ráy, Đất, Tre (Kiên Giang). Cộng 12 hòn. Còn nhiều hòn chưa ghi tên ta như: Insula Piraturium, I.Margaritarum, Septentrionisvia, Luzcinia, Sovel, Auztri Vigilia, Holland Arenaria, Brittos Arenaria, G.Catwich, Pulo, Sâpto, Fratres.

Bản đồ Velho (1580)**

Tóm lại, sau khi phân tích một số địa danh tiêu biểu, ta có thể nhận định về ANĐQHĐ trên mấy đặc điểm dưới đây:

1) Taberd ghi chép địa lý lịch sử Đàng Trong kĩ hơn Đàng Ngoài (số lượng địa danh Đàng Trong phong phú hơn Đàng Ngoài). Địa danh phủ Gia Định bao hàm toàn địa bàn Nam bộ, đã chuyển đổi thành trấn Gia Định từ năm 1802, nhưng Taberd vẫn ghi dạng hành chính cũ. Long Xuyên đạo (Cà Mau) đổi thành Long Xuyên huyện năm 1808, nhưng Taberd không cập nhật và còn ghi nhầm tên một con sông lớn là sông Xuyên Đạo.

2) Taberd ghi chép địa danh và địa bàn 28 trấn theo sự phân bố của thời Gia long. Năm 1832, Minh Mạng đổi 28 trấn cũ thành 29 tỉnh mới. Một số tỉnh được đổi cả danh xưng. Thí dụ: trấn Vĩnh Thanh chia thành 2 tỉnh Vĩnh Long và An Giang. – về hải khẩu Taberd ghi đến 54 tên cửa biển. Những tên này đều nằm trong danh sách 143 hải khẩu của Duyên hải lục do Gia Long thống kê năm 1817.

3) Về dạng thức bản đồ, Taberd vẽ theo các bản đồ Tây phương cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến. Nhưng khi ghi địa danh, Taberd sử dụng chính thức tài liệu của Việt Nam. Hầu như ông chỉ phiên âm từ Hán Nôm sang Quốc ngữ Latinh của những bản đồ do Quốc sử quán đương thời cung cấp. Ông cũng ghi thêm địa danh mà người nước ngoài đặt để trước khi biết đến địa danh thực tế của ta. Xin lấy thí dụ: Pulo Panjang seu (hay là) Thổ Châu – Pulo Ubi – Hòn Khoai. – Pulo condor seu (hay là) Côn Nôn – Tức Khmàu seu (hay là) Cà Mau – Mũi Vịnh Tàu seu (hay là) S.Jacobi prom. –Cù lao Xanh seu (hay là) Cambir. – Hòn Lang seu (hay là) Bubati Insula. – Cù lao Ré (hay là) Pulo Canton.v.v.. – Ở ngoài khơi Biển Đông gần vĩ tuyến 16 và kinh tuyến 112 có ghi Parêcl seu (hay là) Cát Vàng. – Gần Cửa Tùng có ghi Hòn Cỏ – Tigris insula. – Còn một số địa danh theo tiến Tây phương chưa tìm ra địa danh tiếng Việt, như đã nói ở trên. Cách ghi chú địa danh trong và ngoài nước của Taberd giúp việc nghiên cứu những bản đồ cổ xưa Tây phương tìm hiểu đất nước Việt Nam.

4) Đại danh của ta thường có hai hình thức: địa danh hành chính và tục danh. Thí dụ: Biên Hòa là địa danh hành chính có tục danh là Đồng Nai; Gia Định là địa danh hành chính có tục danh là Sài Gòn; đảo Lý Sơn là địa danh hành chính có tục danh là Cù lao Ré…Taberd đã ghi những địa danh hành chính cho các trấn và các đơn vị hành chính lớnđể tránh sự nhầm lẫn, nhưng đã ghi rất nhiều tục danh nôm na cho gần bàn dân thiên hạ, như Cái Mơn, Cái Nhum, Nhà bè, Đất Đỏ, Vườn Tràm, Lái Thiêu, Hòn Nổi, Hòn Tre, Vũng Gù…Đặc biệt với quần đảo giữa Biển Đông có địa danh hành chính là Hoàng sa (chữ Hán), Taberd đã ghi tục danh là Cát Vàng (Nôm) mà người Tây phương gọi là Paracel. Địa danh Cát Vàng là tiếng Việt chỉ có ở Đại Việt xưa và Việt Nam nay, không thể ở đâu khác.

