Tag Archive | Xã hội

“Sự thật về Thác Bản Giốc” và nhận thức sai lầm về chủ quyền lịch sử

(GDVN) – Những người vẫn còn đang theo đuổi “chủ quyền lịch sử, quan điểm lịch sử và bằng chứng lịch sử” để chỉ trích Việt Nam bán đất cho TQ ở Thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan hay sông Bắc Luân, thử hỏi họ có thể chấp nhận được quan điểm vô lý của một số người Campuchia như Sam Rainsy khi đòi “chủ quyền” đối với đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, thậm chí là cả Nam Bộ của Việt Nam hay không? Tôi tin là hoàn toàn không. Tiếp tục đọc

Advertisements

Vì chuyện Biển Đông, Trung Quốc “hãm” gạo Philippines dự triển lãm?

 Vì chuyện Biển Đông, Trung Quốc hãm gạo Philippines dự triển lãm?(GDVN) – Các doanh nghiệp Philippines nói rằng họ đã bị phía Trung Quốc cố tình dùng thủ tục hải quan để giữ chân các sản phẩm của họ tham dự triển lãm Trung Quốc – ASEAN, một hội chợ thương mại đầu tư thường niên được tổ chức tại Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc trong bội cảnh tranh chấp lãnh thổ đang leo thang trên Biển Đông. Tiếp tục đọc

Chủ tịch nước đánh giá cao Hải quân trong bảo vệ chủ quyền

Chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Hải quân, Chủ tịch nước đánh giá cao quyết tâm của Hải quân Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ gìn môi trường hòa bình.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc Tết cán bộ, chiến sĩ  Bộ tư lệnh quân chủng Hải quân. Ảnh: TTXVN

Ngày 20/1, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã thăm, chúc Tết Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng, cán bộ chiến sĩ Quân chủng Hải quân, Quân khu 3.

Tại Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã nghe Đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Tư lệnh Quân chủng báo cáo thực hiện nhiệm vụ năm 2011 của toàn lực lượng. Trong năm qua, các lực lượng thuộc Hải quân Việt Nam đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh, tham gia cứu hộ cứu nạn trên biển, làm tốt công tác tuyên truyền về chủ quyền biển đảo, kỷ niệm 50 năm đường Hồ Chí Minh trên biển.

Chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam sang năm mới sức khỏe, niềm vui, đạt nhiều thắng lợi mới, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đánh giá cao quyết tâm của Hải quân Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ gìn môi trường hòa bình. Chủ tịch nước nhấn mạnh, qua các hoạt động tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo, đối ngoại quốc phòng được tăng cường, tình cảm tin yêu của người dân với Hải quân Việt Nam ngày càng tăng; uy tín Hải quân Việt Nam trên các diễn đàn khu vực được khẳng định.

Chủ tịch nước cho rằng, thời gian tới tình hình thế giới và khu vực còn diễn biến phức tạp, hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo càng đòi hỏi Hải quân nâng cao trách nhiệm trên mọi lĩnh vực hoạt động. Ông tin tưởng trong giai đoạn mới, Hải quân Việt Nam kế thừa truyền thống, cùng với tăng cường huấn luyện sẵn sàng chiến đấu sẽ tiếp tục đổi mới công tác đối ngoại quốc phòng, tạo thêm sức mạnh cho quân đội, hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Quân khu 3, Chủ tịch nước đã dâng hương tại tượng đài Bác Hồ. Chủ tịch nước đã thân ái gửi đến lực lượng vũ trang Quân khu 3 lời chúc tốt đẹp nhân dịp năm mới. Chủ tịch nước khẳng định, Quân khu 3 là địa bàn chiến lược quan trọng án ngữ hướng Đông Bắc của Tổ quốc. Nhiều năm qua, lực lượng vũ trang quân khu đã thường xuyên duy trì chế độ sẵn sàng chiến đấu, phòng chống khắc phục bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, kiểm soát các hoạt động quân sự tuyến biên giới, biển đảo, góp phần giữ vững ổn định địa bàn, đặc biệt là tuyến biên giới biển đảo, đoàn kết hữu nghị với nước bạn và bảo vệ chủ quyền đất nước.

Theo TTXVN

vietnamnet.vn

Củng cố hệ thống thông tin liên lạc: Đảm bảo an toàn cho ngư dân đi biển

Nhằm tăng cường mức độ an toàn cho những người đi biển, từ năm 1997 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 597/TTg phê duyệt hệ thống Đài TTDH Việt Nam và đầu mối quản lý, vận hành và khai thác là VISHIPEL. Hệ thống Đài TTDH được thiết lập trải dọc theo bờ biển Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên, với 32 đài, tầm phủ sóng trên 500 hải lý bao phủ các vùng biển trong nước và quốc tế. Hệ thống đài hoạt động trên tất cả các phương thức thông tin từ vô tuyến điện tới thông tin vệ tinh…

Bằng việc trực canh thu điện cấp cứu, phát các thông báo an toàn hàng hải, dự báo thời tiết, thông báo khí tượng, thông tin trợ giúp y tế 24/24 giờ trên tần số cấp cứu – khẩn cấp 7903 kHz, phương thức thoại HF, VHF, MF… gần 5 năm qua, hệ thống Đài thông tin Duyên hải Việt Nam đã góp phần tìm kiếm cứu nạn 8.062 tàu thuyền các loại, cứu sống 1.964 ngư dân Việt Nam và nước ngoài…

An toàn cho những chuyến ra khơi

Tại Hội thảo “Tổ chức thông tin liên lạc (TTLL) cho tàu thuyền đánh bắt hải sản” cuối tháng 10 vừa qua, ông Phan Ngọc Quang – Giám đốc Công ty Thông tin điện tử Hàng Hải Việt Nam (VISHIPEL) cho biết, hiện nước ta có khoảng 129.000 tàu thuyền đánh bắt hải sản các loại, trong đó có 25.000 tàu đánh bắt xa bờ và tập trung chủ yếu ở miền Trung và Nam, với hơn 700.000 lao động. Vì thế việc đảm bảo an toàn cho ngư dân đi biển, ngoài những yếu tố như cơ sở vật chất, nơi ăn chốn ở thì vấn đề TTLL là rất cần thiết. Trước đây, ngư dân thường tự trang bị máy thu tự động tiếp nhận thông tin dự báo thời tiết, thiên tai một chiều, máy chỉ bật theo giờ nhất định, không thể liên lạc về với đất liền nên đã bị thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.

Nhằm tăng cường mức độ an toàn cho những người đi biển, từ năm 1997 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 597/TTg phê duyệt hệ thống Đài TTDH Việt Nam và đầu mối quản lý, vận hành và khai thác là VISHIPEL. Hệ thống Đài TTDH được thiết lập trải dọc theo bờ biển Việt Nam từ Móng Cái đến Hà Tiên, với 32 đài, tầm phủ sóng trên 500 hải lý bao phủ các vùng biển trong nước và quốc tế. Hệ thống đài hoạt động trên tất cả các phương thức thông tin từ vô tuyến điện tới thông tin vệ tinh, đảm bảo TTLL thông suốt 24/24 giờ cho các phương tiện hoạt động trên biển.

