Tag Archive | Việt Nam – Trung Quốc

Biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển (I. Các văn bản song phương – 4)

TÓM TẮT NGHỊ ĐỊNH THƯ VỀ PHÂN GIỚI CẮM MỐC BIÊN GIỚI TRÊN ĐẤT LIỀN VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

Ngày 18 tháng 11 năm 2009, Đại diện Chính phủ hai nước Việt Nam và Trung Quốc đã ký Nghị định thư về công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Ngày 14 tháng 7 năm 2010, Đại diện Chính phủ hai nước đã tuyên bố Nghị định thư về phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc có hiệu lực.

Tiếp tục đọc

Hiểu thế nào về nội dung Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc

Trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ 11 đến 15-10-2011), ta và Trung Quốc đã ký Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (gọi tắt là Thỏa thuận). Việc ký kết Thỏa thuận có ý nghĩa hết sức quan trọng nhất là trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang diễn biến hết sức phức tạp. Nội dung Thỏa thuận còn một số điểm chưa thật sự rõ ràng, song có thể nói Thỏa thuận đã xác định được một số nguyên tắc cơ bản định hướng cho việc giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Để hiểu và có cách nhìn đúng đắn về những nội dung của Thỏa thuận vừa được ký kết, chúng ta hãy đi sâu phân tích những nội dung chính của Thỏa thuận.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa – một lễ hội truyền thống
 tái hiện các hoạt động của những người dân đảo Lý Sơn
 ra cai quản Hoàng Sa thời Nguyễn

Một là, nội dung về tìm kiếm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông nêu tại điều 2 của Thỏa thuận đã xác định căn cứ vào luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 mà cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên để giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Đây là một nội dung đặc biệt quan trọng vì nó sẽ là cơ sở pháp lý để hai bên đi vào trao đổi giải quyết vấn đề trên biển. Nếu hai bên tuân thủ nghiêm túc nguyên tắc này thì nhất định sẽ tìm ra được giải pháp công bằng hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

Trong điều 2 của Thỏa thuận cũng nêu rõ “cần tôn trọng đầy đủ các chứng cứ pháp lý” nghĩa là những bằng chứng, tài liệu mang tính pháp lý sẽ được lấy làm cơ sở chính để giải quyết các tranh chấp, còn các yếu tố khác như lịch sử, địa hình… sẽ được xem xét như một yếu tố bổ trợ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Điều này hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế trong việc giải các tranh chấp về biên giới lãnh thổ trên thế giới. Thực tiễn giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ cho thấy yếu tố lịch sử cùng với các yếu tố liên quan khác như địa hình, quản lý trên thực tế chỉ được tính đến một khi các chứng cứ pháp lý chưa rõ ràng. Với nội dung này thì những văn bản pháp lý về chủ quyền của các Nhà nước phong kiến Việt Nam như các Châu bản, Sắc chỉ… sẽ là những tài liệu hết sức quý giá khi giải quyết vấn đề quần đảo Hoàng Sa vì đây là những tài liệu thể hiện rõ sự quản lý của Nhà nước ta đối với quần đảo Hoàng Sa. Yếu tố lịch sử ở đây không có nghĩa là nói về yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc vì trong lịch sử chưa bao giờ Trung Quốc có sự quản lý trên thực tế đối với “đường lưỡi bò”, hơn thế nữa “đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và không nhận được sự ủng hộ của bất cứ nước nào.

Hai là, điều 3 của Thỏa thuận nêu rõ “trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”. Nội dung này có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. DOC là văn kiện quan trọng được ký kết giữa ASEAN và Trung Quốc, trong đó đã đưa ra nhiều quy định (gồm: tôn trọng tự do hàng hải và tự do bay ở Biển Đông; kiềm chế các hoạt động có thể làm phức tạp thêm tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định; cam kết tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin; có thể tìm kiếm và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trong khi tìm kiếm giải pháp toàn diện lâu dài cho vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và quan trọng nhất là quy định về việc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông) mà các bên liên quan cần nghiêm túc thực hiện để duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Vừa qua, ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Quy tắc hướng dẫn thực hiện DOC, do vậy việc thực hiện nghiêm túc các nội dung DOC là trách nhiệm của mỗi bên tham gia ký kết.