Tóm lại, mặc dầu việc ghi địa danh có vài lỗi nhỏ như Long Xuên đạo thành Sông Xuyên đạo hay Xương Tinh (Nước Stiêng) thành Tinh Xương, ANĐQHĐ của Giám mục Taberd đích thực là một giá trị lịch sử mà không một đồ bản đương thời nào sánh kịp./..

__________________

*Đã bỏ lối vẽ truyền thống Á đông xưa, mà theo phương pháp đồ bản Tây phương khoa học hơn. Nhìn chung, bờ biển hình cong như chữ S, giống hệt như bản đồ hiện đại vẽ trên các đường kinh tuyến và vĩ tuyến. Đặc biệt trên Biển Đông có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Vạn Lý Trường Sa, vẽ thành một khối dài gồm nhiều đảo nhỏ. Hình dáng khối đảo này cũng giống hình dáng quần đảo Paracel mà các bản đồ Tây phương từ thế kỷ thứ XVI ghi chép về Biển Đông và đất nước Việt Nam. Như vậy, Đại Nam nhất thống toàn đồ rất ứng hợp với các bản đồ thế giới suốt bốn thế kỷ.( Chú thích dưới bản đồ)

**Trích Bản đồ vô danh thế giới (1560) theo Bartholomeu Velho, riêng phần biển Đông và đất nước Việt Nam – khi ấy được ghi là Quachym tức Giao Chỉ. Các bản đồ Tây phương đương thời cho tới thế kỷ XVII thậm chí thế kỷ XVIII mới vẽ đúng bờ biển từ Mũi Cà Mau tới Cù Lao Chàm mà thôi. Hầu hết các bản đồ Tây phương đều ghi vẽ khối quần đảo Paracel hay Pracel (Hoàng Sa) kéo dài xuống Nam gồm cả quần đảo Vạn Lý Trường Sa. Bản đồ này ghi rõ bờ biển Hoàng Sa( Costa da Pracel) là ở Việt Nam.(Chú thích dưới bản đồ).

***Bản điện tử của Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam.

(Theo Tạp chí “Xưa và Nay”)
cpv.org.vn

Vấn đề vạch đường biên giới Biển giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng liên quan

Vấn đề vạch đường biên giới biển, đảo giữa Việt Nam và một số quốc gia láng giềng liên quan đang thu hút sự chủ ý của dư luận trong và ngoài nước. Chúng tôi thông tin đến bạn đọc tư liệu quan trọng liên quan đến vấn đề này.

Thái Lan

Năm 1971, Việt Nam quy định phạm vi thềm lục địa phía Nam Việt Nam, trong đó tại khu vực giữa Việt Nam và Thái Lan đường ranh giới đi theo trung tuyến giữa bờ biển các đảo Việt Nam (Thổ Chu) và bờ biển Thái Lan. Năm 1973, Thái Lan quy định ranh giới thềm lục địa theo đường trung tuyến giữa bờ biển Thái Lan và đảo Phú Quốc Việt Nam. Giữa hai bên hình thành vùng chồng lấn rộng khoảng 6.000 km2.

Vùng biển chồng lấn giữa hai quốc gia nằm trong Vịnh Thái Lan là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên bao gồm hải sản, dầu khí.

Hai bên tiến hành đàm phán giải quyết từ năm 1992 – 1997 và đạt được giải pháp qua 6 năm thương lượng. Trong quá trình đàm phán, hai bên đã căn cứa vào pháp luật quốc tế, điều kiện tự nhiên cụ thể của khu vực biển liên quan bao gồm chiều dài hướng chung của đường biển, hiệu lực của đảo, phương pháp vạch đường trung tuyến, tính đến lợi ích của các quốc gia khác có liên quan…

Tháng 8/1997, chính phủ hai quốc gia đã ký hiệp định vạch đường ranh giới vùng biển đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa giữa hai bên theo một đường dài khoảng 74 hải lý (137 km).
Đây là hiệp định về vạch đường biên giới biển đầu tiên Việt Nam ký kết với các quốc gia láng giềng.