Các thông tin cấp cứu, cứu nạn cho tàu thuyền đánh bắt hải sản được trực canh trên tần số 7903 kHz và được thực hiện đồng thời tại 19 đài TTDH và gửi trực tiếp đến các cơ quan tìm kiếm cứu nạn (TKCN) như Trung tâm Tìm kiếm cứu nạn, Trung tâm An ninh hàng hải, Cảng vụ hàng hải, Ban chỉ huy PCLB và Tìm kiếm cứu nạn (TKCN) các tỉnh, thành ven biển, Bộ đội biên phòng, hải quân… để phối hợp TKCN. Bên cạnh đó, qua phương thức thông tin DSC, thoại hoặc vệ tinh, các thông tin cấp cứu được phát ngay cho các tàu hoạt động lân cận khu vực tàu bị nạn. Ngoài ra hệ thống Đài TTDH còn là kênh thông tin phát dự báo thiên tai, thời tiết cho các phương tiện đang hoạt động trên biển trên tần số 7906 kHz và 8294 kHz. Đặc biệt khi có bão, hệ thống sẽ phát 15 phút/ phiên liên tục 24/ 24 giờ, đồng thời phát các thông tin về thăm dò dầu khí, tập trận, cướp biển…

Đài TTDH Đà Nẵng thuộc Trung tâm vùng II được đánh giá cao trong việc thông tin đúng và kịp thời, góp phần tích cực trong việc cấp cứu khẩn cấp và TKCN nhiều tàu thuyền đánh bắt hải sản quí. Chỉ trong quý III năm 2010, Đài đã trợ giúp cho 8 tàu cá các tỉnh từ Quảng Bình đến Ninh Thuận, cứu sống 41 ngư dân, giúp đỡ nhiều ngư dân gặp sự cố, tai nạn, đau ốm nặng.

Từ năm 2008, Chương trình hỗ trợ từ Quỹ Viễn thông công ích hỗ trợ trang bị lần đầu máy thu phát HF cho tàu thuyền đánh bắt hải sản xa bờ thông qua cước điện thoại tàu – bờ đã đáp ứng được nhu cầu TTLL của ngư dân với gia đình, tăng cường mối liên hệ giữa tàu thuyền đánh bắt hải sản với hệ thống đài TTDH. Nhờ đó bước đầu đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc 2 chiều của ngư dân nghèo, giúp họ thêm an toàn cho những chuyến ra khơi…

Cần có trang thiết bị đồng bộ
Đây là vấn đề nóng được nhiều lãnh đạo đài TTDH và ngư dân tại Hội thảo đặc biệt quan tâm. Thống kê của VISHIPEL, hiện nay, số tàu thường xuyên đánh bắt xa bờ có 50% đã được trang bị máy HF, số còn lại chỉ trang bị máy sóng ngắn 27MHz hoặc chưa được trang bị thiết bị thông tin nào. Các thiết bị liên lạc qua vệ tinh Inmarsat, thiết bị chỉ báo vị trí khẩn cấp tự động thì hầu như chưa được trang bị… Ngư dân Mai Văn Hòa, phường Vĩnh Thọ, TP. Nha Trang cho biết, máy HF đã giúp ông có thể liên lạc được về nhà, nhưng khi có bão, sóng lớn, đường truyền bị nhiễu, gián đoạn. Nếu xảy ra sự cố sẽ không biết kêu ai. Vì thế ông đề nghị có cách nào đó trang bị phao cứ sinh tự động cho các ngư dân đi biển.

Ông Trần Đức Lai – Thứ trưởng Bộ Thông tin – Truyền thông đề nghị, từ nay đến năm 2015, hệ thống đài TTDH cần nâng cao tốc độ, chất lượng các đường truyền kết nối chính và dự phòng; đầu tư nâng cấp một số trung tâm thu, phát để tăng cường chất lượng; triển khai các bản tin bằng tiếng Việt qua hệ thống NAVTEX, thông tin dự báo thiên tai qua máy thu tự động trên tần số 7906 kHz cho ngư dân nghèo; tăng cường chương trình TTDH trên tần số 8294 kHz nhằm nâng cao đời sống tinh thần, phổ biến kiến thức cơ bản về TTLL, pháp luật, chăm sóc y tế, thông tin ngư trường….

Đặng Trần Trung

daidoanket.vn

Video clip được trích trong bản tin thời sự tổng hợp 7h ngày 1/10/2011 của đài
Truyền hình Thông tấn xã Việt Nam.

“Vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”

Đó là lời của Trần Hưng Đạo đúc kết về nguyên nhân của chiến công lịch sử làm cho giặc Nguyên ba lần thảm bại trong thế kỷ XIII.

Phải luôn luôn làm sống động những lời tâm huyết
của Trần Hưng Đạo trong Hịch Tướng sĩ

Ảnh: T.L

“Tháng Tám giỗ cha…”, trong tâm thức người Việt tự bao đời thì ngày Giỗ Đức Thánh Trần 20 tháng Tám âm lịch có ý nghĩa thiêng liêng vào bậc nhất để tri ân vị anh hùng “bảo dân hộ quốc” trong lịch sử dân tộc.

Nếu “văn hóa là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội” thì lịch sử dân tộc có sức lay động mãnh liệt tình cảm của con người Việt Nam mọi thời đại lại có ý nghĩa hết sức quyết định đến nền tảng tinh thần ấy.

Đúng vào “tháng Tám giỗ Cha” thật xúc động nhắc lại chiến công hiển hách đánh tan đế quốc Nguyên-Mông hung hãn mà vó ngựa xâm lăng đã xéo nát nhiều vùng lãnh thổ từ Á sang Âu để rồi chỉ chịu gục ngã trên chiến trường Việt Nam. Chiến công ấy gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp vĩ đại của Trần Hưng Đạo – vị tướng duy nhất trong lịch sử dân tộc được nhân dân phong Thánh : “Đức Thánh Trần”!

Quả thật, đúng như Trương Hán Siêu viết trong “Bạch Đằng giang phú” :

Đến nay sông nước tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi.

Rồi chỉ một câu trong bài phú đã khắc họa được bản lĩnh và tài thao lược của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân:

Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng,
Bởi đại vương coi thế giặc nhàn. *Tiếng thơm còn mãi…

Những âm vang lịch sử quả là có sức lay động tâm hồn mỗi người Việt Nam có lương tri hôm nay :

“Sông Đằng một dải dài ghê,
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông.
Những phường bất nghĩa tiêu vong,
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”

Thời nào mà chẳng có “phường bất nghĩa”, thời nào chẳng có ” anh hùng”! Và rồi, ai sẽ được “lưu danh” và kẻ nào sẽ bị “tiêu vong” thì lịch sử rõ mồn một. Chính vì thế mà phải thường xuyên làm sống động lịch sử trong tâm hồn thế hệ trẻ để dòng máu anh hùng cuộn chảy trong huyết quản mọi thế hệ Việt Nam. Đừng quên rằng, “thái độ của giới trẻ với lịch sử là thước đo sự tín nhiệm chính trị với chế độ” như phát biểu của F.Mitterand, vị Tổng thống Pháp đã từng thăm Việt Nam và đến tận Điện Biên Phủ dạo nào. Bởi lẽ, lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được.

Hơn lúc nào hết phải làm sống động những lời tâm huyết của Trần Hưng Đạo trong “Hịch tướng sĩ”: “Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan này, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ-phụ,… Trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm… thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa ”.

Sẽ không hiểu rõ được tại sao quân dân đời Trần có thể ba lần đánh tan những đạo quân xâm lược hung bạo, muốn lấy thịt đè người, nếu không hiểu được cội nguồn của thắng lợi kỳ diệu là tinh thần dân tộc được khởi động và dâng cao để do đó mà “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”.

Nếu “trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm” thì làm sao người người đủ dũng khí khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát”? Trên cánh tay khắc hai chữ đó vì trong đầu đã hằn sâu một sự thật lịch sử : “Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung”. Nếu “cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù… khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ địch, giơ tay không mà chịu thua quân giặc”.

Thiên tài quân sự của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, song thiên tài ấy chỉ có thể phát huy khi dưới trướng của Ngài là những “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Nói về họ, những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… thì đã quá rõ, lịch sử còn đặc biệt nhắc lại lời Hưng Đạo nói về các gia thần dũng mãnh và trung thành của mình như Yết Kiêu, Dã Tượng : “chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ cánh. Nếu không có sáu chiếc trụ cánh ấy thì cũng là chim thường thôi ”. Và dưới trướng của Hưng Đạo Đại Vương không chỉ có Yết Kiêu, Dã Tượng mà còn có nhiều võ tướng khác nữa.