Ba là, một nội dung hết sức quan trọng thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Việt Nam về phương thức giải quyết vấn đề trên biển là cả song phương lẫn đa phương đã được ghi nhận trong điều 3 của Thỏa thuận là “đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam – Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác”. Điều này có nghĩa là Việt Nam – Trung Quốc chỉ có thể giải quyết các vấn đề tranh chấp giữa hai nước, như tranh chấp Hoàng Sa, cửa vịnh Bắc Bộ, không thể giải quyết các tranh chấp liên quan đến các bên khác, như vấn đề Trường Sa. Đây cũng là lần đầu tiên Trung Quốc ký kết một văn bản chính thức trong đó nói rõ tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì phải trao đổi ý kiến với các bên đó. Nội dung này của Thỏa thuận đã mở ra khả năng về giải quyết đa phương tranh chấp ở Biển Đông. Điều này là phù hợp với quan điểm chung của các nước trong và ngoài khu vực, phù hợp với thực tế tranh chấp ở Biển Đông và phù hợp với xu thế giải quyết các tranh chấp liên quan đến nhiều bên trong quan hệ quốc tế hiện đại.

Vấn đề Biển Đông hết sức phức tạp liên quan đến lợi ích của nhiều nước, nhiều bên. Với nội dung này trong điều 3 của Thỏa thuận, chúng ta có thể hiểu rằng đối với việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông thì những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam – Trung Quốc như vấn đề phân định vùng biển chồng lấn ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và vấn đề quần đảo Hoàng Sa sẽ được trao đổi giải quyết song phương giữa Việt Nam – Trung Quốc; vấn đề quần đảo Trường Sa sẽ phải bàn bạc giải quyết giữa các bên liên quan trong tranh chấp; vấn đề duy trì hòa bình ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông cần phải trao đổi bàn bạc giữa tất cả các bên liên quan và có lợi ích trong vấn đề này.

Bốn là, một nội dung đáng chú ý trong Thỏa thuận là tại điều 4 hai bên xác định “trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, hai bên bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thoả thuận này”.

Với nội dung này, hai bên đã đưa ra khả năng về một giải pháp mang tính quá độ đối với các khu vực tranh chấp, bao gồm cả việc hợp tác cùng phát triển theo nguyên tắc đã nêu ở điều 2 của Thoả thuận, nghĩa là căn cứ vào luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982. Giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển là phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế. Dàn xếp tạm thời về “hợp tác cùng phát triển” được khuyến nghị trong Điều 74 và Điều 83 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982. Theo đó, các quốc gia khi chưa tìm được giải pháp phân định thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế thì có thể thoả thuận về các dàn xếp tạm thời mang tính thực tiễn; các dàn xếp tạm thời không làm phương hại đến kết quả phân định cuối cùng. Trên thế giới đã có nhiều thoả thuận về các dàn xếp tạm thời “hợp tác cùng phát triển” dưới nhiều hình thức và trong các lĩnh vực khác nhau (nghề cá, dầu khí…). Ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có: Hiệp định về khai thác chung Nhật Bản – Hàn Quốc năm 1974 ở khu vực biển chồng lấn giữa hai nước; Hiệp định về phát triển chung vùng biển chồng lấn ở Biển Đông Timor giữa Úc và Indonesia năm 1989. Năm 1992, Việt Nam cũng đã ký với Malaysia Thoả thuận về khai thác chung dầu khí tại 01 khu vực biển chồng lấn giữa hai nước và đến nay đang được triển khai.

Thoả thuận đã cho thấy thái độ và tinh thần hợp tác nhằm duy trì hoà bình ổn định trên biển. Một điều cần nhấn mạnh trong nội dung này là điều 76 của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 cũng quy định rõ mỗi quốc gia ven biển có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý tính từ đường cơ sở, thậm chí có thể mở rộng ra đến 350 hải lý. Như vậy, giải pháp quá độ tạm thời, hợp tác cùng phát triển theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 là phải tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa tối thiểu của mỗi quốc gia ven biển. Do vậy, hợp tác cùng phát triển chỉ có thể được thực hiện ở những khu vực thực sự có tranh chấp ngoài thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam.

Ngoài ra, Thoả thuận đã nêu ra một số nguyên tắc khác là giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn. Hai bên cũng đã nhất trí cơ chế gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ 2 lần/năm; thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thoả đáng vấn đề trên biển.

Kết quả đàm phán luôn là một sự dung hoà của các mối lợi ích để tìm ra tiếng nói chung mà hai bên đều có thể chấp nhận được chứ không thể đòi hỏi chỉ giành phần thắng lợi về mình. Nội dung Thoả thuận về cơ bản đã đảm bảo được những nguyên tắc lớn trong quan điểm lập trường của Việt Nam là giải quyết tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982; thực hiện nghiêm túc DOC nhằm duy trì hoà bình ổn định ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp ở Biển Đông cả song phương lẫn đa phương; hợp tác cùng phát triển phải phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, nghĩa là tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các quốc gia ven biển.