Sau khi ký kết, hoạt động quản lý biển, đánh bắt hải sản đi vào nề nếp, tình hình trên biển ổn định, công cuộc thăm dò khai thác dầu khí hai bên đường ranh giới của hai bên được tiến hành mạnh mẽ và đạt được kết quả tích cực. Các công ty dầu khí ở nước ta vừa ra tuyên bố đã phát hiện thương mại đối với bốn mỏ khí lớn ở trên thềm lục địa Việt Nam trong Vịnh Thái Lan.

Hai bên đã triển khai công tác tuần tra chung giữa các lực lượng kiểm tra, kiểm soát trên biển của 2 nước mở rộng hợp tác trong lĩnh vực phòng chống tội phạm trên biển như đánh bắt hải sản trái phép, cướp có vũ trang trên biển… góp phần ổn định tình hình trên biển, tăng cường lòng tin, sự hợp tác và quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Thái Lan.

Malaixia

Trong khu vực cửa Vịnh Thái Lan, giữa Việt Nam và Malaixia có một khu vực chồng lấn hẹp rộng khoảng 2.800 km2. Ranh giới ngoài của thềm lục địa Việt Nam tại khu vực này được quy định năm 1971. Malaixia đưa ra ranh giới của mình năm 1979.

Vào đầu năm 1940 trong khu vực chồng lấn giữa hai quốc gia, đã phát hiện ra ba mỏ dầu khí có thể khai thác thương mại. Năm 1992, hai bên bắt đầu đàm phán và nhânj thấy rằng nếu đi vào bàn vấn đề vạch đường biên giới trong khu vực chồng lấn này thì có thể đòi hỏi phải có nhiều thời gian, không thể khai thác sớm các mỏ dầu khí phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, khu vực chống lấn không quá lớn, có thể hợp tác quản lý.

Do đó, căn cứ vào quy định về biện pháp tạm thời trong khi chờ đợi giải quyết vấn đề biên giới, hai bên nhất trí ký kết thoả thuận về “hợp tác khai thác chung” vùng chồng lấn từ năm 1992 trên cơ sở bình đẳng về mọi mặt: vốn đầu tư, chia lợi nhuận, quản lý, không ảnh hưởng đến giải pháp vạch đường biên giới sau này. Hai bên giao cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam (Petro Việt Nam) và Tổng công ty Dầu khí quốc gia Malaixia (Petronas) thay mặt hai Chính phủ ký kết và thực hiện thoả thuận thương mại hợp tác khai thác, lập uỷ ban điều phối chung.

Đây là thoả thuận về hợp tác khai thác chung dầu khí đầu tiên của nước ta với các quốc gia láng giềng.

Các mỏ thuộc khu vực chồng lấn Việt Nam – Malaixia là khu vực mỏ thứ ba sản xuất khai thác thương mại dầu khí của nước ta, tăng cường khả năng xuất khẩu và đem lại nguồn ngoại tệ lớn, phục vụ sự nghiệp xây dựng kinh tế, góp phần phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam và Malaixia.

Trung Quốc

Ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 30/6/2004.

Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, rộng khoảng 126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất khoảng 220 km (119 hải lý). Vịnh là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên về hải sản, có tiềm năng quan trọng. Từ lâu, nhân dân hai quốc gia đã tiến hành sử dụng, khai thác vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ. Cuộc đàn phán giữa 2 nước về Vịnh Bắc Bộ bắt đầu từ năm 1974 qua 3 giai đoạn 1974, 1977 – 1978 và 1992 – 2000, kéo dài trong khoảng 27 năm.

Căn cứ vào Công ước 1982, giữa hai bên phải vạch đường biên giới biển trong lãnh hải ở khu vực cửa sông Bắc Luân, vạch đường ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh. Nếu hai quốc gia đều định vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý thì do khoảng cách giữa bờ biển hai bên chưa đến 200 hải lý nên hầu hết Vịnh Bắc Bộ trở thành vùng chồng lấn, rất khó khăn cho công tác quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ.