Lịch sử cũng ghi tên những văn thần như Đỗ Khắc Chung, nêu cao khí phách trong trại giặc. Khi Ô Mã Nhi ngạo ngược quát nạt : “Quốc vương ngươi vô lễ, sai người thích chữ Sát Thát, khinh nhờn thiên binh, lỗi ấy to lắm”. Khắc Chung dõng dạc đáp : “Vì lòng trung phẫn mà họ tự thích chữ thôi, Quốc vương tôi không biết việc đó. Tôi là cận thần, tại sao lại không có”. Nói rồi giơ cánh tay cho xem. Ô Mã Nhi phải thốt lên với tả hữu rằng “người này… có thể nói là không nhục mệnh vua. Nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được”.Và rồi nhớ ra, sai người đuổi theo giết, nhưng không kịp.

Khi kẻ thù nhận ra được “nước nó còn có người giỏi, chưa thể mưu tính được” cũng là lúc chúng hiểu ra rằng “những người giỏi” mà ông cha ta gọi là “nguyên khí quốc gia” ấy đã được quy tụ, phát huy để rồi từ họ mà khởi động được ý chí và sức mạnh của mọi tầng lớp nhân dân, khiến cho “cả nước góp sức”. Khi đã có điều đó rồi thì : “Nếu thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy”. Đó là lời Trần Hưng Đạo trả lời vua Trần Anh Tông lo lắng hỏi về kế sách giữ nước..

Nếu nhìn suốt những bước thăng trầm của lịch sử đất nước ta luôn nằm trong vị thế địa-chính trị “trứng chọi đá” thì những lời căn dặn ấy là sự đúc kết về quy luật giữ nước của ông cha ta. Kể từ thời Khúc Hạo [năm 907-917] với cương lĩnh dựng nước “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” trải qua các chặng đường giữ nước “từ Đinh, Lê, Lý,Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương” đều như vậy.

Đừng quên rằng, để có chiến thắng lẫy lừng : “Bắt tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội; thể lòng trời bất sát, ta cũng mở đường hiếu sinh. Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực. Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi. Nó đã sợ chết cầu hòa, ta muốn toàn quân là cốt, cả nước nghỉ ngơi” thì cũng đã có lúc ” Linh Sơn lương hết mấy tuần; khi Khôi huyện quân không một lữ”. Đừng quên trước đó đã từng có 63 cuộc khởi nghĩa bị giặc dìm trong bể máu, chỉ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi với hội thề Lũng Nhai mới hình thành nên cuộc kháng chiến trường kỳ để rồi “Mở tiệc quân chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử. Thế giặc mạnh, ta yếu mà ta địch nổi; quân giặc nhiều, ta ít mà ta được luôn”. Có được chuyện đó vì người lãnh đạo cuộc kháng chiến mười năm đã biết dựa vào lực lượng bất tận của dân, khởi động và phát huy sức mạnh cố kết dân tộc để tạo nên được “phụ tử chi binh nhất tâm” [Bình Ngô đại cáo].

Mệnh đề hàm súc này đã là bài học lịch sử được đúc kết. Từ chiến công hiển hách đời Trần thế kỷ XIII, đến cuộc kháng chiến mười năm thế kỷ XV, rồi chiến công thần tốc thế kỷ XVIII cũng khởi nguồn từ đó. Phải chăng đây là bước bứt phá trong sự vận động tự thân của sức sống dân tộc, đưa đến những hợp trội kỳ diệu trong dòng chảy của lịch sử.

Thời đoạn lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến. Việt Nam Sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau : “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng : “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”. Đã vậy thì những “thần dân” của vua đã biết cách hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều dễ hiểu. Sử chép : Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân [26 tháng 12 năm 1788], dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn ! Thử hỏi không có sức dân ấy, không có lòng dân theo về, thì làm sao có được chiến thắng thần tốc ấy!

Nguyễn Huệ “nâng quân số lên tới 10 vạn” chính là nhờ có những người “chân đất” đã biết theo mệnh lệnh của trái tim có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. Và thiên tài chính là biết phát hiện, khơi dậy và phát huy được sức mạnh vô tận của khối nhân dân vĩ đaị.

Sự thật lịch sử có lúc mờ lúc tỏ, song dòng chảy lịch sử là bất tận. Dòng cuộn chảy ấy tạo nên sức mạnh bất diệt của một dân tộc, đã từng làm nên những “Trận chiến Lịch Sử /Đã phá tung mọi xiềng xích ? như hai câu thơ lay động lòng người của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Thế hệ trẻ Việt Nam phải được tắm mình vào trong dòng chảy ấy để tự hào về ông cha mình bao đời kiên cường, bất khuất dựng nước, mở nước và giữ nước và trao lại cho thế hệ hôm nay.

GS. TƯƠNG LAI

_______________

* Khi quân Nguyên tràn sang lần thứ ba, Trần Hưng Đạo đã trấn an vua “Chuyến này dù quân Nguyên có sang đây, ta phá cũng dễ hơn phen trước, xin bệ hạ đừng lo”

daidoanket.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ cuối

Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

oOo

Ngoài các nhiệm vụ được ghi trong chính sử, đội Hoàng Sa của nhà Nguyễn còn có sứ mệnh sang Nhật và Phi Luật Tân (Philippines). Họ ra đảo cùng với bí mật quân lương và mang về những sản vật kỳ diệu…

>> Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân
>> Kỳ 2: Bí mật về cấu tạo tàu chiến

Mô hình ghe câu (khinh thuyền/lê thuyền) là phương tiện đánh bắt của ngư dân duyên hải Nam Trung Bộ và cũng là phương tiện của đội thủy binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa dùng đi làm nhiệm vụ – Ảnh: Hiển Cừ

Với kỹ thuật tàu chiến như đã đề cập ở phần trước, việc đi tới đi lui giữa đất liền với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và xa hơn nữa không mấy khó khăn. Ba bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ, hai bộ sách bí truyền khác trong hoàng tộc là Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính và Bí mật quân lương và khử uế chiến thuyền của hai vương triều Tây Sơn và Nguyễn Phúc tộc còn cho ta biết thêm nhiều bí mật thú vị về hải quân nhà Nguyễn.

Theo đó thì đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ sang Nhật Bản và Phi Luật Tân. Họ sang Nhật Bản để hợp tác huấn luyện thủy quân, vì quan hệ giữa nước ta với Nhật Bản rất thân thiện sau khi Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương gia Nhật. Các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu thêm phương cách tác chiến của thủy quân Nhật trong những trận thủy chiến với nước ngoài có tương đồng gì không với cách tác chiến của thủy quân ta để làm rõ thêm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa.

Còn họ sang Phi Luật Tân để làm gì? Ngày nay, dọc ven biển nước ta có trồng nhiều dừa. Dừa không phải là cây bản địa, đó là loại thực vật được di thực từ Phi Luật Tân sang từ thời các Chúa Nguyễn. Việc trồng dừa là theo khuyến nghị của người Nhật. Ngày xưa, trên bờ biển nơi nào có dừa chính là nơi tàu bè có thể cập vào an toàn. Chính đội Hoàng Sa đã mang những cây dừa về trồng dọc bờ biển nước ta.