Tóm lại, với những nội dung phân tích trên đây thì việc ký kết Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển đã tạo cơ sở pháp lý cho việc bàn bạc giải quyết các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc. Tình hình Biển Đông sẽ còn diễn biến phức tạp, công việc tiếp theo sẽ còn hết sức khó khăn. Để có thể tìm kiếm một giải pháp quá độ tạm thời hay giải pháp lâu dài cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông đòi hỏi nỗ lực và thiện chí của cả hai bên, nhất là cần thực hiện nghiêm túc những nguyên tắc đã được xác định trong Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Mặt khác, vấn đề Biển Đông là vấn đề nhạy cảm được cả cộng đồng quốc tế quan tâm, do vậy trong quá trình giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan ở Biển Đông, cần thực hiện công khai hoá, minh bạch hoá. Việc đăng toàn văn Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển ngay sau khi ký kết là cách làm đúng đắn, cần tiếp tục được thực hiện trong thời gian tới.

Hoàng Trường

daidoanket.vn

Công tác biên giới lãnh thổ: Năm kết quả nổi bật

Thứ trưởng, Chủ nhiệm UBBGQG Hồ Xuân Sơn và Trung tướng Trần Hoa, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng ký Quy chế p/hợp công tác quản lý, bảo vệ biên giới

Hoàn thành trọn vẹn việc giải quyết biên giới trên đất liền Việt – Trung, bội thu trong việc tôn tạo mốc giới với Lào, tăng gần gấp đôi vị trí mốc với Campuchia, xử lý hài hòa biển Đông… là những thành tựu cơ bản về công tác biên giới lãnh thổ trong năm 2010, theo ông Hồ Xuân Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia trong cuộc trả lời phỏng vấn TG&VN.

Năm 2010 đánh dấu một mốc son của những người làm công tác biên giới lãnh thổ, đó là kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Ủy ban Biên giới quốc gia và đón nhận Danh hiệu Anh hùng lao động. Xin Thứ trưởng cho biết những kết quả chính của công tác biên giới lãnh thổ trong năm qua?

Năm 2010, dưới sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng và Chính phủ, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, địa phương hữu quan và sự nỗ lực của cán bộ Ủy ban Biên giới Quốc gia, chúng ta đã giành được những kết quả đáng khích lệ trên tất cả mặt trận của công tác biên giới lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biên giới, an ninh quốc gia, góp phần duy trì môi trường quốc tế hòa bình ổn định cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Kết quả thể hiện ở 5 điểm sau:

Một là, với việc chính thức đưa các văn kiện biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc ngày 14/7/2010, thực hiện quản lý theo đường biên giới mới, chúng ta đã hoàn thành một cách trọn vẹn việc giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc. Chúng ta đã phối hợp chặt chẽ với các ngành và địa phương hữu quan của Trung Quốc tích cực triển khai công tác bàn giao đường biên, mốc giới, phá bỏ mốc cũ; giải quyết các vướng mắc như việc thu hoạch cây lâu năm, hoa màu của cư dân biên giới và xúc tiến việc thành lập Ủy ban liên hợp biên giới, cử các Đại diện biên giới.

Hai là, trong công tác tăng dày tôn tạo mốc giới với Lào, năm 2010 có thể coi là năm bội thu với việc hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra (xác định được 250 vị trí mốc vượt 9 vị trí so với kế hoạch, cắm 249 cột mốc), trong đó bao gồm cả số mốc giới tồn đọng chưa làm được trong năm 2009. Số lượng vị trí mốc xác định vượt chỉ tiêu không lớn, song thể hiện nỗ lực rất lớn của cả hai bên vì công tác cắm mốc được triển khai trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, địa hình vùng núi hiểm trở.

Ba là, chúng ta đã nỗ lực nghiên cứu, chủ động đề xuất các sáng kiến, giải pháp thúc đẩy tiến độ phân giới cắm mốc với Campuchia như lập adhoc nghiên cứu giải pháp, lập thêm nhóm phân giới cắm mốc, tăng cường các Tổ công tác hỗ trợ trực tiếp xuống các đội phân giới cắm mốc tại thực địa…, tạo chuyển biến rõ rệt trong công tác phân giới cắm mốc trên tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia. Nếu như cả năm 2009 hai bên chỉ xác định được 49 vị trí mốc thì năm 2010 là 83 vị trí; đặc biệt, hai bên đã giải quyết dứt điểm được một số vị trí mốc tồn đọng.