Năm 1993, hai bên đã đi đến thỏa thuận nguyên tắc về vấn đề vạch đường biên giới biển trong Vịnh Bắc Bộ là: “Hai bên đồng ý sẽ áp dụng luật biển quốc tế và tham khảo thực tiễn quốc tế để tiến hành đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ; nhằm đặt thoả thuận về phân định Vịnh Bắc Bộ, hai bên cần theo nguyên tắc công bằng và tính đến mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh để đi đến một giải pháp công bằng”. Thoả thuận nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Từ năm 1994 – 2000, hai bên đã đàm phán cụ thể trong vòng bảy năm. Trong đàm phán, hai bên đã trao đổi về pháp luật quốc tế áp dụng trong hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Vịnh Bắc Bộ, tính đến các hoàn cảnh tự nhiên có liên quan như chiều dài và hướng đi, hình thái chung của đường bờ biển của mỗi bên, sự hiện diện và hiệu lực của các đảo trong khu vực Vịnh, kiểm tra tính công bằng của thoả thuận theo phương thức của Toà án quốc tế. Kết quả là hai bên đã thống nhất vạch một đường biên giới nối 21 điểm, trong đó đoạn từ điểm 1 – 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 – 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. đường biên giới biển này trong Vịnh Bắc Bộ dài tổng cộng khoảng 500 km.

Theo đường hoạch định, phía Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh. Trung Quốc được 46,77% diện tích vịnh. Về diện tích, vùng biển phía Việt Nam hơn phía Trung Quốc khoảng 8.205 km2. Các đảo ven bờ Đông Bắc Việt Nam có hiệu lực một phần, đảo Bạch Long Vĩ nằm xa ngoài giữa vịnh gần đường biên giới nhưng vẫn có hiệu lực 25%, đảo Cồn Cỏ có hiệu lực 50%. Tất cả các kết quả này đạt được là do hai bên áp dụng luật quốc tế, bao gồm cả việc sử dụng phương pháp đường trung tuyến có điều chỉnh và được quyết định bởi yếu tố điều kiện và hoàn cảnh địa lý tự nhiên khách quan của Vịnh Bắc Bộ. Kiểm nghiệm về công bằng, tính tỷ lệ chiều dài bờ biển hai bên so với tỷ lệ diện tích đạt được đều là 1, 1/1 nên kết quả trên là công bằng.

Đây là hiệp định vạch biên giới biển biển thứ hai Việt Nam ký với nước liên quan, nhưng là một hiệp định có ý nghĩa hết sức lớn lao vì lần đầu tiên trong lịch sử đã vạch được đường biên giới chung giữa hai quốc gia trong một vịnh lớn, có tầm quan trọng đặc biệt về mọi mặt đối với cả hai quốc gia trong một vịnh lớn, có tầm quan trọng đặc biệt về mọi mặt đối với cả hai quốc gia, bảo đảm công bằng cho cả hai bên.

Campuchia

Việt Nam và Campuchia là hai quốc gia láng giềng kế cận nhau. Hai bên có vấn đề xác định rõ chủ quyền hải đảo và vạch đường biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.

Căn cứ vào thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế, năm 1982, hai bên đã ký hiệp định về vùng nước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của bên theo một đường mà Toàn quyền Đông Dương Brévíe đề xuất năm 1939, thiết lập một vùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý, hoạt động đánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán như cũ, mọi hoạt động liên quan đến thăm dò dầu khí phai có ý kiến nhất trí của bên kia.

Hiện nay, giữa hai bên chỉ còn tồn tại vấn đề vạch đường biên giới biển chung trong vùng nước lịch sử, lãnh hải và ranh giới biển chung trong vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.

Năm 1983, Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Campuchia đã nêu rõ hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề tồn tại theo tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai quốc gia, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế.

Đến nay, hai nước cam kết thực hiện hiệp ước bổ sung hiệp ước hoạt động biên giới năm 1985 và tháng 10/2005 cả hai nhà nước đều bày tỏ cam kết tôn trọng các hiệp ước, hiệp định về biên giới mà hai bên đã ký kết trong những năm 1980 và trên cơ sở đó, đang tiếp tục đàm phán giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn tại để sớm xây dựng được biên giới hoà bình, hữu nghị hợp tác trên đất liền, trên biển giữa hai quốc gia.