Về sản vật, chính sử chỉ ghi chung chung là đội này mang về các “hóa vật”. “Hóa vật” đó gồm những gì? Đó là xà cừ, ngọc trai lộ thiên, san hô đen, san hô đỏ, tảo, vỏ hàu 9 lỗ (cửu khổng thạch khuyết minh), ốc vú nàng, chất thơm trong đầu cá nhà táng…

Ốc vú nàng và chất thơm trong đầu cá nhà táng đều là những vị thuốc quý. Ốc vú nàng được cho là có thể chữa được ung thư tụy tạng, cầm máu, chữa sốt không rõ nguyên nhân, các bệnh nhiễm trùng da và rắc rối đường huyết, bệnh phụ khoa… Vỏ ốc phải lấy vỏ từ con ốc tươi mới làm thuốc được. Cá nhà táng là một loại cá voi, chất thơm trong đầu nó được lấy khi cá đã chết hoặc do cá tiết ra trên đảo (Nhà Nguyễn, nhất là từ đời Gia Long về sau, đã cấm triệt để việc săn bắt cá voi). Chất này được ứng dụng rất hữu hiệu trong điều trị bệnh sản phụ và nhi khoa, đặc biệt trong ngừa trị tai biến mạch máu não…

Đội Hoàng Sa ra đảo mỗi năm 6 tháng, họ ăn uống như thế nào? Điều này thuộc bí mật quân lương của nhà Nguyễn. Qua sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ ta biết trên mạn thuyền của đội Hoàng Sa có trồng 7 thứ rau: rau muống, rau húng, rau lang, hẹ, hành, tỏi, me đất (đến năm Tự Đức thứ 12 có thêm rau sam bay). Đây là 7 loại rau Trung Quốc không có hoặc một số thứ có nhưng chất lượng không bằng của ta. Hẹ, hành, tỏi thì sách thuốc đã nói nhiều. Còn rau muống thì có tác dụng bổ huyết do có nhiều chất sắt, đây là loại rau di thực từ Nhật Bản sang Việt Nam thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Rau húng cân đối lượng đường trong máu, giúp tuần hoàn tim mạch, điều hòa tiêu hóa, điều hòa hô hấp, điều hòa não, nếu ăn thường xuyên từ nhỏ thì không bị trĩ… Tất cả các loại rau trên đều có tác dụng bảo vệ sức khỏe của quân dân khi ra đảo. Nhưng vì sao những thứ đó được trồng trên thuyền mà không đem trồng trên đảo? Đó là bí mật quân lương.

Họ ăn những loại rau nói trên với cá biển và nước mắm. Tuy nhiên, ăn cá biển thường xuyên sẽ không bảo đảm cho sức khỏe, cho nên lương thực – thực phẩm chính mà đội Hoàng Sa mang theo là thịt thưng và cám gạo (cám gạo, chứ không phải gạo). Các món thịt thưng chính là bí mật quân lương của quân đội nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, các vua Nguyễn sau này trong các lễ cúng tế tổ tiên bao giờ cũng có món thịt thưng.

Đó là thịt heo hoặc gà, vịt, dê… được ướp với dầu lạc (dầu ép thủ công) và nước ớt, cho muối hột và nước mắm với độ mặn gấp 3 lần so với kho thịt bình thường, cho nước ngập xăm xắp, đun nhỏ lửa cho đến khi khô hết nước. Thịt này cho vào một cái hộp đậy kín, có thể để hàng năm không hỏng. Do để lâu không hỏng nên nó mới dùng làm quân lương.

Thịt thưng ăn vào cân bằng tiêu hóa, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột và giá trị dinh dưỡng đạt đến tối ưu trong điều kiện đi xa trên biển. Còn cám gạo thì ngày nay khoa học khẳng định nó là tinh hoa của lúa gạo. Dùng cám gạo thay cho gạo vừa đạt giá trị dinh dưỡng tối đa vừa không chiếm nhiều chỗ chứa khi ra biển đảo. Mỗi thành viên trong đội Hoàng Sa được cấp một cái hộc có nắp ép như cái hộc làm bánh, mỗi bữa ăn cho cám gạo vào hộc, bỏ vài miếng thịt thưng vào giữa, ép lại thành một chiếc bánh. Cộng thêm một ít rau là đủ cho một bữa ăn không thiếu một chất dinh dưỡng nào.

Do không có nhiều nước ngọt, nên ra Hoàng Sa, Trường Sa, người xưa ăn nước mắm chứ không ăn muối. Ăn nước mắm tốt hơn ăn muối, tăng cường sự dẻo dai của thủy binh.

Điều đặc biệt là nước mắm cũng có thể dùng để… giải khát. Trên một tảng đá nghiêng, khi trời nắng lấy nước mắm thoa lên đá phía mặt trời chiếu vào, nước mắm khô sẽ bám vào mặt đá. Đêm xuống, lấy đồ hứng những giọt sương rơi trên đá chảy qua chỗ có thoa nước mắm. Khi khát nước, thấm một ít nước này vào miệng, thứ nước đó đủ cho tuyến giáp trạng điều tiết dịch, không gây ra những cơn phiền khát. Vì vậy, uống ít nước vẫn không thấy khát.

Trên đảo có một thứ rau mà ngày nay không ai nghĩ là ăn được, vì ăn vào sẽ bị say. Đó là rau muống biển. Nhưng ngày xưa, đội Hoàng Sa của chúng ta vẫn ăn được thứ rau này. Sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính có chỉ rõ y lý của rau muống biển và cách chế biến với nhiều công đoạn phức tạp nhưng có thể thực hiện được trên đảo. Ăn rau muống biển được chế biến đúng cách, phòng tránh được nhiều bệnh thông thường, tăng sự dẻo dai cho cơ thể, đặc biệt nó tránh được những cơn say sóng nặng, bởi vậy mà sách này gọi nó là một vị thuốc mang tên “Cứu mệnh thảo”. Người viết bài đã chế biến rau muống biển theo đúng cách hướng dẫn và đã ăn nó trước khi viết loạt bài này.

Trên đây là những tư liệu mới mẻ. Trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu sơ qua. Từ một nguồn, đã hé mở biết bao điều kỳ thú. Chắc chắn còn rất nhiều tài liệu đang tản mát trong các gia đình, hy vọng các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, thu thập để xác minh, tổng kết.

Hoàng Hải Vân

thanhnien.com.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ 2

Bí mật về cấu tạo tàu chiến

oOo

“Người Hà Lan… qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển” – Giám mục De Rhodes.

>> Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân

Theo tài liệu bí truyền trong hoàng tộc Nguyễn, tàu hơi nước dù rất hiện đại, nhưng cũng chỉ dùng để vận tải, không dùng làm tàu chiến. Ngay cả các thủy sư người Pháp phục vụ cho hải quân nhà Nguyễn, trong trận hải chiến lừng danh là trận Thị Nại, họ cũng chỉ làm nhiệm vụ tải lương, tức là chỉ đóng vai hậu cần. Bởi vậy mà theo Barrow, trong số 26.800 lính hải quân, chỉ có 1.200 người phục vụ trên các tàu đóng kiểu châu Âu.

Tái hiện thao diễn thủy binh thời Nguyễn tại Festival Huế 2010 – Ảnh: Bùi Ngọc Long

Tàu thuyền chạy bằng buồm cũng vậy. Dù có kết cấu hết sức linh hoạt, vỏ tàu có 3 lớp, tàu lớn tải trọng có thể trên 40 tấn, có 22 khoang, mỗi khoang đều có phao làm bằng thao tằm, có trụ trung tâm điều khiển cột buồm bằng con quay để giữ thăng bằng và bảo đảm quan sát được 4 hướng, dưới chân cột buồm có dàn xạ tiễn bắn tự động để đối phó mỗi khi bị tàu địch tấn công. Tàu buồm này chịu được sóng gió cấp 5. Tuy nhiên, tàu chạy bằng buồm cũng chỉ được dùng làm tàu vận chuyển và… nghi binh mà thôi.

Tàu chiến của nhà Nguyễn toàn bộ làm bằng tre và chỉ dùng mái chèo. Nghe thì tầm thường, nhưng sự vô song chính là ở đó. Tuy dùng bằng mái chèo nhưng có thể lướt sóng với tốc độ nhanh hơn tàu chạy bằng hơi nước, lại linh hoạt hơn và cơ động thiện chiến hơn nhiều. Vì sao vậy?