Bốn là, công tác biển đảo có thể coi là một điểm nhấn trong công tác biên giới lãnh thổ năm 2010. Trong bối cảnh tình hình phức tạp, thuận lợi và khó khăn đan xen, chúng ta đã xử lý hài hòa vấn đề Biển Đông, giữ vững chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của đất nước; kiên quyết phản đối các hoạt động vi phạm chủ quyền lãnh thổ. Đồng thời, chúng ta tích cực, chủ động thúc đẩy đàm phán về các vấn đề trên biển như tiến hành 5 vòng đàm phán về Thoả thuận những nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, thúc đẩy đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam – Indonesia và phối hợp với Malaysia thúc đẩy việc xem xét Báo cáo chung xác định Ranh giới ngoài thềm lục địa. Đặc biệt, trong ba cuộc gặp giữa Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam – Trung Quốc, chúng ta đã khẳng định rõ quan điểm, chủ trương nhất quán của ta trên vấn đề Biển Đông, trong đó có vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trên cương vị Chủ tịch ASEAN, chúng ta đã cùng ASEAN và các nước liên quan thảo luận và đạt nhất trí về các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực, trong đó có việc thúc đẩy thực hiện nghiêm túc DOC, đóng góp tích cực vào việc duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông. Công tác biên giới lãnh thổ cũng hỗ trợ tích cực cho việc bảo vệ quyền lợi của ngư dân ta và triển khai các hoạt động kinh tế biển, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết TW 4 về chiến lược biển Việt Nam.

Năm là, chúng ta đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền về biên giới lãnh thổ, trong đó tập trung tuyên truyền về các văn kiện biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc và về vấn đề biển đảo. Bất chấp sự tấn công phá hoại từ bên ngoài, Ủy ban đã duy trì hoạt động thường xuyên của trang thông tin điện tử biengioilanhtho.gov.vn. Sau 1 năm, trang thông tin đã có khoảng 400.000 người từ 60 quốc gia truy cập với hơn 45 triệu lượt, bình quân gần 4 triệu lượt người/tháng.

Sau khi hoàn thành quá trình giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc, công tác biên giới lãnh thổ trong năm 2011 tiếp tục với việc giải quyết vấn đề phân giới cắm mốc với Campuchia, tăng dày tôn tạo mốc giới trên tuyến biên giới Việt – Lào và giải quyết vấn đề Biển Đông. Xin Thứ trưởng cho biết về triển vọng các công việc này.

Công việc liên quan đến phân giới cắm mốc với Campuchia còn rất ngổn ngang, để có thể hoàn thành công tác này trong năm 2012 như đã thỏa thuận cần có sự nỗ lực cao từ cả hai phía. Ủy ban xác định năm 2011 là năm bản lề trong công tác phân giới cắm mốc với Campuchia, chúng ta cần phấn đấu cơ bản hoàn thành cắm mốc trên thực địa toàn tuyến biên giới Việt Nam – Campuchia.

Về công tác tăng dày tôn tạo mốc giới với Lào thì chúng ta đã có một năm 2010 khá thành công. Nếu cứ với đà này thì hai bên hoàn toàn có thể cơ bản hoàn thành công việc trên thực địa trong năm 2011 để tập trung vào hoàn thiện hồ sơ mốc giới, bắt tay vào xây dựng Nghị định thư về phân giới cắm mốc và trao đổi về Hiệp định Quy chế quản lý biên giới mới. Ủy ban sẽ tiếp tục cố gắng, phối hợp chặt chẽ với các bạn Lào phấn đấu hoàn thành toàn bộ công tác tăng dày tôn tạo mốc giới trên tuyến biên giới Việt – Lào đúng thời hạn 2014.

Trọng tâm công việc trên tuyến biên giới đất liền Việt – Trung là triển khai có hiệu quả các văn kiện đã ký kết, thực thi quản lý theo đường biên giới mới, trong đó cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế giữa 2 bên biên giới và duy trì trật tự trị an trên vùng biên giới.

Trong vấn đề Biển Đông, chúng ta kiên trì chủ trương giải quyết các tranh chấp thông qua biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật biển 1982. Với tinh thần đó, chúng ta sẽ chủ động thúc đẩy đàm phán với các bên liên quan để giải quyết từng vấn đề theo phương châm dễ trước khó sau. Trước mắt, chúng ta sẽ cùng các bên liên quan tích cực thúc đẩy triển khai thực hiện DOC, tiến tới COC nhằm duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông vì đây là lợi ích chung của tất cả các nước trong và ngoài khu vực; thúc đẩy đàm phán với Trung Quốc về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, đàm phán với Indonesia về phân định vùng đặc quyền kinh tế….

Xin cảm ơn Thứ trưởng!
Hạnh Diễm (thực hiện)