Inđônêxia

Inđônêxia là quốc gia láng giềng có quy chế quốc gia quần đảo nằm ở tương đối xa Việt Nam. Giữa hai quốc gia có vấn đề vạch ranh giới chung vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa. Vùng biển chồng lấn giữa hai nước trong thời gian tới, 2 bên sẽ tiếp tục giải quyết và được phân định về đặc quyền kinh tế. Tạo điều kiện giữ gìn môi trường hoà bình ổn định, phù hợp với Luật biển quốc tế trên biển Đông, tạo cơ hội mới cho việc đầu tư và thăm dò dầu khí trên lục địa của 2 nước. Quốc gia rộng khoảng 40.000 km2.

Hai quốc gia đã tiến hành đàm phán giải quyết từ năm 1978 trên cơ sở áp dụng pháp luật và thực tiễn quốc tế vào điều kiện tự nhiên cụ thể của vùng biển chồng lấn liên quan. Trong quá trình giải quyết, hai bên đã xem xét các khía cạnh như ảnh hưởng của quy chế quốc gia quần đảo trong vạch biên giới biển, hiệu lực của các đảo như Côn Đảo của Việt Nam và các đảo Natuna Bắc của Inđônêxia, chiều dài hướng chung của đường bờ biển có liên quan của mỗi bên, sự kéo dài tự nhiên của thềm lục địa, việc áp dụng hợp lý phương pháp vạch đường trung tuyến… nhằm cố gắng đạt được một giải pháp công bằng.

Quá trình đàm phán kéo dài khoảng 26 năm từ 1978 – 2003, ngày 26/6/2003, hai nước đã ký kết hiệp định về phân định thềm lục địa và đạt được thảo thuận và lập được đường biên giới trên biển đầu tiên giữa 2 quốc gia. Việc ký kết Hiệp định đã giải toả được vấn đề duy nhất còn tồn tại trong quan hệ tốt đẹp giữa nước ta và Inđônêxia, tạo điều kiện gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định, phù hợp với Luật biển quốc tế trên Biển Đông, tạo cơ hội mới cho việc tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí trên thềm lục địa 2 nước. Trong thời gian tới, hai bên sẽ tiếp tục giải quyết vấn đề phân định vùng đặc quyền kinh tế.

Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề biên giới biển với các quốc gia liên quan.

Vấn đề hoạch định đường biên giới biển với các quốc gia liên quan là một vấn đề hết sức quan trọng và thiêng liêng vì nó liên quan đến chủ quyền, quyền chủ động, quyền tài phán quốc gia, đến lợi ích quốc gia, đồng thời đây cũng là một vấn đề hết sức mới mẻ, phức tạp và khó khăn.

Một quốc gia không thể áp đặt ý chí đơn phương của mình về biên giới cho một quốc gia láng giềng khác trái với pháp luật và thực tiễn quốc tế. Việc vạch đường biên giới trên biển giữa các quốc gia láng giềng đòi hỏi phải áp dụng chặt chẽ pháp luật và thực tiễn quốc tế trong điều kiện và hoàn cảnh tự nhiên cụ thể, mỗi quốc gia vừa phải bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình nhưng đồng thời cũng phải tôn trọng quyền và lợi ích chính đáng được pháp luật và thực tiễn quốc tế thừa nhận của các quốc gia láng giềng.

Việc giải quyết tốt đẹp về kế hoạch định biên giới biển giữa Việt Nam với các quốc gia liên quan vừa qua là sự quán triệt và thể hiện chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề biên giới với các quốc gia láng giềng, đàm phán giải quyết trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, phù hợp với hoàn cảnh khách quan nhằm đạt được một giải pháp công bằng các bên đều chấp nhận được. Kết quả đàm phán giải quyết đã giúp từng bước xác định rõ phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng, khai thác và quản lý, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia láng giềng, giảm nguy cơ tranh chấp xung đột, giữ gìn hoà bình và ổn định trên vùng biển chung quanh của đất nước.

Theo tài liệu tuyên truyền biển đảo 2006

cpv.org.vn

Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Về việc tăng cường phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam

Trong những năm qua, các bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là chính quyền địa phương ven biển) đã có nhiều cố gắng trong công tác phối hợp quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, góp phần giữ vững sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế của đất nước.