Để khỏi mang tiếng tự đề cao dân tộc mình, xin hãy nghe “Tây” nói về những chiếc thuyền chiến bé nhỏ của ta đánh thắng hạm đội Hà Lan trước đã. Tường thuật lại trận hải chiến năm 1643, trong cuốn Những người châu Âu ở nước An Nam, Charles B. Maybon, một học giả người Pháp viết:

“Ba tàu dưới sự chỉ huy của Pierre Baeck được phái đi từ Jambee (Sumatra) vào cuối năm 1643. Đến ngang tầm “Bốn mũi” (Quatre Caps), người Hà Lan phải chịu đựng đòn tấn công của chừng 60 thuyền chiến Đàng Trong, mà theo Thực lục là dưới quyền chỉ huy của Thế tử, tức Hiền Vương sau này. Tàu đô đốc, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles). Theo cha De Rhode, một trong hai tàu ấy do bị người Đàng Trong đuổi đánh đã va phải đá ngầm vỡ tan, còn chiếc kia chạy thoát được…”. (Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về trận đánh này trong bài Tàu to súng lớn vẫn thuaThanh Niên số ra ngày 4.8.2011).

Người ta cũng nhầm tưởng hải quân nhà Nguyễn thường dùng vũ khí là đại bác và súng ống phương Tây. Các thủy sư đô đốc nhà Nguyễn hiểu rằng bắn đại bác từ tàu chiến chỉ để thị uy chứ ít chính xác, nên hải quân nhà Nguyễn sử dụng chủ yếu 3 loại vũ khí: súng phun lửa, nỏ liên châu và ống phóng hơi cay. Súng phun lửa có thể sử dụng khi cận chiến cự ly 15m. Nỏ liên châu thì một phát bắn ra 20 mũi tên có thể trúng chính xác ở cự ly trên 100m. Khi xung trận, đầu tàu có thể biến thành đuôi tàu và ngược lại nên cơ động trong mọi tình huống.

Maybon dẫn lời nhà truyền giáo De Rhodes kết luận về trận hải chiến này như sau: “Người Hà Lan… qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển”.

Theo tài liệu lưu giữ trong gia đình ông Ưng Viên, tàu chiến (gọi chính xác là thuyền chiến) nhà Nguyễn, loại lớn nhất dài 30m, ngang 12m; loại nhỏ nhất dài 3m, ngang 1,2m. Vỏ tàu có 3 lớp, tất cả làm bằng tre trét bằng dầu rái và vài loại thực vật khác, các khoang tàu cũng có phao làm bằng thao tằm giống như tàu chạy buồm.

Toàn bộ thủy quân chỉ có một soái hạm, dài 50m, ngang 12m. Người phương Tây rất muốn quan sát được chiếc soái hạm này nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy, vì nó có cấu tạo đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những tình huống cần thiết, trong điều kiện bình thường nó được tách ra thành những chiếc tàu chiến nhỏ.

Tàu chiến lớn có 12 tay chèo, chia thành 3 cụm, mỗi cụm có 4 tay chèo, 1 cụm bố trí ở mũi tàu, 2 cụm bố trí ở khoảng 1/3 thân tàu tính từ phía sau. Điều thú vị là các tay chèo này không phải dùng mái chèo tác động xuống nước để đẩy thuyền đi như thuyền chèo thông thường mà việc “chèo” này là để làm quay một hệ thống ròng rọc nối liền với các quạt nước, chính những cái quạt nước này vừa nâng tàu lên vừa đẩy tàu đi giống như tàu máy hiện đại nhưng linh hoạt hơn nhiều. Mỗi cụm tuy có 4 tay chèo, nhưng chỉ có 3 quạt nước nối với 3 tay chèo thông qua ròng rọc, tay chèo còn lại có vị trí độc lập, nhiệm vụ của anh ta là điều chỉnh để cân bằng hệ thống, việc của anh ta nhẹ nhàng hơn 3 anh kia, nhưng khi gặp sự cố, một mình anh ta sẽ làm chạy một lúc 3 cái quạt nước, do mái chèo của anh ta gắn với sự chuyển động đồng thời của 3 cái quạt này.

Thuyền mông đồng (hai đáy) khắc trên Chương đỉnh – Nguồn: COVATHUE.COM

Khi 3 cụm chèo đồng thời được nâng lên bởi tay chèo điều chỉnh hệ thống, lập tức tàu chạy lướt trên mặt nước, nghệ thuật lướt này nhờ vào 2 tay chèo số 4 phía sau điều chỉnh cho bánh lái không ghì đuôi tàu xuống, đồng thời giữ thăng bằng khi tàu lướt sóng. Vì vậy mà tàu chiến có thể vượt qua được mọi điều kiện thời tiết, với tốc độ và sự linh hoạt khiến cho đối phương phải kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng.

Điều đặc biệt là toàn bộ chất liệu làm tàu chiến không dùng đến sắt thép, kể cả cánh quạt, đinh, chốt, vít. Các liên kết đều dùng mộng, các chốt liên kết làm bằng một loại gỗ tên là gỗ xây cực kỳ bền chắc. Hy vọng từ những tài liệu nói trên kết hợp với các tài liệu khác có thể tìm được, các nhà nghiên cứu và chế tạo có thể tái tạo những chiếc tàu để xác nhận tính năng của nó.

Tàu chiến của hải quân nhà Nguyễn là niềm tự hào của quân dân ta. Khi vua Gia Long đưa thủy quân ra Bắc, lúc đội tàu chiến tiến đến Nam Định, dân chúng nhìn tàu lướt trên sóng đã thán phục gọi là “thần binh”.

(còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

>> Kỳ 3: Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

thanhnien.com.vn

Bí mật hải quân nhà Nguyễn – Kỳ 1

Từ thủy quân đến hải quân

oOo

Nhân việc sưu tầm, nghiên cứu những tư liệu liên quan đến việc mở cõi của nhà Nguyễn, chúng tôi có dịp tiếp cận với một số tư liệu được bảo tồn trong hoàng tộc giúp chúng ta có cái nhìn liên kết giữa sức mạnh hải quân nhà Nguyễn với việc thực hiện chủ quyền biển đảo.

Trước hết, nhà Nguyễn, từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trở đi, khi đưa dân tộc tiến về phương Nam, mỗi bước chân của tiền nhân không chỉ là đi “mở đất” mà đồng thời còn thực hiện chủ quyền biển đảo. Muốn vậy, nhà Nguyễn phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Mà muốn có một lực lượng hải quân hùng mạnh thì phải có 3 yếu tố vượt trội: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương.

Từ một mảnh đất phía sau dãy Hoành Sơn, các Chúa Nguyễn đã không dừng lại ở cái mơ ước “vạn đại dung thân” bé nhỏ cho mình mà còn cùng với dân tộc nhân đôi nước non bờ cõi, phía nam mở nước dài đến mũi Cà Mau, phía đông làm chủ một vùng biển rộng lớn với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Vua Gia Long từng nói: “Thủy chiến là sở trường của ta”.

Thuyền bọc đồng thời Minh Mệnh được chạm trên Cao đỉnh – Nguồn: Covathue.com

Thủy chiến vốn là thế mạnh của dân tộc. Nước Đại Việt ta đã dùng thủy chiến để đánh tan những đội quân xâm lược hùng mạnh. Tuy nhiên, những trận đại thắng trên sông Bạch Đằng cùng các trận Chương Dương, Hàm Tử… lừng danh trên thế giới đều là giang chiến. Riêng trận Vân Đồn, nơi Trần Khánh Dư tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên Mông là trận đánh trên biển đầu tiên, nhưng cũng là một trận “duyên chiến”. Đến thời các Chúa Nguyễn, thủy chiến đã được nâng lên một tầm cao mới – hải chiến.

Trận hải chiến đầu tiên được lịch sử ghi nhận là trận do Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần khi ấy còn là thế tử chỉ huy, đánh tan một hạm đội của Hà Lan đến hải phận nước ta “gây hấn” vào năm 1643 (Thanh Niên đã đăng trong bài Tàu to súng lớn vẫn thua, số ra ngày 4.8.2011). Trước đó, vào năm 1585, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên khi ấy còn là một hoàng tử, đã đánh tan một đội tàu chiến 6 chiếc của Nhật Bản (Đại Nam thực lục gọi đây là tàu của “tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý”, có tài liệu nói đây là tàu Kenki của Nhật Bản) đến cướp bóc vùng ven biển Cửa Việt, nhưng trận này cũng là một trận “duyên chiến”.

Có thể nói Hải quân Việt Nam được khai sinh từ trận đánh thắng đội tàu chiến Hà Lan, vốn là nước có đội tàu chiến hiện đại nhất phương Tây lúc bấy giờ.

Không chỉ đánh thắng tàu chiến Hà Lan và Nhật Bản, hải quân nhà Nguyễn còn đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch mọi loại giặc biển đến từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Hệ thống phòng thủ bờ biển được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, không chỉ Phú Quốc, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa mà hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển đều được tiếp quản, thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật, suốt mấy trăm năm không để mất một tấc đảo, một khoảnh nước nào. Trên cơ sở phòng thủ vững chắc, nhà Nguyễn đã thiết lập các tuyến hải hành và mở rộng giao thương với nước ngoài. Tàu thuyền nước ngoài đến tấp nập ở Hội An và các thương cảng; tàu thuyền nước ta cũng cập bến ở nhiều nước Á, Âu. Khiêm cung hòa hiếu nhưng dũng mãnh cương cường, không hại ai nhưng nhất quyết không để ai hại mình, đó là thế đứng vững chắc của nước ta một thời giữa thiên hạ.

Tàu thuyền quân sự và dân sự của nhà Nguyễn gồm 3 loại: tàu thuyền dùng mái chèo, tàu thuyền dùng buồm và tàu bọc đồng chạy hơi nước. Tàu bọc đồng chạy hơi nước có từ thời Vua Gia Long, nói theo ngôn ngữ bây giờ thì nhà Nguyễn đã sớm hiện đại hóa tàu thuyền ngang với thế giới.

J.Barrow trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793 đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội nhà Nguyễn thời Vua Gia Long: Tổng quân số 139.800 người, riêng hải quân có 26.800 người.  Barrow còn ghi thêm về việc “hiện đại hóa” hải quân của Gia Long: “Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”.

Nhìn vào những tài liệu đã ghi chép, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhầm tưởng sức mạnh hải quân của nhà Nguyễn chính ở sự “hiện đại hóa” đội tàu theo kiểu châu Âu. Nhưng sự thật không phải vậy. Hiện đại theo cách của người ta thì không bao giờ bằng người ta được, chưa nói đến việc hơn người ta.

Sức mạnh hải quân Nhà Nguyễn nằm ở 3 yếu tố nổi trội nói ở đầu bài: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương. Cả ba đều là bí mật, không ghi trong sử sách (nếu ghi thì còn gì là bí mật). Chưa ai tìm ra được các tài liệu nói về 3 yếu tố trên, thậm chí cả những hình vẽ và ảnh chụp các tàu chiến nhà Nguyễn cũng không thấy để lại, ngoài một cuốn binh pháp là cuốn Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, trong đó có đề cập đến các trận pháp và kỹ thuật thủy chiến nhưng cũng không đề cập đến 3 yếu tố trên.

Rất may là các bí mật này vẫn còn lưu lại trong dòng tộc, được ghi khá tường tận trong một cuốn sách bí truyền: Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ, cuốn sách hiện vẫn còn được lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, một hậu duệ của Vua Minh Mệnh (ông Ưng Viên gọi Vua Minh Mệnh bằng ông cố).

Đại Nam thực lục tiền biên có ghi rõ lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22.740 quân, bao gồm:

– Cơ Trung hầu 10 thuyền 300 người;
– Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3.280 người;
– 2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người;
– Nội thủy 58 thuyền, 6.410 người;
– Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người;
– Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người;
– 2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người;
– Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2.700 người;
– 4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1.100 người;
– 4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người;
– 8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2.100 người;
– Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người;
– 4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người;
– Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.

(Còn tiếp)

Hoàng Hải Vân

>> Kỳ 2 : Bí mật về cấu tạo tàu chiến

thanhnien.com.vn

Tổ tiên ta giữ nước


Mỗi quốc gia có truyền thống dựng nước và giữ nước riêng. Ở vào một vị trí địa lý tự nhiên nhiều thuận lợi, lại phong phú tài nguyên khoáng sản nên việc dựng nước của Việt Nam đã khó, việc giữ nước càng khó hơn bội phần.

[Bài 1: Đặc sắc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam]
[Bài 2: Hòa hiếu – bản chất của dân tộc Việt Nam]
Bài 3: Một số chiến công hiên hách chống ngoại xâm
[Kỳ 1: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán nối lại nền độc lập]
[Kỳ 2: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư]
[Kỳ 3: Giặc dữ Mông – Nguyên ba lần đại bại]
[Kỳ 4: Lê Lợi – 10 năm trường kỳ kháng chiến quét sạch giặc Minh xâm lược]
[Kỳ 5: Quang Trung – 40 ngày thần tốc đại phá quân Thanh]
[Kỳ 6: Hào khí thời đại Hồ Chí Minh]
Bài 4: Kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập
[Kỳ 1: Chống phương Bắc đồng hóa – một sự thật kỳ diệu]
[Kỳ 2: Khoan thư sức dân – Quốc sách dựng nước và giữ nước]
[Kỳ 3: Hiền tài là nguyên khí quốc gia]
[Kỳ 4: Ông cha ta chống tham nhũng]
[Kỳ 5: Bài học vô giá: Đại đoàn kết dân tộc]
[Bài cuối: Sự kết tinh truyền thống giữ nước của dân tộc]

Chân lý “Sông núi nước Nam vua Nam ở” đã được tổ tiên ta tuyên ngôn hào sảng, từ đầu thiên niên kỷ thứ hai. Sau ngót ngàn năm, Hồ Chủ tịch tái khẳng định lại chân lý hiển nhiên và đanh thép: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Từ số báo này, Đại Đoàn Kết khởi đăng loạt bài: “Tổ tiên ta giữ nước” để mong sao góp một phần học hỏi những kinh nghiệm giữ nước của tổ tiên. Loạt bài sẽ đề cập đến những nét đặc sắc của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; khẳng định bản chất hòa hiếu của dân tộc Việt; nhấn mạnh tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc ngoại xâm, đặc biệt là làm nổi bật những kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước.

Đại Đoàn Kết

Bài thơ thay lời hàng chục triệu dân Việt về Biển Đông

Bài cuối: Sự kết tinh truyền thống giữ nước của dân tộc

Năm 1954, trên đường về Thủ đô, nói chuyện với các chiến sĩ Đại đoàn Quân tiên phong tại Đền Hùng, Bác Hồ nhấn mạnh: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Những bài học lịch sử của dân tộc đã được kết tinh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ nước, bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

Việt Nam từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên bao trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước. Trang sử giữ nước thật oai hùng, nhưng cũng thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt. Chúng ta hiểu điều đó, và bởi thế không khi nào chúng ta muốn chiến tranh. Chúng ta khát khao hoà bình, và có lẽ không có dân tộc nào muốn có hoà bình lại phải trải qua mất mát, hy sinh to lớn đến như thế! Nhưng chính giữ nước trong hoàn cảnh lịch sử ngàn năm ấy dạy chúng ta biết khoan dung, biết khép quá khứ, hướng tới tương lai, đồng thời cũng cho chúng ta bài học biết cầm vũ khí đánh giặc và thắng giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc.

Đoàn đại biểu 54 dân tộc trước bia chủ quyền đảo Song Tử Tây 3

Không phải chỉ những nhà nghiên cứu nước ngoài về Việt Nam, mà ngay chính chúng ta – những người Việt Nam cũng có lúc tự hỏi : vì sao chúng ta lại phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh giữ nước đến vậy?

Trước tiên hãy phân tích nguyên nhân khách quan từ bên ngoài qua các thời kỳ.