Tuy nhiên, trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam còn xảy ra nhiều vụ việc nghiêm trọng, làm thiệt hại đến tính mạng, tài sản của nhân dân, nguồn lợi hải sản của đất nước và môi trường biển, thậm chí vi phạm chủ quyền nước ta, ảnh hưởng bất lợi đến quan hệ đối ngoại.

Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do công tác tuyên truyền, giáo dục đối với nhân dân, nhất là ngư dân hoạt động trên biển về chủ quyền vùng biển Việt Nam chưa sâu, chưa thường xuyên; việc tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ của các ngành, các cấp liên quan còn nhiều hạn chế, nhất là sự phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng chưa tạo nên sức mạnh tổng hợp và chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ quản lý trên biển; việc gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên các vùng biển đảo với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, an ninh trong một số lĩnh vực thiếu đồng bộ, hiệu quả chưa cao.

Để khắc phục tình trạng trên, nhằm tăng cường công tác phối hợp quản lý, bảo vệ chủ quyền và an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Biên giới quốc gia, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành và các địa phương có liên quan triển khai thực hiện tốt các công việc sau đây:

1. Bộ Quốc phòng:

a) Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển đã được pháp luật quy định, Bộ Quốc phòng phân công rõ phạm vi hoạt động và xác định rõ trách nhiệm của từng lực lượng trên từng vùng biển cụ thể, nhất là vùng biển Vịnh Bắc Bộ và vùng biển Tây Nam; đồng thời Bộ Quốc phòng chủ trì chỉ đạo các Quân khu và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương xây dựng cơ chế phối hợp, hiệp đồng giữa các lực lượng tại mỗi địa bàn cụ thể; đảm bảo trên các vùng biển trọng điểm luôn có lực lượng hoạt động tuần tra, kiểm soát, xử lý kịp thời các tình huống có thể xảy ra.

b) Chỉ đạo Cục Cảnh sát biển và Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, phối hợp hiệp đồng với các bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương ven biển trong :
– Quản lý, tuần tra, kiểm soát bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.
– Xây dựng kế hoạch bảo vệ ngư dân hoạt động khai thác hải sản trên các vùng biển xa.
– Tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho những người hoạt động trên biển về chủ quyền vùng biển Việt Nam; âm mưu, phương thức thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm trên biển; hướng dẫn biện pháp đấu tranh, nhất là chống trấn cướp biển. Trên cơ sở đó, phát động phong trào quần chúng tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

c) Chỉ đạo Bộ đội Biên phòng và lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam phối hợp với các lực lượng, các ngành tham mưu cho Bộ Quốc phòng và chính quyền các địa phương ven biển đối sách xử lý các hành vi xâm phạm chủ quyền, an ninh trật tự của người, phương tiện nước ngoài trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Thông tin kịp thời và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng của Bộ Ngoại giao để xử lý các vụ việc xảy ra trên biển liên quan đến nước ngoài.

2. Bộ Công an:

a) Phối hợp với Bộ Quốc phòng triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 107/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 6 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong tình hình mới và Nghị định của Chính phủ số 161/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 12 năm 2003 về Quy chế khu vực biên giới biển. Chú trọng trao đổi thông tin tình hình và biện pháp phối hợp xử lý các tình huống phức tạp về an ninh, trật tự ở các xã, phường, thị trấn thuộc khu vực biên giới biển.

b) Chỉ đạo Công an các địa phương ven biển phối hợp với Bộ đội Biên phòng và Cảnh sát biển đấu tranh phòng chống có hiệu quả đối với hoạt động xâm hại an ninh quốc gia, các tội phạm về buôn lậu, trấn cướp biển; vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng chất nổ khai thác thủy sản của bọn tội phạm hoạt động ở các xã, phường, thị trấn thuộc khu vực biên giới biển.

c) Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy phối hợp với Bộ đội Biên phòng và ngành thủy sản tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho người hoạt động trên biển chấp hành các quy định liên quan đến bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa nhằm hạn chế những thiệt hại xảy ra do tai nạn, đâm va trên đường thủy nội địa.