Thời trung cổ, các Nhà nước phương Bắc được hình thành và xây dựng trên lưng ngựa, nghĩa là bằng sức mạnh quân sự, tiến hành các cuộc chiến tranh chinh phục, chiếm lãnh thổ, xoá các Nhà nước yếu, sáp nhập vào nước mình, thống nhất thiên hạ. Tần Thuỷ Hoàng thống nhất thiên hạ như thế nào là một ví dụ. Hốt Tất Liệt chiếm Trung Nguyên lập nhà nước Đại Nguyên như thế nào lại là một minh chứng khác. Nhà Thanh chiếm Trung Quốc, sáp nhập vào Mãn Châu lập triều đại Mãn Thanh lại có kết cục lịch sử không còn Nhà nước Mãn Châu! Tuy kết cục có khác nhau, nhưng đánh chiếm đất đai, thâu tóm thiên hạ là trào lưu tư tưởng phổ biến của các triều đại phong kiến phương Bắc, kéo dài hàng ngàn năm hun đúc thành thứ chủ nghĩa nước lớn, chủ nghĩa dân tộc Đại Hán theo hướng tiêu cực mà vẫn có người trong thời hiện đại chưa trút bỏ được. Việc đánh chiếm Đại Việt ( nước Việt Nam xưa), phần nhỏ còn lại của Bách Việt như là yêu cầu tất yếu khẳng định vị thế thiên triều và mục đích mở mang bờ cõi. Hơn nữa, Đại Việt nằm án ngữ con đường xuống vùng Đông Nam Á cả về đường bộ và đường thuỷ, như một vật cản tự nhiên đối với mưu đồ bành trướng của các triều đại phong kiến phương Bắc. Bởi vậy, việc đánh chiếm Đại Việt vừa là mục tiêu trước mắt, vừa là chiến lược lâu dài thực hiện mưu đồ bành trướng của các triều đại phong kiến phương Bắc. Ngoài nguyên nhân trên, còn một nguyên nhân khác là nội bộ các triều đại phong kiến phương Bắc thường diễn ra các cuộc chiến sinh tử giành ngôi vị và quyền lực, để giải quyết nó có một biện pháp tàn độc và ích kỷ đối với các dân tộc khác là giải quyết cuộc chiến nội bộ bằng cuộc chiến bên ngoài. Chính vì thế mà nước Đại Việt xưa luôn phải đương đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược từ Bắc phương.

Thời hiện đại, khi các nước tư bản phương Tây có nền công nghiệp và thương mại phát triển mạnh mẽ, đua nhau tìm kiếm thị trường và tài nguyên vì thế chiếm thuộc địa để có tài nguyên và thị trường là cách thức mới của chủ nghĩa đế quốc. Cách thức ăn cướp đất đai, tài nguyên và thị trường của chủ nghĩa thực dân cũ làm cho những nước đế quốc sinh sau hết phần ăn chia béo bở đã đẻ ra chủ nghĩa phát xít mà mục đích chủ yếu là phân chia lại thị trường thế giới. Các nước kém phát triển ở châu Á, kể cả Trung Quốc lần lượt trở thành miếng mồi ngon của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa phát xít mới. Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam không thoát khỏi chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Vậy là gần một thế kỷ đánh Pháp rồi đứng về phe đồng minh đánh Nhật, tiếng súng không lúc nào ngớt trên dải đất hẹp bên bờ Biển Đông, làm cho nhân dân Việt Nam phải chịu biết bao tổn thất về người và của. Có dân tộc nào vừa thoát khỏi tay phát xít Nhật lại lọt vào tay thực dân Pháp để phải làm cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm mới có hoà bình trên một nửa nước như Việt Nam không?! Tưởng rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu góp phần chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ sẽ đến ngày Tổng tuyển cử Bắc Nam thống nhất, Việt Nam hoà bình, độc lập tự do, nhưng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lại làm cho nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt nhất thế kỷ XX. Cuộc chiến tranh này còn có ý nghĩa ” ai thắng ai” giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, nên tính huỷ diệt bởi vũ khí hiện đại của hai phe đã đẩy chiến tranh tàn khốc không kém chiến tranh thế giới lần thứ hai.

Theo dòng sự kiện ta thấy, với vị trí địa lý đặc biệt của mình, Việt Nam trở thành mục tiêu phải đánh của chủ nghĩa bành trướng, thôn tính các quốc gia nhỏ yếu lân bang thời trung cổ; Mục tiêu phải xâm chiếm của chủ nghĩa thực dân cũ và phát xít mới; Nơi đụng độ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa chủ nghĩa thực dân mới và phong trào giải phóng dân tộc.

Vậy là, chiến tranh từ bên ngoài như tất yếu “định mệnh” cho Việt Nam phải nếm trải. Tuy nhiên, cũng có những nguyên nhân chủ quan của các triều đại phong kiến Việt Nam dẫn đến các cuộc chiến tranh xâm lược.

Các triều đại phong kiến Việt Nam được lòng dân đã xây dựng nền thái bình thịnh trị, khi ấy địch có mạnh đến đâu cũng không dám phát động chiến tranh. Nếu có liều lĩnh phát động chiến tranh, đều bị đánh bại nhanh chóng, thậm chí còn bị đánh ngay khi chưa kịp châm ngòi chiến tranh xâm lược. Những sự kiện thời Lý, Trần đánh bại mưu đồ xâm lược của Tống, Nguyên minh chứng cho điều đó.Tiếc rằng, vua quan phong kiến khi tha hoá đã bóc lột, đàn áp nhân dân, nội bộ chia bè, kết phái, tranh quyền, đoạt vị… người trung thực vì dân, vì nước không được dùng, kẻ nịnh trên, nạt dân chiếm ưu thế làm cho thế nước suy yếu, kẻ địch lợi dụng mà phát động chiến tranh xâm lược. Lại thêm, trong cuộc chiến giành ngôi vị, có kẻ vì lợi ích riêng của mình đã cam tâm bán rẻ lợi ích dân tộc, ” cõng rắn cắn gà nhà” như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Hồ Quý Ly thoán ngôi nên đã mất lòng dân, mặc dù có những cải cách tiến bộ, chuẩn bị quốc phòng chu đáo nhưng vẫn là cái cớ để nhà Minh phát động chiến tranh xâm lược nước ta. Thời Lê – Trịnh, Trịnh – Nguyễn phân tranh là cơ hội tốt cho nhà Thanh xâm lược. Rồi phe chủ hòa nhà Nguyễn hèn nhát, không dám sống chết cùng toàn dân chống ngoại xâm nên mới mất nước vào tay thực dân Pháp để lại tiếng xấu trong lịch sử.

Nói tóm lại, thế lực cầm quyền thối nát, mâu thuẫn nội bộ, khối đoàn kết toàn dân bị lung lay là nguyên nhân chủ quan tạo cơ hội cho kẻ thù phát động chiến tranh xâm lược.

Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã phân tích, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng đã biết chiến đấu ngoan cường viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ để giải phóng dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam. Ôn lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ kinh nghiệm xương máu của cha ông trong đấu tranh giữ nước.

Ta chiến thắng trước tiên bởi ta chính nghĩa. Một dân tộc mà theo đạo lý nhân sinh phải được sống trong hoà bình, độc lập và tự do! Một nước ” vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia”, biên giới, lãnh thổ “rành rành định phận tại sách Trời” đứng lên quyết giữ vững độc lập tự do của mình là điều chính nghĩa không thể chối cãi. Một dân tộc có truyền thống lâu đời với ý chí sắt đá ” thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”; ” thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê.”; ” Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Dân tộc ấy không có sức mạnh nào khuất phục được.

Ta chiến thắng còn bởi vì ta biết ” lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân thay cường bạo”. Sức mạnh của người khát khao hoà bình độc lập chống lại kẻ hiếu chiến bạo tàn đã làm nên chiến thắng tưởng như huyền thoại. Huyền thoại ấy là chuyện Thánh Gióng lớn nhanh như thổi với gậy sắt, giáp sắt, ngựa sắt phun ra lửa đánh tan giặc Ân, huyền thoại ấy là chuyện nỏ thần Cổ Loa, gươm thần của Lê Lợi, Quang Trung thần tốc tiến ra Thăng Long hẹn ăn Tết sau đại phá quân Thanh… Và huyền thoại ngay trong thời hiện đại với “Điện Biên Phủ trên không” giữa Thủ đô Hà Nội ta bắn hạ pháo đài bay B52 biểu tượng sức mạnh không lực Hoa Kỳ. Huyền thoại con đường Hồ Chí Minh trên biển với những con tàu không số nhỏ bé và thô sơ đã chở hàng trăm tấn vũ khí từ Bắc vào Nam chi viện cho tiền tuyến. Chiến thắng của người tự vệ phải ” lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh” như huyền thoại vì không thể dùng phép tính thông thường để đo sức mạnh làm nên chiến thắng, mà phải dùng sự thông tuệ của lý trí, sự nhạy cảm của trái tim mới hiểu được sức mạnh thần kỳ làm nên chiến thắng của dân tộc Việt Nam với một nền văn hoá lâu đời. Nhà chiến lược quân sự tài ba một thời của Hoa Kỳ, ngài Mc. Na- ma- ra đã phải thú nhận trong hồi ký của mình về thất bại trong chiến tranh Việt Nam có nguyên nhân từ sự ” không hiểu văn hoá Việt Nam”!

Sức mạnh thần kỳ Việt Nam là bởi sức mạnh ấy được hun đúc và nhân lên gấp bội từ đời này qua đời khác, và vì nó là sức mạnh của chiến tranh nhân dân thần thánh. Nhân dân bao giờ và ở đâu cũng là sức mạnh vô địch. Chiến tranh nhân dân sản sinh ra muôn vạn anh hùng! Chiến tranh nhân dân sáng tạo vô tận cách thức đánh giặc và thắng giặc mà không có sách nào ghi hết được.

Và cuối cùng ta chiến thắng bởi vì “mỗi khi đất nước bị xâm lăng” thì sức mạnh đại đoàn kết dân tộc sẽ kết lại thành làn sóng có sức nhấn chìm mọi kẻ thù xâm lược.

Người viết muốn nhấn mạnh điều có ý nghĩa lớn lao và thiết thực đối với chúng ta hôm nay là những bài học lịch sử của dân tộc đã kết tinh trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về giữ nước độc lập tự do. Nổi bật hàng đầu và xuyên suốt Tư tưởng ấy là tư tưởng Đại Đoàn Kết. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết! Thành công, thành công, đại thành công!”. Đoàn kết, trước tiên là đoàn kết đồng bào cùng là con cháu Lạc Hồng, không phân biệt giàu nghèo, đảng phái, tôn giáo, nam, nữ… hễ là người Việt Nam yêu nước thì liên kết lại thành một khối thống nhất toàn dân tộc, chống kẻ thù xâm lược. Tinh thần đoàn kết ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi huy hoàng, giành độc lập tự do cho dân tộc. Đại đoàn kết còn là đoàn kết với nhân dân các nước, với các lực lượng hoà bình tiến bộ trên thế giới. Đặc biệt vào các giai đoạn có tính bước ngoặt lịch sử, phải biết đứng về phía chính nghĩa, để có thêm sức mạnh đánh kẻ thù chung. Việt Nam đứng về phe đồng minh chống phát xít là một sự sáng suốt.

Đối với Đảng, lời cuối cùng Bác căn dặn: “Phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” đủ cho thấy ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng Đoàn kết quan trọng đến như thế nào. Đảng là đội tiên phong, là tổ chức lãnh đạo toàn xã hội không thể mất đoàn kết vì mất đoàn kết là mất tất cả. Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc đã cho ta bài học về điều đó. Những kẻ có dã tâm đánh chiếm nước ta, chỉ chờ nội bộ ta bất hoà là chúng đã có thể khai thác chia rẽ để chèn ép. Nếu có kẻ “cõng rắn cắn gà nhà” kiểu Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, hay nhu nhược đớn hèn như phái chủ hoà của nhà Nguyễn, các phần tử hiếu chiến sẽ chớp cơ hội phát động chiến tranh xâm lược. Từ bài học xương máu của lịch sử, hơn lúc nào hết chúng ta cần đoàn kết trong Đảng từ Trung ương tới các chi bộ, xây dựng Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, kiên quyết loại bỏ những phần tử thoái hoá, tham ô, nhũng nhiễu làm mất lòng dân, xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, mở rộng hợp tác quốc tế, kiên trì chính sách ngoại giao đa phương với tôn chỉ ” Việt Nam là bạn đáng tin cậy của cộng đồng quốc tế”, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của tất cả các nước, các tổ chức, cá nhân vì độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của chúng ta. Hiện nay tình hình quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, nơi này, nơi kia còn có chiến tranh, cơn khát dầu mỏ và tài nguyên có vẻ đang trỗi dậy khiến cho chạy đua vũ trang như đang được khởi động… Tuy nhiên, tư tưởng dùng sức mạnh quân sự để thôn tính một quốc gia có chủ quyền hay chiếm đất, chiếm tài nguyên bằng sức mạnh quân sự đã quá lỗi thời, nếu còn đọng lại chỉ là số ít những phần tử hủ lậu, hiếu chiến và thiển cận mà thôi. Lãnh đạo các nước trong khối ASEAN, đặc biệt các nước láng giềng của Việt Nam như Trung Quốc, Lào, Campuchia đều đủ sáng suốt để nhận thấy rằng hoà bình, hữu nghị là lợi ích của tất cả các bên, là tiền đề của sự phát triển. Quán triệt Tư tưởng Đại đoàn kết Hồ Chí Minh trước hết phải làm cho dân được tự do, ấm no, hạnh phúc, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Trong điều kiện ngày nay, đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế sẽ cho ta sức mạnh ngăn chặn ngay từ đầu mưu đồ đen tối, thiển cận, hẹp hòi của những phần tử hiếu chiến, kém hiểu biết lịch sử, tư duy lỗi thời, trái với xu thế hoà bình, dân chủ và phồn vinh chung. Tinh thần Đại đoàn kết vì độc lập tự do là sức mạnh vô địch của dân tộc Việt Nam cho chúng ta niềm tin vào tương lai một Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

TS Nguyễn Viết Chức

Cùng bạn đọc !

Kể từ ngày 12-9-2011, Đại Đoàn Kết đã khởi đăng loạt bài với chủ đề “Tổ tiên ta giữ nước”, đến số báo hôm nay Đại Đoàn Kết đã đăng nhiều bài của các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo… về chủ đề này. Những bài viết đó đã đề cập từ những vấn đề chung như nét đặc sắc của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, tư tưởng hòa hiếu Việt Nam đến những vấn đề cụ thể như những chiến công hiển hách chống ngoại xâm trong lịch sử Việt Nam; đặc biệt là nêu bật kế sách xây dựng đất nước, củng cố nền độc lập từ các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần… đến thời đại Hồ Chí Minh.

Mặc dù kết thúc loạt bài song chúng tôi cũng như bạn đọc luôn nhận thức rằng, các bài học trong quá trình dựng nước và giữ nước của tổ tiên ta luôn có giá trị trường tồn, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc như Đại hội lần thứ XI của Đảng đề ra.

Xin trân trọng cảm ơn bạn đọc, các cộng tác viên đã gửi bài viết và đã góp ý kiến cho chúng tôi về chủ đề “Tổ tiên ta giữ nước”. Do khuôn khổ có hạn của báo, chúng tôi không thể đăng tất cả các bài được gửi đến, mong bạn đọc thông cảm và tiếp tục cộng tác với báo trong thời gian tới.

Đại Đoàn Kết