3. Bộ Ngoại giao:

a) Chỉ đạo, hướng dẫn các ngành, địa phương liên quan báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý biên giới biển, các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các Điều ước quốc tế về phân định biên giới quốc gia trên biển được ký kết giữa nước ta với các nước láng giềng. Thúc đẩy đàm phán giải quyết tranh chấp trên biển, phân định các vùng biển và thềm lục địa với các nước liên quan; xác định phạm vi, chủ quyền và các quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên các vùng biển, hải đảo và thềm lục địa.

b) Hướng dẫn chính quyền địa phương ven biển và các bộ, ngành liên quan về chủ trương, đối sách trong xử lý các vụ việc xảy ra trên biển có liên quan đến nước ngoài; đồng thời chủ động, kịp thời trao đổi thông tin liên quan để chính quyền địa phương ven biển và bộ, ngành liên quan phối hợp thực hiện.

4. Bộ Thủy sản:

a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và chính quyền địa phương liên quan tiếp tục thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc nghiêm cấm sử dụng xung điện, chất nổ, chất độc để khai thác thủy sản.

b) Tăng cường chỉ đạo lực lượng Kiểm ngư phối hợp chặt chẽ với Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển để kiểm tra, kiểm soát các hoạt động nghề cá trên biển. Hướng dẫn, tổ chức thông tin, thông báo, chỉ đạo kịp thời, bảo đảm an toàn cho ngư dân ta hoạt động trên các vùng biển Việt Nam.

c) Phối hợp với Bộ Tư pháp, chính quyền các địa phương ven biển, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển và Bộ Ngoại giao (Ban Biên giới) biên soạn tài liệu và tổ chức tuyên truyền, giáo dục sâu rộng cho ngư dân về chủ quyền các vùng biển Việt Nam, không vi phạm vùng biển nước khác khai thác hải sản dẫn đến bị bắt, xử lý.

d) Nghiên cứu đề xuất phương án đàm phán hợp tác nghề cá với một số nước trong khu vực nhằm tạo môi trường ổn định, trật tự an toàn trên các vùng biển.

5. Bộ Giao thông vận tải:

a) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông đường thủy nội địa và an toàn hàng hải.

b) Phối hợp với Bộ Tư pháp và các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện công tác phổ biến, tuyên truyền các quy định pháp luật về an toàn giao thông đường thủy nội địa, an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường.

6. Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư:

a) Bảo đảm kinh phí cho các bộ, ngành và địa phương tổ chức thực hiện Chỉ thị này; thẩm định dự toán, cấp kịp thời kinh phí cho các hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam theo kế hoạch ngân sách được Chính phủ phê duyệt hàng năm; phối hợp với các bộ, ngành liên quan và ủy ban nhân dân cấp tỉnh kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài chính – ngân sách được cấp.

b) Bộ Tài chính chỉ đạo Tổng cục Hải quan phối hợp với các bộ, ngành và chính quyền địa phương ven biển làm tốt công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới biển và các hành vi vi phạm pháp luật hải quan khác.

7. Các bộ, ngành khác có liên quan và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương:

a) Các bộ, ngành khác có liên quan: Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động trên biển được pháp luật quy định, khi hoạt động trên biển phải phối hợp chặt chẽ với lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng để hỗ trợ khi cần thiết và phối hợp tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Thực hiện tốt công tác phối hợp nhằm khắc phục tình trạng trên một vùng biển, cùng một thời điểm có nhiều lực lượng kiểm tra, kiểm soát hoạt động, gây phiền hà cho người, phương tiện sản xuất.

b) Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương: Chỉ đạo các ngành chức năng tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân hiểu biết về chủ quyền vùng biển Việt Nam; xây dựng phong trào quần chúng tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự trên các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam; đồng thời có ý thức tôn trọng, không xâm phạm chủ quyền vùng biển của các nước khác.

8. Tổ chức thực hiện:

Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Chỉ thị này.

Giao Bộ Quốc phòng chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện Chỉ thị; hàng năm, Bộ Quốc phòng có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về kết quả tổ chức thực hiện Chỉ thị này./.

BTS
Theo tài liệu tuyên truyền biển đảo 2005-2006

cpv.org.vn